Hoa Ban Không TànCh.14 / 38
Chapter 14

Một kỳ thi không có tiền lệ phí

Tôi đã tưởng câu hỏi của cô Hạnh chỉ cần một lời nói dối, cho đến khi cô đặt trước mặt tôi tờ đăng ký dự tuyển học sinh giỏi.

Đó là một buổi chiều muộn hơn mọi ngày ở gian kho thóc hợp tác xã cũ, nơi những mảng tường trát rơm bùn đã nứt toác theo năm tháng, để trơ ra những gióng nứa ken dày đã ngả sang màu xám mốc. Gió từ khe núi Pha Luông như một bầy thú hoang bị thương, lách qua từng kẽ hở hẹp, rít lên từng hồi căm căm, mang theo cái lạnh thấu xương thấu tủy của vùng cao vào tận góc lớp. Tiếng bước chân rậm rịch, tiếng cười đùa í ới của đám học trò tan buổi học chiều đã chìm dần vào bóng hoàng hôn chập choạng phía bên kia con suối Nà Ban. Con suối mùa cạn chỉ còn trơ những tảng đá hộc xám xịt như lưng trâu đằm, dòng nước len lỏi giữa khe đá réo lên những thanh âm ràn rạt, lạnh buốt. Trong căn phòng học lợp tôn fibro-xi măng thủng lỗ chỗ chỉ còn lại mùi bụi vôi khô khốc, mùi ẩm mục của những bó rơm rạ chất đống từ vụ gặt trước ở góc kho, và ánh sáng vàng vọt, run rẩy rọi nghiêng qua ô cửa sổ trống hoác không có chấn song.

Câu hỏi của cô hôm trước—về việc tại sao tôi luôn thiếu sách vở, tại sao những ngón tay tôi luôn cáu bẩn đất đỏ và nhựa cây rừng, tại sao ngày nào lên lớp tôi cũng gục đầu xuống mặt bàn gỗ tạp ngủ mê mệt như một người vừa trút hết hơi tàn—vẫn lơ lửng như một cái móc sắt vô hình cào vào lồng ngực tôi. Cả đêm hôm đó, nằm co quắp trên chiếc chõng tre ọp ẹp kê gập ghềnh trên bốn viên đá hộc ở gian chái phụ tối tăm, nghe tiếng chuột rúc rích sau vách đá rỉ nước và tiếng thở phì phò nặng nề của con trâu mộng bị buộc dưới gầm sàn, tôi đã vắt kiệt khối óc non nớt để nghĩ ra đủ thứ lý do đối phó.

Tôi định nói dối rằng nhà tôi ở xa tít tắp trên đỉnh dốc Ba Khăm, rằng đường rừng trơn trượt sương muối lấp kín lối đi, rằng ban đêm tôi phải bế em cho bác dâu xay ngô, hoặc giả vờ rằng mình mắc một chứng bệnh lạ lùng nào đó khiến đầu óc lúc nào cũng váng vất, mắt hoa mày xây xẩm mỗi khi nhìn vào trang sách. Một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu như tôi học được bài học sinh tồn đầu tiên ở đời không phải là những con số trên bảng đen hay quy tắc chính tả, mà là cách che đậy những vết thương của mình thật kín kẽ, thật lì lợm. Ở cái bản Nà Ban nghèo xơ xác này, phơi bày sự khốn cùng của bản thân ra trước mắt bàn dân thiên hạ chẳng khác nào tự rước lấy tai họa. Sự thương hại nếu có thì cũng mong manh và vô nghĩa như bọt nước đầu nguồn, chỉ đủ sức cào xước lòng tự trọng vốn đã mỏng manh như cánh ve sầu; còn điều tệ hại nhất là những lời thở than ấy sẽ lập tức lọt đến tai bác Lương. Và khi ấy, một trận đòn tơi bời bằng cành dẻ gai ngâm nước muối cùng tối hậu thư tống khứ tôi ra khỏi nhà sẽ là dấu chấm hết vĩnh viễn cho những buổi sáng được cắp chiếc túi vải rách đến trường.

Thế nhưng, suốt buổi học sáng nay, cô Hạnh không hề vạch trần tôi trước lớp.

Cô bước vào lớp với tà áo dài màu tím than đã sờn rách ở gấu, đôi vai gầy hơi so lại vì cái rét buốt giá của đợt gió mùa đông bắc tràn về. Suốt bốn tiết học, cô không một lần gọi tên tôi đứng dậy giữa ánh mắt soi mói của bạn bè để truy vấn tại sao chiếc áo bông chàm tôi đang mặc lại toác hoác ở nách, để lộ cả lớp bông gạo xơ xác, vàng ố mà bác dâu Sương đã lén nhặt nhạnh từ những quả gạo rụng ven bờ suối để vá giặm vào cho tôi đỡ cóng. Cô cũng không hề nhìn vào những vệt bùn non đã khô cong, đóng thành từng mảng giòn rụm bám chặt trên ống chiếc quần chột ngắn cũn cỡn của tôi bằng ánh mắt ái ngại hay ban ơn của một người làm việc thiện. Khi thằng Dũng—con trai người thợ săn lão luyện xóm Mo—huých cùi chỏ vào mạn sườn tôi, cười cợt chế giễu mẩu bút chì cụt lủn chưa đầy hai đốt ngón tay được tôi dùng mảnh nứa cạo gọt nham nhở, cô Hạnh chỉ lặng lẽ gõ mạnh mép thước gỗ lim xuống mặt bàn giáo viên. Tiếng gõ khô khốc vang lên dứt khoát, kéo phăng sự chú ý của cả lớp trở lại với những phép tính trên bảng đen. Cô bảo vệ sự im lặng của tôi, bảo vệ chút thể diện tàn tạ của một đứa trẻ cùng đường bằng một sự tế nhị thầm lặng đến thắt lòng.

Và bây giờ, khi gian kho thóc chỉ còn lại hai cô trò giữa bóng chiều nhập nhoạng, cô không hề lặp lại câu hỏi cũ. Bàn tay cô gầy guộc, những đầu ngón tay nứt nẻ vì sương muối và dính đầy bụi phấn trắng từ từ đẩy một tờ giấy mỏng về phía mép bàn đối diện với tôi.

Đó là tờ giấy in roneo màu vàng ngà thô ráp, mép giấy xơ tước ra như sợi cỏ gianh phơi héo trên nương đá, mực in lu mờ chỗ đậm chỗ nhạt. Ở phần đầu trang, nổi bật lên hàng chữ in hoa bằng khuôn chữ gỗ đậm nét: *ĐƠN ĐĂNG KÝ THAM GIA KỲ THI CHỌN ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI TOÁN CẤP HUYỆN*.

"Cô đã điền sơ bộ thông tin trích ngang của em rồi," cô Hạnh nói, giọng cô trầm và phẳng lặng như mặt nước sâu của con suối Nà Ban vào những ngày đông rét mướt. "Nhưng phần cam kết của gia đình và chữ ký xác nhận của người giám hộ thì em bắt buộc phải mang về nhà. Nếu qua được kỳ khảo sát ở trường cụm xã vào cuối tháng này, em sẽ có tên chính thức trong danh sách ba học sinh tiêu biểu của xã ra huyện dự thi vòng một."

Tôi đứng chôn chân bên cạnh chiếc bàn giáo viên được ghép tạm bợ bằng những tấm gỗ ván thùng tạp nham, cập khiễng trên nền đất nện ẩm ướt. Mắt tôi dán chặt vào tờ giấy mỏng manh ấy, hai vành tai nóng bừng lên dù gió lạnh vẫn rít từng cơn qua khe vách. Từng dòng chữ in bằng thứ mực tím nhờ nhợt dường như đang rung rinh, nhảy múa dưới ánh nhìn trân trối của tôi. Một kỳ thi cấp huyện. Khái niệm ấy đối với tôi xa lạ và lộng lẫy hệt như một câu chuyện cổ tích hoang đường mà người già thường kể bên bếp lửa mùa đông. Nó nằm hoàn toàn bên ngoài thung lũng Nà Ban quanh năm mây mù che phủ, nằm ngoài những triền nương ngô dốc đứng chênh vênh nơi sườn núi Pha Luông, ngoài chiếc gùi củi dẻ gai nặng trĩu làm trầy rách hai bả vai, và ngoài cả mùi phân trâu nồng nặc bốc lên từ gầm sàn mỗi sớm mai thức giấc.

Lần đầu tiên trong đời mình, tôi nhìn thấy một lối thoát—một lối thoát thực sự được định hình bằng văn bản chỉn chu, có con dấu tròn đỏ chót của nhà trường, có kỳ hạn ngày tháng rõ ràng, một bậc thang cụ thể bằng đá tảng để tôi có thể đặt bàn chân trần của mình lên đó mà bước ra khỏi cái bóng khổng lồ, ngột ngạt của sự nghèo đói và những ân huệ cay đắng rỏ giọt từng ngày.

Nhưng niềm vui sướng nghẹn ngào ấy chỉ kịp loé lên trong lồng ngực tôi như một tia lửa nhỏ quẹt trúng bùi nhùi ướt đẫm sương đêm, rồi vụt tắt ngấm ngay tức khắc khi ánh mắt tôi trượt dần xuống những dòng chữ nhỏ li ti nằm khuất ở phần chân trang:

*Lệ phí thi và hồ sơ: Mười lăm nghìn đồng.* *Tài liệu ôn tập theo bộ đề chuẩn của Phòng Giáo dục: Hai mươi lăm nghìn đồng.* *Thời gian tập trung bồi dưỡng: Các buổi chiều thứ Ba, thứ Năm và cả ngày Chủ nhật tại trường cụm trung tâm xã.*

Bốn mươi nghìn đồng.

Ba chữ ấy, cùng con số sừng sững trên trang giấy, nện thẳng vào lồng ngực tôi như một tảng đá hộc lăn từ đỉnh Pha Luông xuống đáy vực sâu. Lồng ngực tôi thắt nghẹn lại, hơi thở tắc nghẽn nơi cuống họng. Bốn mươi nghìn đồng đối với người dưới xuôi hay những cán bộ lâm trường có thể chỉ là một vài bữa ăn sáng, nhưng ở cái bản Nà Ban này, bốn mươi nghìn đồng là hai tạ ngô hạt đã phơi khô kiệt đến mức cắn vỡ vụn thành bột. Bốn mươi nghìn đồng là nửa con lợn giống lang khoang mà bác dâu Sương phải chăm bẵm suốt nửa năm trời từ khi nó chỉ bằng bắp chân, cho ăn từng nồi cám chuối nấu nhừ mới mong bán được. Đó là số tiền mà cha Hòa tôi ngày xưa, khi còn sống, đã phải nai lưng vác cưa xẻ, trần mình ra giữa rừng nghiến ngút ngàn, kéo từng đường cưa đến toác da bàn tay, ho rũ rượi ra từng búng máu tươi trên nền đất lạnh cũng chưa chắc tích cóp nổi sau khi đã trừ đi những khoản nợ miệng ăn truyền đời.

Và cay đắng hơn, nghiệt ngã hơn cả tiền bạc, chính là thời gian: các buổi chiều thứ Ba, thứ Năm và trọn vẹn cả ngày Chủ nhật.

Từ ngày cha tôi kiệt sức trút hơi thở cuối cùng trên manh chiếu rách—chưa đầy hai tháng sau khi mẹ Mai qua đời vì bệnh phổi—từng buổi chiều trong cuộc đời tôi đã không còn thuộc về tôi nữa. Chúng thuộc về lưỡi cuốc han gỉ và những triền nương đá dốc ngược của đỉnh Pha Luông. Từng tấc đất đồi sỏi cằn cỗi, nơi cây ngô còi cọc phải bám rễ vào kẽ đá mà sống, đã được bác Lương định giá một cách sòng phẳng đến tàn nhẫn: làm đủ công, dọn sạch một vạt đá hộc thì tối về được chia một bát mèn mén độn ngô sắn củ; lơ là một buổi, trở về muộn khi mặt trời đã khuất núi thì chỉ có nhịn đói và đón nhận những lằn roi quất rát bỏng da thịt.

Còn ngày Chủ nhật? Chủ nhật là ngày tôi phải ngâm mình dưới dòng nước suối Nà Ban lạnh buốt thấu xương ngang hông để vớt từng mảng rêu đá đem về phơi, hoặc còng lưng cắt từng bao tải cỏ voi nhét căng chuồng trâu, hay vác chiếc rìu cùn đi sục sạo khắp các cánh rừng rậm để mót từng thanh củi dẻ gai mục đem về chất kín gầm sàn làm chất đốt cho cả mùa đông. Bác Lương đã tuyên bố thẳng thừng, đanh thép trước mâm cơm đạm bạc dạo nọ, khi tôi lén giở trang sách rách dưới ánh đèn dầu: từ mùa giáp hạt này, tôi phải làm việc như một người lớn thực thụ trong nhà, không có chuyện lêu lổng ăn bám chữ nghĩa. Một giờ tôi vắng mặt trên nương ngô đồng nghĩa với việc bác Lương sẽ có cớ ném toàn bộ mấy cuốn vở bài tập ố vàng của tôi vào bếp lửa hay quẳng thẳng xuống dòng nước lũ cuồn cuộn.

Tôi không có tiền nộp lệ phí. Tôi không có tiền mua tài liệu chuẩn. Và điều đáng sợ nhất là tôi không có lấy một khắc, một phút giây nào thuộc về quyền tự quyết của chính cuộc đời mình.

Những ngón tay tôi run rẩy co quắp lại, chạm nhẹ vào mép tờ giấy thô ráp rồi giật bắn người, rụt phắt tay về như thể vừa chạm phải một thanh sắt nung đỏ trong lò rèn. Tôi cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức nghe thấy vị tanh nồng, mằn mặn của máu tơi ra từ những vết nẻ chằng chịt chưa kịp liền da.

"Em... em không thi được đâu cô ạ," tôi lí nhí trong miệng, đầu cúi gằm xuống sát ngực áo, hai mắt dán chặt vào đôi mũi chân trần thâm tím vì lạnh đang bấm chặt xuống nền đất nện ẩm ướt. "Nhà em xa quá... với lại em bận việc nương rẫy quần quật suốt ngày, em không đi học các buổi chiều được đâu cô."

Cô Hạnh không hề tỏ ra ngạc nhiên hay giận dữ. Ánh mắt sau cặp kính cận gọng nhựa đã ố vàng của cô vẫn dán chặt vào tôi, thấu suốt, bao dung nhưng cũng kiên định đến mức khiến tôi cảm thấy mọi toan tính lẩn tránh của mình đều trở nên trần trụi và yếu ớt. Cô không vội vã lên tiếng, chỉ khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ. Rồi cô đưa tay kéo ngăn kéo chiếc bàn làm việc ọp ẹp—ngăn kéo rít lên ken két vì han gỉ và ẩm mốc—lấy ra một tập tài liệu dày cộp đặt lên trên tờ đơn đăng ký.

Đó hoàn toàn không phải là những cuốn sách tham khảo mới tinh thơm mùi mực in láng bóng như tôi từng thấy lũ học trò con nhà cán bộ ngoài xóm chợ nâng niu. Đó là những tập đề thi của nhiều năm trước, được in trên đủ thứ loại giấy phế liệu: giấy roneo vàng khè, giấy bọc hàng xi măng xám xịt, thậm chí có cả những trang giấy viết một mặt đã quăn queo bốn góc. Toàn bộ tập giấy dày ấy đã được cô Hạnh tỉ mỉ dùng sợi chỉ khâu bao tải màu trắng đục đóng lại cẩn thận, luồn qua từng lỗ dùi ngay ngắn, gáy sách được bọc bằng một dải vải mưa cũ dán nhựa chuối dính chặt. Trên mặt bìa bằng giấy xi măng cứng cáp, cô nắn nót viết bằng mực đỏ bốn chữ thẳng tắp: *TÀI LIỆU TOÁN BỒI DƯỠNG*.

"Về tài liệu, cô cho em mượn bộ này," cô Hạnh cất tiếng, từng thanh âm rành rọt, khúc chiết vang lên giữa gian phòng vắng, xua bớt đi cái tĩnh mịch buốt giá của buổi chiều tà. "Đây là toàn bộ đề thi chọn học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh của năm năm trở lại đây, cùng phần phương pháp giải nâng cao do chính các thầy cô giáo cốt cán của huyện tự tay biên soạn trong các đợt tập huấn. Cô đã đọc kỹ từng trang, ghi chú tỉ mỉ từng dạng toán, từng bẫy suy luận nhỏ nhất ở phần lề giấy bằng bút mực xanh để em dễ theo dõi. Em cứ giữ lấy mà học."

Cô dừng lại một chút, ánh mắt nhìn sâu vào đôi mắt đang đờ đẫn vì kinh ngạc của tôi:

"Còn về việc học bồi dưỡng vào các buổi chiều, cô biết em không thể nào lội bộ hơn mười cây số đường rừng mỗi buổi để xuống điểm trường trung tâm xã học chung với các bạn được. Đèo dốc mùa này nhiều sương muối, lại hay sạt lở đá, em đi bộ đi về sẽ kiệt sức. Cô đã trực tiếp gặp thầy hiệu trưởng và xin phép ban giám hiệu cho em được hưởng chế độ bồi dưỡng đặc cách ngay tại điểm trường lẻ này. Bắt đầu từ ngày mai, sau khi buổi học chính khóa buổi sáng kết thúc và các bạn ra về, cô sẽ ở lại lớp thêm bốn mươi lăm phút. Bốn mươi lăm phút ấy, cô sẽ trực tiếp hướng dẫn em các dạng toán mới, sửa cặn kẽ những bài tập em đã làm của ngày hôm trước và giao đề cho ngày tiếp theo."

Tôi ngước phắt đầu lên, sững sờ nhìn người phụ nữ trước mặt. Đôi tai tôi ù đi, như thể vừa nghe nhầm một điều không tưởng.

Bốn mươi lăm phút ở lại sau giờ học?

Đối với một đứa trẻ, bốn mươi lăm phút có thể trôi qua mau chóng như một cái chớp mắt. Nhưng đối với một giáo viên cắm bản như cô Hạnh, bốn mươi lăm phút ấy là cả một sự đánh đổi lớn lao. Điểm trường bản Nà Ban này chỉ là một phân hiệu hẻo lánh, cách khu nhà tập thể giáo viên ở trung tâm xã hơn bảy cây số đường mòn men theo triền núi Pha Luông hiểm trở. Mùa đông vùng cao, trời tối sụp xuống rất nhanh; chỉ cần chậm chân nửa giờ đồng hồ, sương mù dày đặc sẽ phủ kín lối mòn, thú dữ và đá lăn từ vách núi luôn chực chờ nuốt chửng những người độc hành. Chưa kể, đời sống của giáo viên cắm bản nơi này khốn khó đến cùng cực: gạo mốc chia theo tiêu chuẩn, thức ăn hàng ngày chỉ là đọt măng rừng luộc chấm muối ớt nướng, nước sinh hoạt phải gùi từng can từ mó nước xa tít trên đỉnh dốc. Sau mỗi buổi dạy mệt lử cả người, ai cũng chỉ mong được về sớm nhóm bếp củi hong khô manh áo ướt, kiếm miếng ăn lót dạ trước khi bóng đêm giá buốt trùm kín núi rừng. Vậy mà cô Hạnh lại tình nguyện trích bớt chút thời gian nghỉ ngơi ít ỏi, quý giá ấy ra để ở lại dạy kèm cho một đứa học trò mồ côi không có lấy một hào học phí dắt lưng.

Thấy tôi đứng chết lặng như một pho tượng gỗ, cô Hạnh khẽ thở dài. Nét dịu dàng trên gương mặt cô bỗng chốc thu lại, nhường chỗ cho một vẻ nghiêm khắc phi thường—thứ nghiêm khắc của một người thầy không muốn nhìn thấy học trò của mình gục ngã trước số phận:

"Nam, cô không giúp em để đòi hỏi em phải mang ơn cô hay nói những lời cảm kích sáo rỗng. Nhưng sự hỗ trợ này của cô chỉ có ý nghĩa khi em chứng minh được bằng hành động rằng em hoàn toàn xứng đáng với nó. Em phải học một cách nghiêm túc, đều đặn, không được phép bỏ sót bất kỳ một bài tập nào cô đã giao, dù đêm đó em có mệt mỏi đến đâu. Và quan trọng nhất: em phải biết lượng sức mình, phải biết cách giữ gìn lấy thể xác, không được để mình kiệt sức rồi lăn ra ốm gục giữa chừng. Nếu em bỏ cuộc nửa chừng, nếu em cầm tờ đơn này về rồi vì sợ hãi, vì hèn nhát mà buông xuôi, thì mọi sự cố gắng của cô—và cả những đêm em trốn trong chái phụ thắp đèn dầu trộm để học chữ—tất cả sẽ trở thành trò cười, thành sự lãng phí vô nghĩa. Em đã hiểu rõ lời cô nói chưa?"

"Dạ... em hiểu... em hiểu rồi thưa cô," cổ họng tôi nghẹn ứ, hai hốc mắt cay xè như bị xát ớt bột, từng thớ cơ trên gương mặt gầy gò căng cứng lại vì nỗi xúc động quá lớn đang cuộn trào trong ngực.

"Cầm lấy tập tài liệu này về," cô dứt khoát đẩy tập giấy đóng chỉ bao tải dày cộp về sát mép bàn tôi đứng, rồi ngón tay trỏ thon gầy gõ nhẹ lên tờ đơn đăng ký. "Và cả tờ giấy này nữa. Cầm về thưa chuyện đàng hoàng với bác Lương. Nói rõ với bác rằng về phần lệ phí mười lăm nghìn, cô sẽ tìm cách vận động công đoàn nhà trường hỗ trợ em một phần. Nhưng chữ ký cam kết của gia đình thì dứt khoát phải có, không có chữ ký của người giám hộ thì nhà trường không thể hợp thức hóa hồ sơ để gửi lên Phòng Giáo dục huyện được."

Tôi run rẩy đưa hai bàn tay chai sần, đầy những vết xước rớm máu vì gai dẻ bưng lấy tập tài liệu cũ từ mặt bàn. Nó nặng trịch, một sức nặng cụ thể và hữu hình đè lên đôi cổ tay nhỏ thó của tôi. Mùi giấy ố mục lẫn mùi chỉ bao tải ẩm ướt phả vào cánh mũi, ráp ráp nơi da thịt, nhưng tôi lại cảm nhận được hơi ấm nồng nàn truyền ra từ từng nét chữ mực xanh nắn nót của cô Hạnh ở góc lề. Tôi cẩn thận nâng niu tờ đơn đăng ký màu vàng ngà, gấp đôi nó lại một cách chuẩn xác, kẹp sâu vào giữa những trang đề thi dày cộp để không bị nhàu nát. Rồi tôi vạch vạt áo bông rách tơi tả của mình ra, nhét trọn tập tài liệu vào sát lồng ngực, cài chặt chiếc cúc gỗ tròn sờn cũ lại. Tôi ôm ghì lấy nó trước ngực như đang ôm ấp lấy sinh mệnh, lấy báu vật thiêng liêng và duy nhất mà số phận ban phát cho mình.

Tôi gập người cúi đầu chào cô Hạnh thật thấp, sâu đến mức trán suýt chạm vào cạnh bàn, rồi quay ngoắt người, lao vụt ra khỏi cánh cửa kho thóc cũ.

Gió lạnh chiều đông từ khe Pha Luông quất thẳng vào mặt tôi như những nhát roi da quất xé thịt. Cái buốt giá làm rát bỏng hai gò má, nhưng đôi chân trần của tôi vẫn chạy thục mạng trên con đường mòn lởm chởm những đá hộc sắc nhọn dẫn về bản Nà Ban. Dưới chân dốc đứng, tiếng suối réo gầm gừ như muốn nuốt chửng màn đêm đang sập xuống. Cành cây hai bên đường quẹt vào tay áo sột soạt, sương muối bắt đầu buông xuống thành những hạt li ti giăng kín lối đi, bám trắng xóa trên mái tóc bờm xờm của tôi.

Thế nhưng trong tâm trí tôi lúc này, không gian và thời gian dường như biến mất, chỉ còn lại những con số đang nhảy múa điên cuồng, lạnh lùng và nghiệt ngã.

Mười lăm nghìn đồng lệ phí thi.

Dù cô Hạnh nói sẽ cố gắng xin công đoàn nhà trường hỗ trợ một phần, nhưng dòng máu kiêu hãnh và lòng tự trọng cay đắng của một đứa trẻ mồ côi mách bảo tôi rằng, tôi tuyệt đối không thể trút toàn bộ gánh nặng ấy lên vai một cô giáo cắm bản nghèo xơ xác như cô. Cô cũng phải ăn, phải sống, phải chắt bóp từng đồng lương còm cõi gửi về xuôi phụng dưỡng mẹ già ở quê. Tôi bắt buộc phải tự mình kiếm ra một phần số tiền ấy, bằng chính mồ hôi và sức lao động của mình.

Nhưng kiếm bằng cách nào ở cái chốn rừng thiêng nước độc này?

Tôi vừa chạy vừa thở dốc, trong đầu bắt đầu nhẩm tính từng đồng bạc lẻ một cách chua chát. Mỗi tháng, chợ xóm Mo chỉ họp đúng hai phiên vào ngày mùng năm và ngày hai mươi âm lịch. Nếu tôi muốn có tiền, tôi sẽ phải thức dậy từ ba giờ sáng, lén trèo lên tận những đỉnh núi đá tai mèo trơn trượt của rừng già để mót những cành ngo khô đẫm dầu thông. Phải chặt, phải bửa từng thanh nhỏ bằng ngón tay trỏ, bó lại thành từng lọn củi ngo thơm phức đem gùi xuống chợ bán cho cánh lái buôn dưới xuôi lên thu gom măng khô dùng để nhóm lửa. Mỗi lọn củi ngo như thế, bán đắt lắm cũng chỉ được hai trăm đồng. Một buổi sáng cật lực leo núi đến rách toạc gót chân, đôi vai gầy guộc của tôi cùng lắm chỉ gùi nổi ba lọn lớn, nghĩa là thu về được sáu trăm đồng bạc lẻ.

Nếu tôi nhịn trọn vẹn bữa trưa, lén bớt lại hai củ sắn luộc trong phần ăn còm cõi của mình mang ra đổi cho đám trẻ con xóm Mo lấy những vỏ lon bia rỗng hay vài mẩu dây đồng nát vụn, may ra một phiên chợ tôi gom góp thêm được hai ba trăm đồng nữa. Để có đủ mười lăm nghìn đồng nộp lệ phí thi—đó là tôi còn chưa dám mơ tưởng đến khoản hai mươi lăm nghìn tiền mua sách tài liệu chuẩn của phòng—tôi sẽ phải nai lưng ra làm việc quần quật suốt ít nhất ba tháng ròng rã, không được phép bỏ sót bất kỳ một phiên chợ nào, và phải cầu trời khấn phật không đánh rơi mất một đồng xu sứt mẻ nào trên đường mòn.

Nhưng làm sao tôi có thể đi chợ phiên kiếm tiền khi mà mỗi sớm mai, chiếc roi dẻ gai của bác Lương đã chực sẵn bên bậu cửa để lùa tôi lên nương ngô?

Và cái giá đắt đỏ nhất, khủng khiếp nhất đè nặng lên tôi lúc này không phải là mười lăm nghìn bạc. Cái giá đắt nhất chính là bốn mươi lăm phút học bù sau giờ tan lớp.

Đối với những đứa trẻ con nhà lành lặn ngoài thị trấn, bốn mươi lăm phút chỉ là một ván bi ranh mãnh, vài vòng quay con cù gỗ hay một ván nhảy dây rộn rã tiếng cười ngoài sân đất. Nhưng đối với một đứa con mồ côi ăn nhờ ở đậu như tôi, bốn mươi lăm phút muộn màng ấy đồng nghĩa với một thảm họa nhãn tiền. Bốn mươi lăm phút nán lại lớp đồng nghĩa với việc bóng tối đen đặc sẽ ập xuống đáy thung lũng trước khi tôi kịp lùa đàn trâu từ bãi thả về đến cổng chuồng. Bốn mươi lăm phút nghĩa là tôi sẽ có mặt trên nương Pha Luông muộn hơn thường lệ, và những vạt cỏ tranh sắc như dao lam bám quanh những hốc ngô giống sẽ không kịp vỡ xong trước khi màn sương muối độc địa buông trắng xóa các đỉnh đồi.

Tôi rùng mình khi hình dung ra gương mặt sạm đen như da trâu luộc, chằng chịt những đường gân xanh nổi cuồn cuộn của bác Lương khi thấy bóng tôi thập thễnh bước qua cổng chuồng trâu trong bóng tối nhá nhem. Lời răn đe lạnh buốt của bác trong bữa cơm tối cách đây mấy hôm lại dội về bên tai tôi, chát chúa hệt như tiếng búa tạ nện chan chát vào đe sắt: *"Từ mùa tới mày phải làm như người lớn, nhà này không nuôi đứa chỉ biết mơ mộng viển vông!"*

Bác Lương tôi không bao giờ nói đùa. Cuộc đời khốn nạn, cay nghiệt đã biến bác thành một hòn đá hộc sắc lạnh. Mỗi giọt mồ hôi mặn chát của bác đổ xuống thung lũng này đều chỉ nhằm một mục đích duy nhất: níu giữ lấy sự tồn tại trần trụi của cả một gia đình đang oằn lưng gánh món nợ ma chay của cha mẹ tôi để lại. Bác nhìn cuộc đời này bằng thước đo sòng phẳng, tàn nhẫn của lưỡi cuốc: nhát cuốc bổ xuống đất thì đào ra củ sắn, củ mài nhét vào miệng; còn bám lấy mấy con chữ của thầy cô giáo thì chỉ có nước chết đói rục xương. Đối với bác, một kỳ thi học sinh giỏi ở tận ngoài huyện xa xôi không chỉ là một trò hão huyền vô bổ, mà là một sự phản bội trắng trợn đối với nương rẫy, là hành vi trộm cắp trắng trợn sức lao động mà tôi có nghĩa vụ phải cống nạp từng ngày để trả nợ áo cơm.

Tôi dừng bước bên mỏm đá ngắm cảnh đầu bản Nà Ban, nơi có cây ban già cỗi đứng cô độc trơ trọi giữa trời đông rét mướt. Những cành cây khẳng khiu, xám xịt chĩa thẳng lên nền trời đùng đục như những cánh tay khô héo đang vặn vẹo van nài sự sống. Gió thốc mạnh làm vạt áo bông rách bung ra, ép tập tài liệu dày cộp cộm vào da thịt tôi buốt ngắt. Tôi áp chặt bàn tay nứt nẻ lên ngực áo, nơi tờ đơn đăng ký màu ngà đang nằm im lìm bên cạnh trái tim đang đập loạn nhịp.

Tôi biết rõ, cánh cửa dẫn ra một thế giới khác vừa hé mở trước mắt tôi một khe sáng le lói vô ngần, nhưng để có thể lách người bước qua khe sáng ấy, tôi sẽ phải trèo qua cả một bức tường đá dựng đứng—bức tường thành kiên cố được dựng bằng sự nghèo đói, bằng những định kiến tàn nhẫn của dòng tộc và bằng chính những giới hạn mong manh cùng cực của thể xác tôi.

Tôi về đến khoảng sân đất nện trước căn nhà gỗ của bác Lương khi vạt nắng yếu ớt cuối cùng trên đỉnh Pha Luông vừa tắt lịm, nhường chỗ cho lớp sương muối lạnh ngắt sà xuống bao trùm lấy toàn bộ thung lũng Nà Ban.

Không dám chần chừ một giây, tôi vội vã lách người qua cánh cửa liếp ọp ẹp vào gian chái phụ tối tăm. Gian phòng ẩm thấp sặc mùi phân trâu bốc lên từ gầm sàn và mùi nấm mốc của vách nứa mục nát. Tôi quỳ thụp xuống nền đất, cẩn thận thọc sâu cánh tay vào khe nứt sâu nhất của vách đá tự nhiên phía sau chiếc chõng tre ọp ẹp. Đây là góc bí mật duy nhất của tôi trong căn nhà này. Tôi lấy mảnh nilon cũ rách nhặt được ở bãi rác bìa rừng, bọc kín từng góc cạnh của tập tài liệu đóng chỉ bao tải và tờ đơn đăng ký màu ngà, rồi nhét sâu vào hốc đá. Tôi cẩn thận vần hai hòn đá hộc xù xì chèn chặt miệng hốc lại, ngụy trang bằng một lớp rơm khô rải đều bên ngoài, lòng nơm nớp lo sợ chỉ cần một cơn gió quẩn hay một cái nhìn vô tình của bác Lương cũng có thể thổi bay cái hy vọng mong manh vừa mới nhen nhóm.

Xong xuôi, tôi vơ vội lấy chiếc dao quắm đã mòn vẹt sống dao dựng ở góc cột, lao phắt ra sau chuồng lợn. Đôi bàn tay tôi tê cóng vì gió rét cắt da cắt thịt, các khớp ngón tay cứng đờ như que củi khô, nhưng nhịp chém vào những thân chuối rừng mọng nước vẫn phải thoăn thoắt, dồn dập. Từng lát chuối mỏng tanh rơi rụng đều đặn xuống chiếc máng gỗ sứt sẹo; tôi phải băm cho xong hai chậu lớn để kịp trộn với cám gạo nấu cho nồi cám lợn sủi bọt trước khi trời tối đen như mực.

Khi nồi cám lợn vừa bắt đầu lục bục sôi trên bếp củi ngún khói cay xè mắt, con Vàng đang nằm co ro dưới gầm cầu thang bỗng chồm dậy, sủa ran lên từng hồi gắt gỏng ra phía cổng rào.

Bác Lương đang ngồi xổm bên bậu cửa chính của gian nhà trên, hai ống quần chàm xắn cao để lộ bắp chân gân guốc đầy sẹo, tay cầm chiếc điếu cày bằng nứa bóng nhẫy màu cánh gián, ngẩng phắt đầu lên. Bác nheo đôi mắt đục ngầu, hằn sâu những tia máu đỏ nhìn qua màn sương chiều bảng lảng đang cuộn đặc ngoài sân. Bóng một người phụ nữ mảnh khảnh trong chiếc áo gió sờn bạc màu xanh rêu, đôi ủng nhựa dính đầy bùn đất đỏ quạch trơn trượt, chầm chậm bước lên dốc đá dẫn vào nhà.

Bác Lương khẽ nhíu mày, nét mặt lập tức đanh lại khi nhận ra cô giáo Hạnh.

Ở cái bản Nà Ban heo hút này, người lớn trong bản chỉ giáp mặt thầy cô giáo cắm bản trong đúng hai trường hợp: hoặc là con cái họ nghịch ngợm phá phách làm sập vách nứa, vỡ ngói lớp học, hoặc là các thầy cô phải lặn lội đến từng bếp lửa van nài phụ huynh đừng bắt lũ trẻ bỏ học nửa chừng để lên nương tra hạt tỉa bắp. Sự xuất hiện bất ngờ của cô Hạnh vào lúc nhá nhem tối lập tức phả vào không gian khoảng sân đất nện một luồng không khí căng thẳng, bức bối đến nghẹt thở.

"Chào bác Lương," cô Hạnh cất tiếng chào, dừng lại bên thềm đá xanh rêu. Hơi thở của cô phả ra một làn khói trắng mỏng manh giữa cái rét căm căm. "Tôi đi dạy về ghé qua đây, muốn thưa với bác đôi câu chuyện học hành của cháu Nam."

Bác Lương không buồn đứng dậy, chỉ đặt chiếc điếu cày tựa vào cột nhà bằng gỗ nghiến xám xịt, đưa bàn tay thô ráp phủi những vụn thuốc lào bám trên đầu gối chiếc quần vá víu:

"Cô giáo cắm bản lặn lội đêm hôm lên tận dốc này chắc lại có chuyện gì hệ trọng lắm. Thôi thì mời cô vào nhà uống chén nước lá vối cho ấm người."

Gian nhà ngoài của bác Lương tối nhờ nhờ, không thắp đèn dầu để tiết kiệm dầu hỏa, chỉ có ánh lửa bập bùng, vàng quạch hắt ra từ gian bếp trong của bác dâu Sương qua khe liếp nứa. Mùi mỡ lợn rán cháy khét lẹt quyện với mùi khói củi thông ướt sũng khiến không khí trong nhà càng thêm ngột ngạt, đè nặng lên lồng ngực. Bác Lương ngồi trịch trên chiếc ghế gỗ xoan thấp đóng bằng đinh ba phân xộc xệch, hai bàn tay nứt nẻ như vỏ cây dẻ gai đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối. Cô Hạnh ngồi đối diện ở phía bên kia chiếc bàn nước ghép bằng những thanh ván bìa gồ ghề.

Tôi run rẩy nép sát mình bên mép cửa nứa ngăn cách giữa gian nhà ngoài và bếp lửa, hai bàn tay bấu chặt vào gấu áo bông sờn rách, nghe rõ từng nhịp tim đập thình thịch, hoảng loạn trong lồng ngực như muốn vỡ tung ra ngoài.

Cô Hạnh đặt chiếc túi vải bạt bạc màu lên đùi, chỉnh lại quai đeo, giọng cô cất lên từ tốn, điềm đạm nhưng từng âm tiết đều dứt khoát, rõ ràng:

"Thưa bác Lương, tối hôm nay tôi lặn lội đến đây là muốn bàn bạc trực tiếp với gia đình về việc học tập của cháu Nam. Qua quá trình giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy Nam là một đứa trẻ có tố chất đặc biệt, cháu tiếp thu bài giảng rất nhanh, khả năng tư duy hình học và tính toán số học vượt trội hơn hẳn tất cả các bạn cùng trang lứa trong toàn bộ điểm trường bản này. Vừa rồi, nhà trường nhận được công văn chính thức của Phòng Giáo dục huyện về việc tổ chức kỳ thi tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi môn Toán cấp huyện. Tôi đã chủ động lập danh sách đăng ký cho Nam. Kỳ thi này là một cơ hội vô cùng lớn để cháu được cọ xát với học sinh toàn huyện, và nếu đạt được kết quả cao ở vòng chung kết, Nam sẽ có cơ hội rất lớn được xét tuyển thẳng vào trường phổ thông dân tộc nội trú huyện. Khi vào đó, toàn bộ tiền ăn, tiền ở, sách vở và quần áo của cháu đều sẽ được nhà nước chu cấp hoàn toàn, gia đình không phải lo lắng một đồng nào nữa."

Lời cô Hạnh vừa dứt, cả căn nhà gỗ bỗng chìm vào một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt và nặng nề như trước một cơn giông bão. Không gian tĩnh phắc đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng que củi ướt nổ lách tách trong bếp lò của bác dâu Sương và tiếng gió rít từng hồi qua kẽ nứa sau lưng tôi.

Bác Lương không trả lời ngay. Bác từ từ nghiêng người, với lấy que đóm nứa cắm ở kẽ vách, châm vào ngọn lửa than đỏ rực trong chiếc bát sành đựng tro, rồi dí sát vào nõ điếu cày. Tiếng nước điếu sòng sọc rít lên khô khốc, xé toang bầu không khí tĩnh mịch một cách tàn nhẫn. Bác ngửa cổ ra sau, nhả ra một luồng khói xám xịt, đặc quánh mùi thuốc lào đắng ngắt. Ánh mắt bác đục ngầu, lạnh lùng nhìn trừng trừng lên những bắp ngô giống khô quắt đang treo lủng lẳng trên xà nhà phủ đầy mồ hóng đen kịt.

"Học sinh giỏi?" Bác Lương cất giọng, âm thanh khàn đặc, gằn xuống từng tiếng nặng trịch như tảng băng trôi dưới đáy vực sâu. "Cô giáo cắm bản nói cho tôi nghe xem, cái kỳ thi học sinh giỏi ấy của cô có làm ra hạt ngô, củ sắn để nhét vào mồm nuôi sống cái thân nó và cái nhà này không?"

"Bác Lương, việc học hành là chuyện đầu tư cho tương lai lâu dài của một con người—" cô Hạnh kiên nhẫn lựa lời giải thích.

"Nhà này không có cái thứ tương lai lâu dài ấy đâu, cô giáo ạ!" Bác Lương cắt phăng lời cô, giọng bác rít qua kẽ răng đầy vẻ cay nghiệt. Bác dằn mạnh chiếc điếu cày nứa xuống nền đất nện phát ra một tiếng *thịch* nặng nề, làm tro bụi thuốc lào bay tung tóe quanh chân ghế. "Cái đói, cái rét nó đang đuổi sát sạt sau gót chân cả cái nhà này rồi! Cả sáu miệng ăn trông cậy hết vào mấy vạt nương đá trên đỉnh Pha Luông kia kìa. Thằng Hòa chết đi, nó để lại cho tôi cái gì? Một đống nợ tiền thuốc thang chạy chữa khi nó ốm, tiền hai cỗ áo quan gỗ dổi mua chịu của lão Thào xóm Mo đến tận bây giờ tôi vẫn phải nai lưng, còng rạp người ra gánh nợ từng vụ ngô. Tôi nhận cưu mang, nuôi báo cô thằng Nam ở cái xó nhà này là vì nó mang họ Nguyễn, vì nó là giọt máu duy nhất của em trai tôi để lại cho dòng họ, chứ cái nhà này lấy đâu ra của ăn của để dư thừa mà nuôi một đứa tối ngày chỉ biết ôm mấy mẩu giấy lộn rồi mơ mộng viển vông?"

"Cháu Nam không hề lười biếng một ngày nào cả, thưa bác Lương," cô Hạnh vẫn điềm tĩnh đáp lại, ánh mắt kiên định của cô nhìn thẳng vào gương mặt quắt queo, chằng chịt những vết nhăn nheo hằn sâu vì sương gió và sự bần hàn của người đàn ông chủ gia đình. "Cháu nó vẫn hoàn thành đầy đủ mọi công việc mà gia đình giao phó trước khi đến lớp. Nhưng tố chất và năng lực học toán của Nam thực sự là của hiếm ở mảnh đất vùng cao này. Nếu bác tạo điều kiện cho cháu đi thi—"

"Đi thi thì mất đứt bao nhiêu ngày công?" Bác Lương trừng mắt, ngón tay trỏ thô kệch, móng tay đóng đầy đất đen chỉ thẳng ra ngoài khoảng sân tối om. "Cô có biết mùa sương muối đã ập xuống đầu rồi không? Trên nương Pha Luông hiện giờ còn trơ trơ ra cả một vạt đồi toàn đá hộc và cỏ gianh già chưa kịp dọn. Cần từng ấy công phạt cỏ, từng ấy công khiêng đá, bổ từng hốc đất để kịp tra hạt trước khi sương muối làm thối mầm ngô. Nó đi học buổi sáng, tôi đã phải bấm bụng, cắn răng chịu điều tiếng với họ hàng làng bản để cho nó đi vì sợ người ta dị nghị bảo thằng Lương bạc đãi, bóc lột cháu ruột mồ côi. Nhưng giờ cô lại đòi nó học thêm các buổi chiều, học trọn cả ngày Chủ nhật, rồi khăn gói đỏ nước ra tận ngoài huyện thi thố? Thế tôi hỏi cô, những buổi nó vắng mặt, ai là người vác cuốc lên nương thay nó? Ai gùi nước từ mó suối về đổ đầy chum? Ai vỡ từng hốc đá thay phần việc của nó?"

Bác Lương rướn người về phía trước, ánh mắt rực lên vẻ thực dụng tàn bạo của một kẻ cả đời bị cái nghèo đói bóp nghẹt lấy cổ họng:

"Một buổi nó bỏ nương là hỏng toi một vạt ngô giống. Mất mùa thì cả nhà này ôm nhau nhịn đói qua mùa giáp hạt, chứ cái chữ nghĩa trong sách của cô có mang ra bắc lên chõ mà đồ thành mèn mén ăn được không? Nó đi thi, nhà này mất trắng sức lao động của một người lớn, con tôi mất đi chén cơm chia phần, ai sẽ đền bù cho tôi? Khoản nợ mua quan tài của cha nó, ai sẽ đứng ra trả thay cho cái nhà này?"

Từng lời, từng chữ của bác Lương như những nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ tôi, làm tai tôi ù đi, lồng ngực quặn thắt lại trong một cơn đau đớn dữ dội. Máu trong người tôi dường như đông cứng lại thành băng đá. Sự sòng phẳng cay đắng, tàn nhẫn ấy tôi đã nghe đến nhẵn tai trong những bữa cơm độn sắn suốt mấy năm qua, nhưng khi từng câu từng chữ trần trụi ấy bị phơi bày ra ngay trước mặt cô Hạnh—người duy nhất trên cõi đời này nhìn tôi bằng ánh mắt tôn trọng và tràn đầy kỳ vọng—tôi cảm thấy nhân phẩm non nớt của mình bị bóp nát, bị giẫm đạp không thương tiếc. Tôi thấy xấu hổ đến mức chỉ muốn đất dưới chân nứt toác ra để tôi chui tọt xuống đáy sâu, muốn tan biến vào bóng đêm vĩnh cửu để khỏi phải đối diện với ánh nhìn của cô giáo.

Không thể kìm nén thêm được nữa, tôi run rẩy bước chân ra khỏi bóng tối của gian chái bếp. Đôi bàn chân trần lạnh ngắt của tôi dán chặt lên nền đất nện ẩm ướt.

"Bác Lương... cô Hạnh..." tôi cất tiếng, thanh âm run rẩy nhưng cố gồng mình lên để giữ cho tiếng khóc không vỡ òa ra nơi khóe mắt. "Cháu... cháu sẽ cố gắng, cháu nhất định không bỏ bê một việc nào đâu ạ."

Cả bác Lương và cô Hạnh cùng giật mình quay ngoắt lại nhìn tôi.

Tôi cắn chặt môi đến bật máu, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo bông vá chằng vá đụp, nói một hơi dồn dập như thể sợ rằng nếu ngập ngừng dù chỉ nửa giây, tất cả sự can đảm liều lĩnh của tôi sẽ tan biến sạch sành sanh:

"Cháu hứa cháu sẽ thức dậy từ bốn giờ sáng, cháu sẽ gánh nước đổ đầy cả hai chum lớn ngoài sân, dọn sạch toàn bộ phân dưới chuồng trâu rồi cháu mới đi học. Buổi chiều sau khi ở lại lớp học bù về muộn, cháu sẽ leo ngay lên nương cuốc bù ban đêm dưới ánh trăng. Ngày Chủ nhật được nghỉ, cháu sẽ vác đá hộc nhiều gấp đôi phần việc của anh Tùng. Cháu xin bác... cháu lạy bác, cháu hứa sẽ làm xong tất cả mọi việc, tuyệt đối không để lỡ một hốc ngô nào của nhà mình đâu ạ!"

Tôi cúi gập đầu xuống, hai vai run lên bần bật theo từng nhịp thở ngắt quãng. Lồng ngực tôi phập phồng vì những giọt nước mắt nghẹn ứ nơi cổ họng. Đó là tất cả những gì một đứa trẻ chưa đầy sáu tuổi như tôi có thể đem ra để mặc cả với số phận nghiệt ngã: chút sức lực cơ bắp gầy gò, những giấc ngủ chập chờn và những giọt mồ hôi mặn chát của chính thể xác mình. Tôi không có tiền bạc, không có tiếng nói, tôi chỉ có thể tự nguyện biến bản thân thành một cỗ máy lao động kiệt quệ hơn nữa, sẵn sàng vắt kiệt từng giọt tủy xương để đổi lấy quyền được cầm lấy cây bút chì gọt dở.

Cô Hạnh nhìn trân trối vào tôi. Đôi mắt sau tròng kính cận của cô không hề ánh lên sự hài lòng hay ngợi khen trước những lời thề thốt đầy nỗ lực ấy. Ngược lại, tôi nhìn thấy trong đáy mắt người cô giáo trẻ một nỗi xót xa thăm thẳm, một cái nhìn trĩu nặng sự thấu hiểu đến đau lòng. Cô đưa mắt nhìn đôi bàn tay trầy trụa, rớm máu vì băm chuối rừng của tôi, nhìn vết sẹo thâm tím kéo dài do cành dẻ gai quất vẫn còn hằn rõ trên cổ chân gầy guộc, và cô hiểu hết.

Cô hiểu rằng đằng sau cái vẻ lì lợm, ngoan ngoãn đến tội nghiệp kia không phải là sự chăm chỉ đơn thuần của một đứa trẻ hiếu học, mà là một linh hồn nhỏ bé đang phải oằn mình chống đỡ lấy cả những món nợ truyền kiếp, những nhục nhằn cay đắng vượt xa sức chịu đựng của một kiếp người. Cậu học trò nhỏ của cô không đơn thuần là thiếu thốn vài cuốn sách, vài trang vở trắng; cậu đang phải đem chính da thịt, gân cốt của mình ra để thế chấp cho cái đói nghèo dai dẳng của cả một gia đình.

"Nam, em không thể tự vắt kiệt sức lực của mình như thế được đâu," cô Hạnh khẽ nói, giọng cô run lên, nghẹn lại nơi cuống họng.

"Cháu làm được mà cô ơi!" Tôi ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt tuyệt vọng dán chặt vào gương mặt cô rồi lại quay ngoắt sang nhìn bác Lương van nài. "Cháu quen với việc nương rẫy từ nhỏ rồi, cháu không mệt mỏi đâu, cháu chịu được hết mà bác Lương!"

Đúng vào lúc sự ngột ngạt trong căn nhà đã bị đẩy lên đến đỉnh điểm, tấm rèm vải bao tải dứa ngăn cách giữa gian nhà ngoài và gian bếp khẽ lay động sột soạt. Bác dâu Sương chầm chậm bước ra. Trên hai bàn tay chai sần, đen đúa vì nhọ nồi của bác là chiếc rổ tre cũ kỹ đựng mấy củ sắn luộc sượng ngắt, vỏ ngoài đã nứt toác để lộ phần ruột trắng nhờ nhờ bốc khói nghi ngút. Bác không nhìn thẳng vào ai, chỉ lẳng lặng đặt chiếc rổ tre lên góc bàn nước rồi lùi lại một bước, đứng tựa lưng vào cây cột cái bằng gỗ nghiến giữa nhà.

Cô Hạnh hít một hơi thật sâu, lấy lại sự bình tĩnh rồi quay sang nhìn cả bác Lương và bác Sương, quyết định nói ra cái nút thắt khó khăn và nghiệt ngã nhất của buổi tối hôm nay:

"Thưa bác Lương, thưa bác Sương, tôi hoàn toàn thấu hiểu và chia sẻ với những khó khăn, gánh nặng mà gia đình đang phải gánh vác từng ngày. Nhưng kỳ thi này thực sự là một cơ hội đổi đời hiếm có đối với tương lai của cháu Nam sau này. Về phần thủ tục hồ sơ, nhà trường bắt buộc phải thu khoản lệ phí thi theo quy định của Phòng Giáo dục là mười lăm nghìn đồng. Tôi biết rõ trong hoàn cảnh hiện tại, số tiền này đối với gia đình là không hề nhỏ—"

"Mười lăm nghìn?" Bác Lương bật ra một tiếng cười khẩy cay độc, sắc nhọn như mảnh sành vỡ, cắt phăng lời cô giáo đang nói dở. "Cô giáo bảo bao nhiêu cơ? Mười lăm nghìn bạc à? Tiền bạc ở cái đất này là mồ hôi nước mắt, là máu chảy ruột mềm chứ có phải lá rừng rụng ngoài ngõ đâu mà đem quẳng qua cửa sổ cho một cái kỳ thi viển vông, hão huyền? Một nghìn tôi cũng dứt khoát không có, chứ đừng nói đến mười lăm nghìn bạc!"

Tiếng quát tháo lôi đình của bác Lương gầm lên chấn động cả gian nhà gỗ thưng nứa, làm mấy bắp ngô khô trên xà nhà khẽ đung đưa qua lại.

Nhưng điều làm tôi bàng hoàng và kinh ngạc nhất vào giây phút nghiệt ngã ấy không phải là cơn thịnh nộ lôi đình của bác Lương—bởi đó là phản ứng tôi đã lường trước từ lúc cầm tờ đơn—mà chính là thái độ lặng lẽ đến kỳ lạ của bác dâu Sương.

Ở cái nhà này, tôi biết quá rõ tính nết của bác dâu. Bình thường, chỉ cần nghe đến hai chữ "tiền nong" hay bất cứ một khoản chi phí nào dù chỉ vài trăm đồng dính dáng đến tôi, bác Sương sẽ là người nhảy dựng lên đay nghiến đầu tiên. Bác sẽ bù lu bù loa chửi rủa từ lúc bếp đỏ lửa cho đến khi tro tàn lạnh ngắt, bác sẽ lôi cái chết của cha mẹ tôi ra để kể lể từng cân gạo hẩm, từng củ sắn sượng mà cái gia đình này đã phải nhịn mồm nhịn miệng để cưu mang đứa cháu mồ côi ăn tốn cơm tốn vải.

Thế nhưng tối nay, khi hai chữ "lệ phí" mười lăm nghìn rành rọt thốt ra từ miệng cô Hạnh, bác dâu Sương lại hoàn toàn im lặng.

Bác đứng chôn chân bên cây cột cái, chiếc tạp dề may bằng bao tải cám cò dính đầy tro than và dầu mỡ khẽ run rẩy theo từng nhịp thở ngập ngừng, dồn dập. Ánh mắt đục ngầu, mệt mỏi của người đàn bà lam lũ không hề hướng về phía cô giáo Hạnh, cũng không nhìn vào người chồng đang đùng đùng nổi giận trên ghế. Bác từ từ quay đầu, đưa ánh mắt trĩu nặng nhìn chằm chằm vào chiếc chum sành đựng gạo đặt lọt thỏm trong góc tối tăm nhất của gian bếp—chiếc chum gạo sứt miệng mà ban chiều chính tay bác đã phải dùng chiếc gáo dừa cào vét từng hạt cuối cùng để nấu bữa cơm tối độn sắn củ, bên trong đáy chum trơ trọi chỉ còn lại một lớp cám khô mốc meo bám chặt.

Rồi ánh mắt nặng trĩu ấy chầm chậm chuyển dời, dừng lại trân trối trên thân hình gầy guộc của tôi.

Bác nhìn đôi chân khẳng khiu như hai que sậy cắm trên mặt đất của tôi, nhìn vết rách toác hoác ở nách chiếc áo bông chàm mà đêm hôm qua, chính tay bác đã ngồi còng rạp lưng bên ngọn đèn dầu hỏa leo lét để chắp vá, tỉ mẩn nhét từng nhúm bông gạo vụn vào cho tôi đỡ rét mướt. Trong đôi mắt sâu hoắm, hằn đầy những nếp nhăn cay nghiệt của người đàn bà cả đời bủn xỉn ấy bỗng dấy lên một sự xáo trộn tâm can dữ dội: có nỗi bất lực cùng cực của kẻ nghèo hèn bị cái đói bóp chết mọi lòng tốt, có một sự xót xa thầm kín bị chôn chặt dưới đáy lòng, và có cả sự giằng xé cay đắng, đau đớn của một người mẹ nghèo luôn buộc phải ưu tiên miếng ăn cho những đứa con ruột thịt của mình trước tiên.

Bác Sương không mở miệng nói một lời nào. Bác không lên tiếng hứa hẹn sẽ cho tôi vay mượn dù chỉ một xu, cũng không dám cất giọng xin người chồng vũ phu nương tay cho đứa cháu côi cút. Nhưng bác cũng tuyệt nhiên không hề hùa theo những lời sỉ vả tàn nhẫn, không thốt ra một câu chửi bới cay độc nào đối với tôi như mọi bận. Bác chỉ đứng trơ ra đó, lặng ngắt và câm lặng như một pho tượng đá xám xịt trong bóng tối nhá nhem của căn nhà, hai bàn tay thô kệch, nứt nẻ xoắn chặt lấy mép chiếc tạp dề bao tải đến mức trắng bệch cả các đầu ngón tay.

Sự im lặng nặng nề, câm nín ấy đối với tôi còn dữ dội và xót xa hơn cả ngàn lời chửi mắng thậm tệ. Nó mách bảo cho tôi một sự thật đau lòng: sâu thẳm trong thâm tâm người bác dâu khắc nghiệt này, bà không hề thù ghét hay muốn dập tắt ước mơ học hành của tôi; bà chỉ đơn giản là đang bất lực quỳ gối trước sự nghiệt ngã, tàn bạo của cái đói cơm rách áo mà thôi.

Cô Hạnh nhìn thấu toàn bộ phản ứng của hai người lớn trong nhà, rồi cô lại đưa mắt nhìn sang tôi. Là một người phụ nữ miền xuôi đã trải qua nhiều năm bám bản vùng cao, cô hiểu quá rõ rằng mọi lời lẽ thuyết phục cao đẹp về tương lai xán lạn, về bằng cấp hay danh dự gia đình vào lúc này đều trở nên vô nghĩa lý và kệch cỡm trước hiện thực trần trụi của một chiếc chum gạo đã cạn trơ đáy và một món nợ ma chay chưa biết ngày nào trả dứt. Cô không cố chấp tranh cãi thêm để đẩy không khí gia đình vào cảnh xung đột gay gắt, cũng không buông ra những lời hứa hẹn dễ dãi rằng cô sẽ đứng ra bao bọc toàn bộ chi phí hay gánh vác thay cho gia đình mọi khó khăn sinh kế. Cô đủ từng trải để hiểu rằng, lòng tự trọng nghèo khó của những con người nơi xóm núi này rất dễ bị tổn thương nếu nhận phải sự ban ơn thiếu tinh tế.

Cô Hạnh từ tốn đứng dậy, chỉnh lại quai chiếc túi vải bạt trên vai cho ngay ngắn.

"Tôi đã hiểu rõ hoàn cảnh và nỗi lòng của gia đình rồi," cô Hạnh nói, giọng cô hạ thấp xuống, điềm đạm, mộc mạc nhưng vẫn giữ trọn vẹn sự tôn nghiêm và tư cách của một người làm nghề dạy học. "Trời đã tối hẳn rồi, đường dốc trơn trượt, tôi xin phép bác Lương, bác Sương tôi về khu tập thể kẻo muộn. Còn về chuyện thi cử của cháu Nam, tôi sẽ có trách nhiệm báo cáo lại cụ thể với ban giám hiệu nhà trường sau."

Bác Lương chỉ khẽ hừ một tiếng cộc cằn trong lỗ mũi, với tay cầm lại chiếc điếu cày nứa, không buồn đứng dậy tiễn khách lấy một bước.

Cô Hạnh bước ra khỏi bậu cửa, đôi ủng nhựa khẽ bước xuống những bậc thềm đá trơn trượt rêu phong, nơi lớp sương muối mùa đông đã bắt đầu kết thành một màng trắng xóa, lạnh buốt trên những bụi cỏ dại quanh sân. Lòng tôi trào dâng một nỗi ân hận và tủi hổ vô bờ. Tôi vội vã lao theo bóng cô ra ngoài màn đêm, chỉ muốn nói với cô một lời xin lỗi chân thành, muốn thưa với cô rằng tôi đã làm cô phải thất vọng, rằng sự tận tụy, lòng tốt bao la của cô đã bị uổng phí tại cái xó rừng tăm tối và khốn khổ này.

Nhưng khi tôi vừa bước chân xuống bậc đá cuối cùng, cô Hạnh bỗng dừng bước.

Cô quay người lại. Dưới ánh sáng vàng vọt, leo lét hắt ra từ ngọn đèn dầu qua khe cửa sổ gian nhà gỗ, cô nhìn thẳng vào khuôn mặt đầm đìa mồ hôi lạnh và nước mắt của tôi. Bàn tay gầy guộc, ấm áp của cô đưa lên, khẽ đặt lên bả vai run rẩy của tôi, ghì nhẹ một cái thật chặt—một cái siết tay truyền sang cho tôi tất cả sự kiên định, rắn rỏi và chở che mà một đứa trẻ đang chới với giữa dòng nước xiết cần có để bấu víu vào cuộc sống.

Cô không nhắc lại một lời nào về số tiền mười lăm nghìn đồng lệ phí thi. Cô cũng không bảo tôi phải tiếp tục quỳ lạy hay nài nỉ bác Lương ký vào tờ đơn cam kết. Đôi mắt sau cặp kính cận của cô sáng lên một vẻ kiên định lạ thường, cô nhìn sâu vào mắt tôi, khẽ dặn dò bằng một thanh âm thì thầm nhưng dứt khoát:

"Nam, chiều mai sau khi cả lớp tan học xong, em cứ ở lại. Đừng vội vã ra về."

Tôi ngơ ngác nhìn cô, miệng lắp bắp không thành tiếng:

"Cô... cô vẫn dạy bù cho em thật ạ? Nhưng... nhưng mà chuyện bác Lương..."

"Không phải chỉ có một con đường duy nhất để học toán đâu, Nam," cô Hạnh khẽ ngắt lời tôi. Khóe môi cô hơi gợn lên một nụ cười kín đáo, một nụ cười chất chứa một điều gì đó bí ẩn, sâu xa mà khối óc non nớt của tôi lúc này chưa thể nào hiểu nổi. "Em cứ làm tròn mọi bổn phận, làm tròn mọi công việc gia đình vào buổi sáng. Chiều mai ở lại lớp, cô sẽ chỉ cho em thấy một cách học hoàn toàn khác. Một cách mà có lẽ... những đêm thức trắng chép bài dưới ánh trăng mờ hay những giọt dầu hỏa chắt bóp sẽ không còn là con đường duy nhất để em giữ lấy con chữ nữa."

Nói dứt lời, cô Hạnh nhẹ nhàng buông tay khỏi vai tôi. Cô quay người, bước nhanh xuống con dốc đá trơn trượt của bản Nà Ban. Bóng dáng mảnh khảnh trong chiếc áo gió màu xanh rêu của cô nhanh chóng chìm dần, rồi tan biến hoàn toàn vào màn sương mù dày đặc đang cuộn trào từ khe núi Pha Luông lạnh giá. Tôi đứng chôn chân bên bờ rào nứa nhìn theo tiễn cô, lắng nghe tiếng bước chân ủng nhựa xa dần trên sỏi đá, lòng ngổn ngang với lời dặn dò bí ẩn về một cách học khác.

Suốt đêm hôm ấy, nằm co ro trên chiếc chõng tre ọp ẹp nơi chái phụ tối tăm, câu nói thì thầm của cô cứ dội đi dội lại trong tâm trí tôi như một bài toán chưa có đáp số. Bốn giờ sáng, tôi vùng dậy khi sương muối còn giăng trắng xóa đầu ngõ, múc nước đổ tràn hai chum sành ngoài sân, băm xong hai chậu chuối rừng trộn cám lợn rồi vác cuốc lên nương dốc Ban Nà cuốc xong một vạt đất trước khi mặt trời nhô lên khỏi rặng dẻ gai. Tôi cắn răng chịu đựng những cơn buốt rát nơi đầu ngón tay nứt nẻ, dốc cạn sức lực để bảo đảm bác Lương không có bất kỳ cái cớ nào trách phạt hay ngăn cản tôi ở lại trường vào buổi chiều.

Buổi học chiều hôm sau kết thúc khi tiếng kẻng bằng vỏ bom gỉ vang lên từng hồi khô khốc giữa sương núi mỏng manh. Đám bạn học reo hò túa ra khỏi lớp, tiếng chân chạy rậm rịch rồi chìm dần phía bên kia suối Nà Ban. Tôi nín thở ngồi im phắc ở góc bàn gỗ tạp cập khiễng, hai tay bấu chặt vào gấu áo bông sờn rách, ngước nhìn cô Hạnh đang cẩn thận thu dọn tập giáo án trên bục giảng. Cô ngẩng lên, nhìn tôi bằng ánh mắt vừa nghiêm cẩn vừa ấm áp, khẽ gật đầu: “Đi theo cô.”

Tôi lầm lũi bước theo cô Hạnh, băng qua khoảng sân đất nện lầy lội sương tan, vòng ra mé sau dãy lớp học mượn tạm của kho thóc hợp tác xã. Dưới tán cây dẻ già trụi lá trơ trọi giữa trời đông, cô dừng lại trước gian kho cũ kỹ đã lâu không dùng đến, rút chùm chìa khóa tra vào chiếc ổ khóa đồng hoen gỉ. Cánh cửa gỗ dán cọt kẹt mở ra, phả vào mặt tôi một mùi hương hoàn toàn xa lạ—mùi máy móc, mùi nhựa và kim loại nguội ngắt quyện trong không khí ẩm mốc của góc núi. Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt qua ô cửa kính mờ bụi, những cỗ máy tính cũ kỹ cồng kềnh trùm bạt dứa nằm im lìm trên dãy bàn gỗ thô ráp, đưa tôi bước vào căn phòng tin học cũ để tìm một cách học hoàn toàn khác.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories