Hoa Ban Không TànCh.16 / 38
Chapter 16

Dòng lệnh đầu tiên

Tôi cúi sát vào chiếc màn hình đen ở góc phòng máy tạm của trường bản, thấy mặt mình méo trong lớp kính, còn thầy Dũng chỉ hỏi: một cái máy cần được nói chuyện bằng cách nào?

Lớp kính lồi phủ một màn bụi xám đục, in mờ bóng hình thằng bé mười hai tuổi gầy gò với manh áo chàm vá vai xộc xệch. Cỗ máy tính ở góc bàn sắt—chiếc máy câm lặng từ cuối buổi học trước khi cô Hạnh còn đứng tựa cửa—vẫn nằm bất động như một khối sắt gỉ vô tri giữa góc kho ẩm mốc.

Tôi sốt ruột. Bàn tay chai sần vì nhiều năm cầm dao quắm vỡ nương bất giác thọc sâu vào đáy túi quần, nơi có chiếc đinh mười phân tôi vừa mài dẹt đầu trên bờ đá suối Nà Ban ban trưa. Mũi đinh đã được mài mỏng dính, bóng loáng lên màu thép lạnh, sắc ngọt như một chiếc tuốc-nơ-vít tự chế. Tôi muốn cạy ngay hai con ốc han gỉ ở nắp sườn thùng máy ra. Trong đầu óc non nớt của một đứa trẻ quen sửa cày gãy bắp, sửa máng nước nứa nứt toác trên đầu nguồn, hễ cái gì không chạy tức là bên trong có thứ bị nghẽn, đứt dây, hoặc rụng mất then cài. Con suối cạn nước thì do rác lấp mó; cái cối giã gạo đứng trơ trơ là vì trượt chốt ngoàm; cỗ máy này không đỏ đèn thì ắt hẳn một đầu dây đồng bên trong đã tuột ra. Cứ mở bung nó ra, lấy tay nắn từng mối nối, vặn lại từng khúc ruột kim loại, ắt sẽ thấy chỗ hỏng.

Thế nhưng khi mũi đinh dẹt vừa chạm mép vỏ tôn hoen ố, cạo ra một vệt xước sáng loáng kêu rợn người, một bàn tay to bản, ấm nóng và thô ráp đã chụp lấy cổ tay tôi, giữ chặt lại.

“Khoan đã, Nam.” Thầy Dũng lắc đầu, bàn tay như chiếc kìm sắt kéo ngược tôi lùi lại nửa bước. “Cậu tính làm thợ rèn hay thợ đập đá đấy?”

“Thưa thầy… em muốn xem bên trong nó đứt dây nào,” tôi lí nhí, rụt rụt cổ lại như vừa bị lửa bén vào da, sợ thầy nổi giận rồi tước mất cái quyền được bước chân vào gian kho này. “Nó không sáng đèn, quạt cũng không buồn quay, chắc có con chuột cống rúc vào cắn đứt dây nguồn rồi.”

Thầy Dũng bật cười. Tiếng cười của thầy giòn tan, dội vào bốn bức vách ván ghép làm rung rinh cả những mảng bồ hóng bám đen kịt trên xà ngang gian kho nông cụ cũ. Thầy buông cổ tay tôi ra, với tay kéo chiếc ghế đẩu gỗ tróc sơn lại gần, đặt hai bàn tay nặng trịch lên đầu gối, ấn vai tôi ngồi xuống đối diện thùng máy câm lặng.

“Trước khi muốn chữa cho một thứ gì, dù là cỗ máy bạc triệu hay con trâu gãy chân ngoài bãi, cậu không được phép xông vào đập phá hay vặn ốc lung tung. Người thợ giỏi khác kẻ phá hoại ở chỗ: anh ta biết quan sát trước khi động thủ. Cậu nhìn cho kỹ xem, chiếc máy này hiện tại đang làm gì?”

Tôi chớp mắt, đưa mu bàn tay quệt ngang vệt bồ hóng dính trên chóp mũi, nhìn chằm chằm vào cái hộp sắt xám xịt đặt trên hai thanh gỗ kê dưới chân bàn:

“Dạ… nó không làm gì cả. Nó im lìm.”

“Đúng, nó im lìm. Vậy nó đang thiếu gì để có thể bắt đầu làm việc?”

“Thiếu… điện ạ?”

“Đúng một nửa. Giờ nhìn đường đi của dòng điện xem nào.” Thầy Dũng cúi thấp người, ngón tay trỏ to bè gõ gõ dọc theo sợi dây màu đen to bằng ngón chân cái chạy từ ổ cắm trên vách nứa xuống. “Điện từ ổ cắm trên vách tường đã có, sợi dây dẫn từ phích cắm vào đuôi nguồn chưa hề đứt gãy, không có vết răng chuột cắn, lớp nhựa bọc còn nguyên. Đèn báo màu đỏ trên ổ cắm ba chấu vẫn sáng rực. Vậy thì nguồn điện đã vào đến tận cửa nhà nó. Nhưng tại sao cỗ máy không buồn nhúc nhích? Quạt tản nhiệt không kêu lấy một tiếng, đèn nguồn phía trước không nháy dù chỉ một phần giây. Điều đó mách cho cậu biết cái gì?”

Tôi nhìn theo ngón tay thầy trỏ vào cụm dây điện bọc nhựa xanh đỏ ngoằn ngoèo phía sau thùng máy. Những bài học tính toán nhẩm hạt ngô, những phép so sánh lượng nước vào ra máng nứa mà cô Hạnh từng dạy bỗng quay về, ráp nối với những câu hỏi cặn kẽ, khúc chiết của thầy Dũng. Tôi nghiêng đầu, áp sát tai vào lớp vỏ tôn lạnh ngắt, lắng nghe sự tĩnh lặng tuyệt đối bên trong.

“Nó… nó tắc ngay từ cái hộp sắt vuông ở góc trên cùng kia ạ? Chỗ cắm cái đuôi dây nguồn ba chân vào?”

“Khá lắm!” Thầy Dũng vỗ đùi đánh đét một cái, mặt rạng rỡ hẳn lên. “Bộ nguồn chuyển đổi. Dòng điện vào nhưng không đi tiếp được vào bo mạch chính. Một là cái công tắc gạt hai nấc phía sau bị rỉ sét tiếp xúc kém, hai là cầu chì bên trong bộ nguồn đã nổ để bảo vệ các linh kiện khác khi điện áp bản Nà Ban trồi sụt đêm qua. Nếu cậu vội vàng lấy đinh cạy tung hết nắp sườn, tháo ram, tháo ổ cứng, nhổ quạt tản nhiệt ra chùi rửa, cậu vừa mất công toi, vừa dễ làm gãy những chân cắm mỏng manh như lá lúa. Nhớ kỹ lời tôi: sửa máy hay giải một bài toán hóc búa cũng vậy, phải nhìn thấy cái hiện tượng nó đang phơi ra trước mắt, đoán xem nó thiếu điều kiện gì, và lỗi có thể bắt đầu từ cửa ngõ nào. Không bao giờ được làm ẩu.”

Thầy với tay rút chiếc bút thử điện bằng nhựa trong suốt giắt bên túi áo ngực, chọc nhẹ vào khe lẫy công tắc phía sau thùng máy. Thầy dùng đầu dẹt của bút nạy lớp mỡ bò khô khốc đóng bám lâu ngày ở khớp gạt, rồi đẩy mạnh. Một tiếng “tạch” khô khốc vang lên, dứt khoát và giòn giã. Thầy vòng tay ra phía trước, ngón tay ấn mạnh vào chiếc nút nguồn hình tròn đã mòn vẹt lớp sơn mạ.

Ngay tức khắc, một luồng sinh khí ùa vào lòng khối sắt câm nín. Cánh quạt bên trong rít lên một tràng dài như tiếng gió xoáy qua hẻm núi, bụi bám lâu ngày bay mù mịt qua khe tản nhiệt phía sau, và một tiếng bíp ngắn, đanh gọn vang lên như tiếng chim rừng cất cánh đón ban mai. Màn hình lồi chớp sáng lòa, từ màu đen kịt chuyển sang màu xám tro, rồi những dòng chữ trắng li ti bắt đầu cuộn chảy như thác nước trên nền đen thẳm. Những dòng kiểm tra bộ nhớ, thông số ổ đĩa nhảy múa liên hồi, soi rõ từng sợi lông măng trên khuôn mặt đang há hốc vì kinh ngạc của tôi.

Tôi nín thở nhìn dòng chữ chạy miết không ngừng. Hóa ra, đằng sau sự câm lặng tưởng như đã chết của một cỗ máy, không cần đến nhát búa hay mũi đinh thô bạo; chỉ cần một cái nhìn thấu suốt đường đi nước bước và một cú chạm đúng chỗ, sự sống sẽ lập tức quay trở lại trọn vẹn.

“Đấy, thấy chưa?” Thầy Dũng cười, kéo chiếc máy tính còn lại—cỗ máy chạy Windows 98 đặt ở dãy bàn đối diện mà lúc trước tôi vừa tập gõ chữ dở dang—về phía tôi. “Hôm nay chiếc kia để đấy mai tôi thay cầu chì phụ sau. Giờ ngồi ngay ngắn vào đây. Tôi dạy cho cậu cách nói chuyện với nó.”

***

Ngoài trời, gió lạnh từ thung lũng Pha Luông bắt đầu thốc qua những khe hở trên vách ván ghép của gian kho tạm. Từng luồng gió mang theo hơi sương ẩm ướt và mùi lá mục ngai ngái luồn vào phòng, làm ngọn lửa đèn dầu leo lét trên bàn giáo viên chao đảo dữ dội. Tiếng lá chuối khô xào xạc sau vườn trường bản nghe xa xăm, lẫn vào tiếng bước chân trâu lục cục gõ móng trên lối mòn về bản. Tôi liếc nhìn qua ô cửa sổ con con không có chấn song, trời đã ngả sang màu xám chì của ráng chiều vùng cao. Mặt trời mùa đông tụt nhanh như hòn đá rơi xuống vực. Chỉ còn hơn một tiếng nữa là bóng tối sẽ phủ kín lối mòn qua suối, và nếu tôi không về kịp trước khi bác Lương gác cuốc vào góc hiên, một trận thịnh nộ kèm theo những lời chửi rủa cay nghiệt sẽ đợi sẵn ở gian nhà chính. Nhưng lực hút từ cái màn hình sáng xanh kỳ lạ trước mặt đã níu chặt hai chân tôi lại, như thể rễ cây rừng đã bện chặt vào gót chân tôi dưới nền đất nện.

Thầy Dũng với lấy một viên phấn vụn ngắn ngủn trên bậu cửa sổ, quay lưng vẽ ngoạch ngoạc lên chiếc bảng gỗ bong tróc treo tạm bên góc tường kho. Những đường phấn trắng rít ken két trên thớ gỗ gồ ghề.

“Nam này, người ta cứ nghĩ máy tính thông minh lắm, cái gì cũng biết. Thật ra nó là một đứa ngốc vĩ đại. Nó nhanh kinh khủng, cậu bắt nó làm một vạn phép tính nó làm trong một cái chớp mắt, nhưng nó không biết tự nghĩ ra một cái gì cả. Cậu bảo nó đi thẳng, nó không dám rẽ ngang; cậu bảo nó bước ba bước, nó tuyệt đối không bước bước thứ tư. Lập trình chẳng qua là việc cậu ngồi nghĩ trước mọi đường đi nước bước, lường hết mọi ngóc ngách, rồi dặn dò nó bằng chính ngôn ngữ của nó, từng dòng một, theo đúng thứ tự không được sai lệch.”

Thầy gõ viên phấn lên mặt gỗ đánh cắc một cái, bụi phấn bay lả tả rơi trên vai chiếc áo chàm đã sờn rách của tôi:

“Ví dụ như khái niệm đầu tiên: Biến. Nghe sách vở chữ nghĩa to tát thế thôi, chứ cậu cứ tưởng tượng nó giống hệt cái gùi, cái sọt đựng ngô trên vai cậu mỗi bận đi rẫy về. Giỏ ngô thì đan bằng nứa để đựng ngô, giỏ sắn thì sâu lòng hơn để đựng sắn. Khi rỗng, cái giỏ ấy có tên là giỏ, nhưng giá trị bên trong bằng không, chẳng có gì cả. Cậu leo lên nương, bẻ ba bắp ngô nếp bỏ vào đấy, giỏ mang giá trị là ba. Cậu đi ngang bờ rào, bốc bớt ra một bắp ném cho con lợn đói ăn, trong giỏ chỉ còn lại hai. Trong lòng máy tính, ta tạo ra một cái giỏ có tên gọi đàng hoàng, bảo máy chừa cho ta một góc trống trong bộ nhớ để cất số liệu vào đấy khi cần. Cậu hiểu nôm na thế được không?”

Tôi gật đầu thật mạnh, hai mắt dán chặt vào hình vẽ chiếc giỏ ngô vụng về với mấy nét phấn xiêu vẹo của thầy trên bảng. Những khái niệm kỳ bí, xa lạ ngỡ như thuộc về một thế giới thần tiên nào đó trong sách vở bỗng chốc trở nên gần gũi, thân thuộc như đống nông cụ chất đống dưới gầm chõng tre của tôi ở chái phụ. Chiếc gùi mang tên “A”, chiếc sọt mang tên “B”, còn chiếc bồ đựng thóc ở góc buồng mang tên “Tong”.

“Thế còn Điều kiện?” Thầy Dũng xoay người lại, viên phấn chỉ thẳng vào mặt tôi. “Trên nương, khi nào thì cậu thu rựa dắt trâu về?”

“Dạ… khi trời đổ mưa dông ướt áo, hoặc khi mặt trời lặn hẳn sau đỉnh Pha Luông ạ,” tôi đáp ngay, giọng rành rọt không cần đắn đo.

“Đúng rồi! Đó chính là điều kiện. Nếu trời mưa, hành động tiếp theo của cậu là thu rựa, dắt trâu về chuồng. Ngược lại, nếu trời còn nắng ráo, hanh thông, hành động là tiếp tục cúi lưng nhổ cỏ gianh. Máy tính cũng y như vậy. Cậu bảo nó: Nếu con số trong cái giỏ này lớn hơn mười, thì in nó ra màn hình; còn không, thì bỏ qua không làm gì cả. Cậu ra lệnh thế nào, nó răm rắp làm y như thế. Nó không biết lười biếng, không biết viện cớ đau chân trốn việc đi bẫy chim rừng như thằng Tùng nhà bác cậu đâu.”

Nghe thầy nhắc đến tên Tùng, lồng ngực tôi bỗng thắt lại một nhịp buốt nhói. Hình ảnh thằng Tùng ngậm cọng cỏ vênh váo, đứng chống nạnh chỉ tay bắt tôi gùi hai bao sắn nặng trĩu vụt qua trong tâm trí. Nhưng rồi cảm giác ấm áp, an tâm lại nhanh chóng tràn ngập lồng ngực khi nhìn vào ánh mắt bao dung của thầy Dũng. Thầy biết hết. Thầy hiểu cả cái nghèo đói, những trận đòn roi vô cớ lẫn những ẩn ức tủi hờn mà tôi chôn chặt trong lòng bấy lâu nay.

“Còn câu lệnh,” thầy quay lại bảng, gạch một đường thẳng đứng dứt khoát, giọng trầm xuống đầy nghiêm cẩn, “câu lệnh là lời dặn dò cụ thể của cậu với máy. Nhớ lấy điều này và khắc sâu vào óc: phải đúng thứ tự! Cậu không thể mặc quần áo phẳng phiu rồi mới nhảy xuống suối tắm; cậu không thể băm chuối đổ vào máng rồi mới nhớ ra là cám chưa nấu sôi trên bếp. Dặn máy làm việc gì trước, nó làm trước; việc gì sau, nó làm sau. Một bước sai trật tự, một bước đi lộn xộn, cả công trình đổ sụp xuống sông xuống biển ngay tức khắc.”

Thầy Dũng cúi người, nhấn nhanh một tổ hợp phím tắt trên chiếc bàn phím ố vàng. Màn hình Windows 98 với biểu tượng mây trời xanh ngắt vụt biến mất. Thay vào đó, một khung nền màu xanh thẫm viền khung trắng muốt bật ra chiếm trọn không gian, phía trên cùng có dòng chữ màu xám nhạt: *Turbo Pascal*.

Con trỏ nhấp nháy liên hồi ở dòng đầu tiên, như một đôi mắt nhỏ bé đang kiên nhẫn đợi chờ mệnh lệnh.

“Nào, ngồi xích lại đây. Giờ cậu thử viết cho tôi một dòng lệnh dặn cái máy này cất tiếng chào cậu xem nào.”

***

Tôi nuốt nước bọt, ngồi thụp xuống chiếc ghế gỗ. Hai đầu gối run rẩy va vào thanh giằng bàn sắt phát ra tiếng keng nhỏ. Tôi lúng túng giấu hai bàn tay dưới vạt áo chàm, rồi mới rụt rè đặt lên bàn phím. Đôi bàn tay tôi—vốn quen bưng những tảng đá hộc nặng trịch xếp ta-luy bờ ruộng, quen cầm dao quắm chém củi nghiến mòn bóng cả cán rập máu—giờ đây lóng ngóng đặt lên những phím nhựa vuông vức nhỏ xíu.

Các ngón tay tôi bỗng chốc trở nên thừa thãi, cứng đờ như những khúc que khô. Mặt phím bóng nhẫy vì mồ hôi và bụi bặm của bao thế hệ học sinh trường huyện để lại trước khi cỗ máy bị đào thải lên đây. Những chữ cái in bằng sơn trắng đã mờ vẹt theo năm tháng. Chữ `E`, chữ `R`, chữ `T` chỉ còn lại những vệt khuyết méo mó không rõ hình thù.

“Gõ đi,” thầy Dũng đứng ngay phía sau lưng tôi, hai bàn tay to khỏe chống lên thành ghế, mùi thuốc lá lào khét nồng quen thuộc từ hơi thở của thầy phả nhẹ vào không khí buốt giá. “Bắt đầu bằng chữ `write` hoặc `writeln`. Viết tắt của chữ viết ra, bảo nó nói ra mồm.”

Tôi căng mắt dò dẫm từng phím một. Mắt tôi như dính chặt vào bàn phím. Ngón trỏ tay phải run lẩy bẩy ấn xuống phím `W`. Một tiếng lách cách khô khốc vang lên. Ký tự `w` hiện ra ngay ngắn trên nền xanh thẫm. Tôi thở phào một cái, lồng ngực hơi giãn ra, rồi tiếp tục lần tìm chữ `R`. Nhưng vì đầu ngón tay quá thô ráp, nứt nẻ vì sương muối, mép ngón tay tôi quệt luôn vào phím `E` nằm sát bên cạnh.

Trên màn hình xanh hiện ra một chữ quái lạ: `wreite`.

“Sai rồi, ngón tay vội quá. Xóa đi bằng phím Backspace ở góc trên bên phải kia,” thầy Dũng nhắc khẽ.

Tôi quýnh quáng đưa ngón tay lên bấm phím xóa lùi, nhưng vì quá hồi hộp và căng thẳng, tôi đè ngón tay hơi lâu. Phím lún xuống, và trong tích tắc, cả dòng chữ biến mất sạch trơn không để lại dấu vết. Trán tôi bắt đầu rịn ra một lớp mồ hôi lạnh ngắt, dù cho gió lạnh ngoài hiên vẫn đang thốc từng cơn buốt thấu qua lớp áo mỏng. Tôi sợ. Nỗi sợ hãi bản năng của một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu lập tức trỗi dậy. Tôi sợ cỗ máy đắt tiền này sẽ nổi giận, sợ cái bóng đèn hình lồi kia sẽ phụt tắt rồi bốc khói đen sì vì sự vụng về của đứa trẻ chưa từng được cầm một cây bút dạ đàng hoàng.

“Bình tĩnh lại nào. Hít thở sâu vào rồi làm lại,” giọng thầy Dũng đều đều, vững chãi như bờ đá ta-luy ngăn lũ. “Cái bàn phím bằng nhựa chứ không phải vỏ trứng, không gãy được đâu mà sợ.”

Tôi cắn chặt môi dưới đến rướm máu, buộc các khớp ngón tay đang run rẩy phải nghe theo ý chí của mình. Từng chữ, từng chữ một rơi xuống màn hình một cách nhọc nhằn:

`writeln('Chao Nam');`

Nhưng đến đoạn kết thúc, mắt tôi bỗng hoa lên vì ánh sáng xanh chói gắt. Thay vì gõ dấu chấm phẩy `;` ở góc phải bàn phím, ngón tay út của tôi lại ấn nhầm vào phím dấu hai chấm `:`. Rồi ngón trỏ lại run rẩy gõ tiếp dòng lệnh thứ hai mà thầy vừa dặn dò:

`readln`

Lần này, đầu óc tôi rối bời, tôi quên bẵng mất dấu chấm phẩy kết thúc câu lệnh, để mặc dòng chữ trơ trọi một mình.

“Xong chưa?” thầy Dũng hỏi, mắt vẫn nhìn vào màn hình.

“Dạ… em gõ xong rồi ạ.”

“Bấm giữ phím Ctrl rồi ấn F9 xem máy nó bảo sao.”

Tôi dùng ngón cái bàn tay trái đè chặt phím `Ctrl`, ngón trỏ tay phải vươn hết cỡ lên hàng phím chức năng trên cùng, run rẩy ấn mạnh vào phím `F9`.

Màn hình không hề hiện ra lời chào ấm áp nào như tôi hằng mong đợi. Khung nền xanh bỗng giật nảy một cái, một dải băng màu đỏ chói lòa bật tung ra ở góc trên cùng, kèm theo một tiếng bíp chói tai, đanh gắt phát ra từ chiếc loa nhỏ gắn trong thùng máy. Dòng chữ màu trắng sắc lẹm đập thẳng vào mắt tôi như một lời kết án:

*Error 85: ";" expected.*

Tôi giật bắn người, rụt cả hai tay lại giấu biến sau lưng như vừa chạm phải thanh sắt nung đỏ trong lò rèn của bản. Toàn thân tôi co rúm lại, tim đập thình thịch, đập dồn dập lên tận cổ họng khiến tôi nghẹt thở. Tôi nghĩ mình đã làm nổ tung một linh kiện điện tử nào đó bên trong rồi. Ở nhà bác Lương, mỗi khi tôi làm đổ thúng ngô ra đất hay để trâu dẫm nát mấy luống sắn non mới nhú, âm thanh đầu tiên tôi nhận được luôn là tiếng rít the the đầy giận dữ của bác dâu Sương, kèm theo cái cán chổi đót hay thanh củi gãy vụt ngang lưng đau điếng. Cái dải băng đỏ rực kèm tiếng còi bíp kia mang đúng màu sắc và âm thanh của sự trừng phạt.

“Thầy… em làm hỏng nó rồi phải không thầy?” tôi run rẩy hỏi, nước mắt chực trào ra nơi khóe mi, giọng nghẹn lại sau bờ môi khô nứt. “Em… em lỡ tay… em đền không nổi cái máy này đâu thầy ơi…”

***

Thầy Dũng không hề quát mắng. Thầy cũng không giật lấy bàn phím để gõ thay cho tôi như cách những người lớn ở bản vẫn thường sốt ruột giật phăng chiếc cuốc khỏi tay đứa trẻ vụng về.

Thầy khẽ đặt một bàn tay to bản, nặng trịch lên bờ vai đang run bần bật của tôi. Cái ấn vai dứt khoát, vững như bàn thạch ấy truyền sang tôi một luồng nhiệt ấm sực, ghìm chặt sự hoảng loạn đang chực biến thành tiếng khóc nức nở.

“Nhìn thẳng vào màn hình đi Nam. Đừng nhìn tôi. Đọc cho tôi nghe dòng chữ màu trắng nằm trong cái khung đỏ kia.”

“Dạ… *Error tám mươi lăm… chấm phẩy… ex-pec-ted*…” Tôi run rẩy đánh vần từng ký tự tiếng Anh xa lạ bằng trực giác mộc mạc của một đứa trẻ trường bản mới bập bõm học vài chữ cái vỡ lòng.

“*Expected* nghĩa là mong đợi, là cần phải có,” thầy Dũng ôn tồn giải thích, ngón tay trỏ của thầy chạm nhẹ vào lớp kính đèn hình, chỉ ngay vào vị trí con trỏ đang nhấp nháy sốt ruột bên cạnh chữ `readln`. “Nó mắng cậu cái gì? Nó bảo: Này cậu Nam, tôi đang đợi một cái dấu chấm phẩy ở ngay chỗ này mà cậu chưa chịu trả cho tôi! Cậu nhìn ngược lại dòng trên xem, cuối dòng một cậu gõ dấu gì đấy?”

Tôi ghé sát mắt vào mặt kính lồi, gần đến mức ngửi thấy cả mùi ozone ngai ngái, khen khét đặc trưng tỏa ra từ bóng đèn hình CRT đang nóng ran.

“Dạ… là dấu hai chấm ạ.”

“Thế còn dòng thứ hai, ngay phía sau chữ `readln` có cái gì không?”

“Dạ không… trơ trọi một mình, trống không ạ.”

“Vậy thì tôi hỏi cậu: Cái máy này nó có chửi cậu là thằng Nam ngu dốt không? Nó có bảo vì cậu là đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, manh áo rách nát, chân đi đất mà cậu không có quyền gõ chữ lên mặt nó không?”

Tôi ngớ người ra, lặng đi trước câu hỏi bất ngờ của thầy. Những câu hỏi ấy chưa từng có ai hỏi tôi. Ở nhà bác Lương, mỗi khi có chuyện gì sai sót, người ta luôn bắt đầu bằng việc mắng mỏ gốc gác, mắng sự vô dụng và cái nợ miếng ăn của tôi.

“Dạ… không ạ,” tôi đáp lí nhí, cổ họng nghẹn lại.

“Đúng thế!” Giọng thầy Dũng vang lên trong gian kho vắng, rành rọt từng tiếng một như đục vào đá núi. “Cái máy tính này nó vô tư và công bằng tuyệt đối, Nam ạ. Nó không cần biết bố mẹ cậu là ai, không cần biết cậu ngủ ở gian chái phụ dột nát hay nhà xây mái bằng ngoài thị trấn. Nó không quan tâm manh áo cậu đang mặc rách bao nhiêu miếng vá. Nó chỉ nhìn thấy những gì cậu viết cho nó. Cậu cho nó đúng, nó chạy đúng. Cậu viết sai một cái dấu, nó chỉ thẳng vào mặt cậu bảo: Sai chỗ này này, sửa đi rồi tôi làm việc tiếp cho cậu! Lỗi sai không phải là cái roi vọt để trừng phạt hay sỉ nhục con người ta. Lỗi sai là một lời chỉ dẫn. Đọc lỗi cho kỹ, bình tĩnh tìm xem mình thiếu cái điều kiện gì, rồi tự tay sửa lại cho đúng.”

Thầy khoanh hai tay trước ngực, lùi lại một bước, nhường trọn vẹn khoảng không gian trước bàn phím cho tôi:

“Tự tay sửa đi. Tôi tuyệt đối không sửa hộ đâu.”

Lời thầy nói như một gáo nước suối trong lành dội sạch bong nỗi sợ hãi đang đè nặng trong tâm trí tôi. Tôi nhìn lại dải băng màu đỏ kia, bỗng nhiên không còn thấy nó đáng sợ như chiếc roi dẻ gai của bác Lương vung lên giữa sân gạch đêm nào nữa. Nó chỉ đơn giản là một tấm biển chỉ đường bằng chữ, lạnh lùng nhưng thật thà đến tận cùng.

Tôi cầm lấy bàn phím, lần này các ngón tay đã bớt run rẩy. Tôi dùng phím mũi tên lùi con trỏ về dòng trên, xóa dấu hai chấm đi, thay vào đó bằng một dấu chấm phẩy `;` ngay ngắn. Rê con trỏ xuống dòng dưới, tôi cẩn thận ấn phím gõ thêm một dấu chấm phẩy nữa ngay sát đuôi chữ `readln`.

Tôi rà soát lại từng ký tự một lần nữa. Hít một hơi thật sâu, lồng ngực căng phồng thứ không khí lạnh buốt của núi rừng Pha Luông, tôi nhấn lại tổ hợp phím `Ctrl + F9`.

Màn hình phụt tắt một cái—không còn tiếng còi bíp chói tai, không còn dải băng đỏ rực của sự trừng phạt. Một màn hình màu đen tuyền hiện ra, sạch bong và tĩnh mịch như đêm đông vùng cao.

Và ở góc trên cùng bên trái, một dòng chữ màu xám bạc hiện lên ngay ngắn, sáng rõ như một vệt trăng non rọi qua khe nứa:

`Chao Nam`

Tôi ngồi sững sờ. Toàn bộ các thớ cơ trên khuôn mặt tôi như giãn ra. Con trỏ nhỏ xíu phía dưới dòng chữ nhấp nháy đều đặn, nhịp nhàng như đang thở cùng một nhịp với lồng ngực tôi. Cỗ máy bằng sắt vụn gom về từ kho thanh lý dưới xuôi, cỗ máy mà vài phút trước tôi còn sợ hãi tột cùng rằng mình sẽ làm cháy nổ, vừa cất tiếng chào đích danh tôi—thằng bé mồ côi ăn mèn mén độn sắn ở xóm bản heo hút này.

Một cảm giác râm ran kỳ lạ chạy dọc từ sống lưng lên tận đỉnh đầu tôi. Đó không phải là niềm vui tầm thường khi nhặt được một củ mài to trên nương, cũng không phải sự nhẹ nhõm khi gánh xong hai chum nước đầy mà không bị bác dâu cằn nhằn. Đó là một thứ quyền năng lạ lùng chưa từng có trong đời: tôi vừa dùng ý nghĩ của mình, dùng trật tự rành mạch trong đầu mình để bắt một cỗ máy bằng sắt thép phải phục tùng và cất tiếng nói.

“Thế nào?” Thầy Dũng vỗ nhẹ vào gáy tôi, cười khùng khục trong cổ họng. “Nó có chịu nói chuyện với cậu chưa?”

“Dạ… nó nói rồi thầy ơi,” tôi nghẹn ngào, hai hốc mắt bỗng cay xè nhưng khóe miệng lại bất giác toe toét nụ cười—nụ cười rạng rỡ, hiếm hoi suốt bao năm tháng qua chỉ chực tắt ngấm mỗi bận bước chân qua cổng nhà bác Lương.

***

“Được rồi, đấy mới chỉ là bài học vỡ lòng thôi,” thầy Dũng kéo chiếc ghế đẩu gỗ lại gần tôi hơn, ánh mắt thầy sáng lên dưới ánh đèn huỳnh quang chập chờn lúc mờ lúc tỏ. “Bây giờ ta làm một bài toán thật sự nhé. Cô Hạnh bảo với tôi cậu nhẩm toán nhanh nhất nhì cái trường bản này. Giờ cậu thử dạy cho cỗ máy này biết làm toán xem sao. Ta làm một chương trình cộng hai con số.”

Thầy với tay lấy mảnh giấy gói thuốc lào ố vàng vứt trên bàn, rút mẩu bút chì cùn giắt ở vành tai vẽ ra ba ô vuông ngay ngắn:

“Ô thứ nhất tên là `a`, ô thứ hai tên là `b`, ô thứ ba tên là `tong`. Đầu tiên, dặn máy chừa ba cái ô này ra trong bộ nhớ. Sau đó, bảo người dùng gõ vào số thứ nhất, nhét vào ô `a`. Gõ số thứ hai, nhét vào ô `b`. Rồi ra lệnh cho máy: mày lấy ruột ô `a` cộng với ruột ô `b`, ném kết quả vào ô `tong`. Cuối cùng, bưng cái ô `tong` ấy ra màn hình cho người ta xem. Hiểu quy trình chưa?”

“Dạ hiểu,” tôi đáp dứt khoát. Logic của bài toán bỗng hiện lên rành rọt trong đầu tôi như những bước chia ngô vào bồ sau vụ gặt.

Tôi bắt tay vào viết. Màn hình lại chuyển về khung nền xanh thẫm quen thuộc. Nhưng thực tế không hề suôn sẻ như những gì hiện ra trong suy nghĩ non nớt của tôi.

Lần thử đầu tiên, tôi quên bẵng việc khai báo biến. Tôi lao ngay vào viết lệnh tính toán giữa hai từ khóa `begin` và `end` mà không hề cho máy biết `a` và `b` là cái gì. Lại nhấn `Ctrl + F9`.

*Error 3: Unknown identifier.*

“Kẻ lạ mặt!” Thầy Dũng đứng bên cạnh lập tức diễn dịch bằng giọng hài hước. “Máy nó bảo: Thằng `a` với thằng `b` này ở đâu chui ra thế, tôi không quen biết nó! Cậu chưa giới thiệu nó với tôi ở phần `var` phía trên thì làm sao tôi biết nó là cái giỏ đựng số hay giỏ đựng chữ mà chứa?”

Tôi cắn môi, ngượng ngùng gõ thêm phần khai báo biến kiểu số nguyên lên dòng đầu: `var a, b, tong: integer;`.

Lần thử thứ hai, vì ngón tay cuống quýt, tôi gõ nhầm chữ `integer` thành `inetger`. Dải băng đỏ lại bật lên lạnh lùng: *Error 2: Identifier expected.*

Lần này tôi không còn giật mình hoảng sợ nữa. Tôi đã bắt đầu quen với việc bị từ chối. Tôi tỉ mỉ rê con trỏ, kiên nhẫn sửa từng con chữ bị đảo lộn. Ngón tay tôi trên mặt phím nhựa đã bớt đi vẻ vụng về, bắt đầu có được nhịp điệu của sự nhẫn nại.

Đến lần thử thứ ba, tôi hăm hở viết phép tính: `tong = a + b;`. Màn hình lại réo bíp một tiếng đanh gọn: *Error 1: ";" expected.*

“Quái lạ thật,” tôi lẩm bẩm, trán nhăn tít lại, hai mắt dí sát vào màn hình. “Rõ ràng cuối dòng em có gõ dấu chấm phẩy rồi mà thầy? Sao nó cứ đòi hoài vậy?”

“Trong Pascal, dấu gán giá trị không phải là một dấu bằng đơn độc,” thầy Dũng chỉ ngón tay vào màn hình. “Dấu bằng đơn độc chỉ dùng khi so sánh hai thứ xem có bằng nhau hay không thôi. Muốn gán giá trị của vế bên phải nhét vào cái giỏ bên vế trái, cậu phải dùng dấu hai chấm đi liền với dấu bằng: `:=`. Nó là một mũi tên ngầm chỉ hướng dòng chảy của con số đấy.”

Từng mảnh vụn quy tắc dần khớp nối lại trong đầu óc tôi. Mỗi một lần sai là một lớp vỏ rào cản được bóc tách ra. Cỗ máy tính này không cho phép sự đại khái, tùy tiện. Ở ngoài đời, bác Lương bảo tôi “đi chặt cho tao mấy gióng nứa”, tôi chặt năm gióng cũng được, sáu gióng cũng xong, bác chỉ càu nhàu vài câu rồi thôi. Nhưng ở đây, thiếu một dấu hai chấm, một dấu phẩy, toàn bộ guồng máy sẽ lập tức đình chỉ công việc. Sự chặt chẽ nghiệt ngã ấy không hề làm tôi nản lòng; ngược lại, nó khiến tôi say mê đến nghẹt thở. Nó công bằng đến mức tuyệt đối—không có chỗ cho sự thiên vị, không có chỗ cho những cơn giận dữ vô cớ.

Tôi sửa lại dòng lệnh: `tong := a + b;`.

Thêm câu lệnh in kết quả ra màn hình: `writeln('Tong hai so la: ', tong);`.

Tôi nín thở rà soát lại từng ký tự, từng dấu chấm, dấu phẩy từ đầu đến cuối chương trình, hệt như người thợ mộc cẩn thận kiểm tra từng mộng gỗ trước khi tra vào cột nhà:

```pascal program CongHaiSo; var a, b, tong: integer; begin write('Nhap so thu nhat: '); readln(a); write('Nhap so thu hai: '); readln(b); tong := a + b; writeln('Tong hai so la: ', tong); readln; end. ```

Ngón tay tôi đặt lên phím `Ctrl`, ngón kia áp vào `F9`. Lồng ngực tôi nén lại một hơi thở dài buốt lạnh.

*Tách.*

Không có dải băng đỏ nào xuất hiện. Không có tiếng còi bíp trừng phạt.

Màn hình nền đen bật ra, tĩnh lặng và trang nghiêm như mặt nước suối Nà Ban lúc chưa có gió:

`Nhap so thu nhat: _`

Con trỏ nhấp nháy đợi lệnh.

Thầy Dũng mỉm cười, khẽ hất cằm: “Nhập thử xem.”

Tôi ấn phím số `2`, rồi gõ `Enter`.

Màn hình lập tức nhảy xuống dòng tiếp theo không một chút ngập ngừng:

`Nhap so thu hai: _`

Tôi ấn tiếp phím số `8`, rồi lại nhấn `Enter`.

Một phần mười giây trôi qua nhanh như một cái chớp mắt. Màn hình không hề do dự, dòng chữ thứ ba bung ra ngay phía dưới:

`Tong hai so la: 10`

Tôi buông hai bàn tay khỏi bàn phím, ngồi chết lặng trên chiếc ghế đẩu mục nát.

Con số `10` hiện lên sáng quắc giữa bóng tối nhập nhoạng của gian phòng kho. Phép tính hai cộng tám bằng mười, một đứa trẻ học lớp một cũng có thể nhẩm ra trong tích tắc. Nhưng con số mười này không phải do tôi nhẩm bằng miệng, cũng không phải do thầy Dũng tính hộ. Nó được tạo ra bởi cỗ máy bằng sắt thép kia, sau khi nó đã ngoan ngoãn nuốt trọn từng dòng chữ, từng câu lệnh, từng quy luật mà chính tay tôi đã gõ vào.

Cảm giác ấy giống như một luồng điện chạy khắp cơ thể tôi, làm sống dậy từng tế bào đang héo úa vì đói nghèo và tủi nhục. Suốt bao năm qua, tôi luôn nghĩ số phận của mình đã bị đóng đinh trên những triền nương ngô dốc đứng, bị định giá bởi bát mèn mén vụn hay sự ban ơn cay nghiệt của người lớn. Tôi phải phụ thuộc vào mưa nắng thất thường của trời, vào từng cơn giận dữ của bác Lương để biết trưa nay mình có được ăn cơm hay phải ôm bụng đói về chái phụ nằm co ro.

Nhưng lúc này đây, trước mặt tôi, một thế giới hoàn toàn khác vừa hé mở qua khe cửa hẹp của màn hình máy tính. Một thế giới không có đòn roi, không có sự ghẻ lạnh, nơi trí tuệ và sự chính xác là thước đo duy nhất. Chỉ cần tôi hiểu được quy luật của nó, chỉ cần tôi dặn dò nó đúng trật tự, cỗ máy sẽ biến những ý nghĩ vô hình trong đầu tôi thành hiện thực sống động.

“Hay lắm,” tiếng thầy Dũng vang lên bên tai tôi, trầm ấm và đầy tự hào. “Cậu làm được rồi đấy, Nam.”

Thầy Dũng nhìn tôi rất lâu, khóe mắt nheo lại nhưng nụ cười đã thu bớt vẻ hồ hởi ban đầu. Thầy đưa tay tắt màn hình, để gian kho chìm lại vào bóng chiều bảng lảng.

“Viết cho nó chạy được một lần chưa có nghĩa là cậu đã hiểu hết ruột gan nó đâu,” thầy gõ ngón tay lên mép bàn phím. “Lập trình giống như xẻ một thân gỗ lớn. Chém trúng nhát rìu đầu tiên mới chỉ là bập được vào vỏ ngoài. Muốn nên hình chiếc cột, chiếc xà vững chãi thì phải biết từng thớ gỗ cong thẳng, xoắn vặn ra sao.”

Thầy quay sang chiếc cặp giả da đã sờn mép vứt trên bậu cửa sổ, rút ra mấy tờ giấy in một mặt đã ngả vàng, góc giấy quăn tít vì ẩm gió núi. Đó là những bản tóm tắt cú pháp Pascal cơ bản cùng vài bài toán mẫu bằng tiếng Việt được đánh máy chữ từ lâu.

“Tôi cho mượn mấy tờ này đem về mà chép lại. Chỉ chép thôi, chép xong trả lại nguyên vẹn cho tôi. Không được làm rách, không được để ướt sương hay dính dầu đèn. Rách một mép là lần sau đừng mong sờ vào máy tính.”

Tôi đón lấy tập giấy mỏng manh như đón một bọc than hồng giữa đêm đông giá buốt, hai bàn tay khép chặt lại run rẩy:

“Em xin giữ cẩn thận. Em chép xong sẽ mang trả thầy ngay.”

Rời trường bản, tôi chạy thục mạng qua con suối Nà Ban khi mặt trời đã sụp xuống sau rặng thông. Gió thung lũng quất rát rạt vào mặt, nước suối ngập đến đầu gối lạnh buốt như kim châm, nhưng trong ngực áo tôi, tập giấy được bọc kín bằng mảnh nilon cũ vẫn tỏa ra một hơi ấm lạ lùng. Về đến sân nhà bác Lương, tôi kịp luồn mấy tờ giấy mỏng kẹp sâu vào giữa tập tài liệu tự học mà cô Hạnh đã đóng chỉ bao tải cho từ trước, giấu kỹ dưới đáy bao tải gai đựng sách học bù đặt ở góc chái phụ. Bác Lương ngồi bên bậu cửa rít thuốc lào sòng sọc, mắt liếc sang sọt chuối tôi bổ vội ban sáng. Anh Tùng đang ngồi chuốt nan nứa ngoài hiên, thấy tôi về muộn liền hất cằm nhìn hằn học nhưng chưa bắt bẻ được cớ gì rõ rệt.

Cơm tối trôi qua trong tiếng bát đũa khua lách cách và những câu càu nhàu về nương ngô Pha Luông của bác Lương. Tôi cắm cúi ăn hết phần sắn luộc khô khốc, rửa xong đống bát đĩa dưới mó nước buốt cóng rồi lủi nhanh về gian chái phụ tối tăm.

Chỉ sau khi cả nhà tắt đèn dầu đi ngủ, tôi mới dám nhóm mẩu nến vụn xin từ lớp học, ngồi co ro trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Tranh thủ từng quãng thời gian ngắn ngủi trước khi mẩu nến lụi tàn, tôi nắn nót dùng mẩu bút chì cụt chép từng câu lệnh, từng cấu trúc `if... then` sang cuốn sổ nhỏ.

Nghe tiếng dép lẹt xẹt bên vách nứa, tôi vội vùi trang giấy dưới mép chiếu rách. Nhưng chỉ có Lan bước vào, tay cầm mẩu khoai lùi còn ấm.

Tôi không kìm được niềm vui đang nghẹn ứ nơi ngực áo, khẽ kéo mép tay áo Lan, ghé sát tai em thì thào:

“Lan này… chiều nay ở trường bản, anh vừa bắt được cái máy tính nó làm toán đấy. Anh bảo nó cộng số hai với số tám, nó nghe lời anh rồi tự in ra số mười thật!”

Lan tròn xoe mắt nhìn tôi. Con bé mười tuổi không tài nào hiểu được một chiếc thùng sắt phát sáng có thể tính nhẩm ra sao, nhưng nhìn thấy khuôn miệng tôi nở nụ cười—nụ cười rạng rỡ, nguyên vẹn nhất kể từ ngày mẹ Mai qua đời—hai mắt Lan cũng ánh lên niềm vui lây:

“Thật hả anh? Chiếc máy biết nghe lời anh thật à?”

Nhưng nụ cười của Lan vụt tắt rất nhanh. Em nhìn quanh gian phụ lụp sụp, kéo chặt vạt áo tôi, giọng hạ thấp xuống run rẩy:

“Anh Nam… anh đừng bao giờ để anh Tùng biết chuyện này nhé. Bố cũng không được biết đâu. Cứ hễ thấy anh dính vào sách vở hay chuyện học hành là anh Tùng lại kiếm cớ mách bố để bố phạt anh thôi. Đợt này bố đang sốt ruột nương ngô lắm.”

Tôi lặng lẽ gật đầu, siết chặt mẩu khoai ấm trong lòng bàn tay. Lời dặn của Lan kéo tôi rớt phịch về với thực tại đầy đá sỏi.

***

Buổi chiều hai hôm sau tại điểm học tạm của trường bản, tiếng máy nổ Minsk của thầy Dũng lại ròn rã ngoài sân. Thầy đứng giữa gian kho hẹp, khoanh tay nhìn dãy năm chiếc máy tính cũ kỹ phủ bụi mờ gom về từ kho thanh lý, vẻ mặt đăm chiêu.

Thấy tôi mang trả tập tài liệu chép tay phẳng phiu không một vết ố, thầy Dũng nhận lấy rồi khẽ hất cằm về phía dãy máy câm lặng:

“Những buổi tới, tan giờ học chính khóa cậu ở lại đây phụ tôi kiểm tra lại mạch điện với nguồn của mấy chiếc máy hỏng này. Cậu có mắt quan sát, chịu khó mày mò thì đỡ đần cho tôi được nhiều việc.”

Thầy dừng lại một nhịp, ánh mắt nghiêm nghị xoáy thẳng vào tôi:

“Nhưng nhớ cho kỹ: chỉ được kiểm tra khi có tôi đứng cạnh. Tuyệt đối không được tự tiện cắm điện hay tháo ốc một mình, nghe chưa?”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories