Hồ Sơ Thám Tử Lâm PhongCh.1 / 24
Chapter 1

Vết Bụi Trên Khung Điệp

Tiếng chuông gió bằng đồng treo dưới hiên gác hai tiệm sách cũ Mực Nâu khẽ rung lên từng chập lanh lảnh khi một đợt gió mùa đông bắc đầu mùa tràn qua dãy phố Đinh Lễ, cắt ngang dòng suy nghĩ miên man của Lâm Phong bên bàn cờ tướng thế đang bày dở trên mặt bàn lim.

Phong buông lỏng hai ngón tay đang kẹp hờ quân pháo đỏ. Anh không vội vã đi tiếp nước cờ đang đặt mình vào thế giằng co nan giải, mà từ tốn với tay nhấc chiếc ấm đất Bát Tràng màu da lươn đã lên nước bóng sẫm, nghiêng tay châm một dòng nước sôi mảnh dẻ, trong vắt vào lòng chén gốm tráng men dong rêu. Hơi trà mạn Tân Cương bốc lên nghi ngút trong không gian tĩnh mịch, mang theo hương cốm non thoang thoảng lẫn vị chát ngầm đặc trưng, nhanh chóng quyện lấy mùi giấy ố vàng, mùi mực in đã khô kiệt qua nhiều thập kỷ và gáy sách cũ mục từ hàng vạn cuốn tiểu thuyết, từ điển, sách nghiên cứu khảo cứu đang nằm san sát, ken đặc dưới tầng trệt.

Căn gác nhỏ chừng hai mươi mét vuông này từ lâu đã trở thành nơi trú ẩn vừa vặn, lặng lẽ của anh giữa lòng một Hà Nội lúc nào cũng cuộn trào những biến động ngầm: một chiếc bàn gỗ lim dày dặn kê sát khung cửa sổ lớn trông thẳng xuống vòm sấu già đang trút những chiếc lá vàng muộn màng xuống mặt đường nhựa xám xịt; hai chiếc ghế bọc nỉ màu cỏ úa đã hơi sờn ở mép tay vịn dành cho những vị khách hiếm hoi ghé qua; một tủ hồ sơ bằng sắt sơn xanh thẫm có gắn ổ khóa bảo mật kiên cố kê sát vách tường phía trong; và một góc nhỏ dành riêng cho việc thưởng trà, nơi chiếc hỏa lò mini luôn giữ cho ấm nước sôi tăm tắp suốt từ sáng sớm đến tận chiều muộn.

Dưới lòng đường Đinh Lễ, dòng người đi bộ bắt đầu co ro thu mình lại trong những chiếc áo khoác gió mỏng manh. Nhịp bước vội vã, hối hả của một buổi chiều đầu đông dường như đã bị chặn đứng lại bên ngoài lớp cửa kính dày hai lớp, chỉ còn lọt vào trong căn phòng nhỏ những tiếng còi xe máy xa xăm vọng lại từ mạn Bờ Hồ, tiếng rao hàng rong lanh lảnh ở khúc quanh đường Nguyễn Xí, và tiếng sột soạt thân thuộc của từng trang giấy bản dưới tầng một khi có người lật giở tìm đọc một ấn bản hiếm hoi.

Cót két. Tiếng bậc cầu thang gỗ lim phát ra âm thanh khô khốc, quen thuộc báo hiệu có người quen đang bước lên. Đó là một nhịp chân dứt khoát, bước đôi thoăn thoắt, tràn đầy năng lượng tuổi trẻ không thể lẫn vào đâu được.

Cánh cửa gỗ dán tấm biển đồng nhỏ khắc dòng chữ khiêm nhường “Văn phòng Thám tử Lâm Phong” khẽ bị đẩy vào, mang theo một luồng gió lạnh buốt thấu xương cùng bóng dáng quen thuộc của Trần Minh Ngọc. Cô sinh viên báo chí năm cuối bước vào phòng, mái tóc ngắn cắt ngang chấm gáy hơi rối tung vì những cơn gió lộng ngoài phố, chiếc cổ cao được quấn kín trong tấm khăn len dệt họa tiết carô đỏ đen nổi bật. Dưới nách cô là một xấp bìa hồ sơ màu nâu kẹp chặt tập tài liệu in dày cộm mép giấy phẳng phiu, còn bàn tay bên kia vẫn thoăn thoắt cầm chiếc máy tính bảng màn hình đang sáng trưng những bảng biểu số liệu chi chít.

"Em đoán là anh vừa ngâm trà xong được chừng hai phút," Ngọc mỉm cười tươi tắn, không cần đợi chủ nhà mời mọc, cô tự nhiên kéo chiếc ghế gỗ đối diện bàn làm việc của Phong rồi đặt cả xấp tài liệu dày cộm xuống mặt bàn gỗ lim vang lên một tiếng cộp giòn giã. "Dưới tầng một đông khách khủng khiếp anh ơi. Bác Bích vừa nhập về cả một lô sách văn học dịch xuất bản từ trước năm 1975, toàn những bản in đầu tiên của các nhà xuất bản lớn ngày xưa. Mấy bác nhà nghiên cứu, mấy cụ hưu trí cao tuổi đứng chật ních cả lối đi hẹp giữa hai dãy kệ. May mà em lách người khéo léo lắm mới không va phải đống sách nghệ thuật khổ lớn bác ấy vừa xếp tạm ở góc cửa đấy."

Phong bình thản đẩy chén trà nóng hổi vừa rót về phía cô gái trẻ, làn khói mỏng bốc lên cuộn quanh gương mặt lanh lợi của cô. Ánh mắt thâm trầm của anh khẽ lướt qua xấp giấy in đầy những biểu đồ phân tích lưu lượng truy cập và ảnh chụp màn hình các dòng mã nhị phân:

"Lại một vụ rò rỉ dữ liệu cá nhân quy mô lớn nữa à?"

"Không chỉ đơn giản là rò rỉ thông thường đâu anh Phong," Ngọc hào hứng mở phắt tập tài liệu ra, ngón tay trỏ thon dài thoăn thoắt chỉ vào dòng tiêu đề đỏ chói của một trang báo điện tử vừa mới cập nhật cách đây ít giờ. "Một nền tảng cho vay tiêu dùng trực tuyến rất có tiếng vừa bị tin tặc tấn công vào rạng sáng nay. Toàn bộ thông tin cá nhân nhạy cảm, số định danh căn cước, hình ảnh chân dung sinh trắc học và thậm chí là toàn bộ lịch sử danh bạ điện thoại của hơn hai mươi nghìn khách hàng đã bị đóng gói và đem rao bán công khai trên một diễn đàn thế giới ngầm chuyên trao đổi dữ liệu đen. Cư dân mạng từ sáng đến giờ đang nháo nhào cả lên vì lo sợ bị tống tiền hoặc làm phiền. Nhưng điều kỳ lạ nhất nằm ở đây này: khi nhóm chuyên gia an ninh mạng truy vết ngược, họ phát hiện địa chỉ IP của kẻ phát tán lại sử dụng một dải định tuyến ảo trỏ thẳng về cụm máy chủ cũ của một doanh nghiệp công nghệ từng đặt trụ sở ngay tại quận Ba Đình. Điều đáng nói là công ty đó, trên giấy tờ pháp lý chính thức, đã tuyên bố phá sản và giải thể hoàn toàn từ hơn hai năm trước."

Phong đưa chén trà lên ngang môi, nhấp một ngụm rất nhỏ để cảm nhận trọn vẹn từng tầng vị giác. Vị chát đậm đà lan tỏa khắp đầu lưỡi, kích thích các giác quan tỉnh táo, rồi sau đó đọng lại thành một hậu ngọt sâu lắng, êm dịu nơi cuống họng. Anh nhìn chăm chú vào hàng ký tự địa chỉ mạng dài ngoằng mà Ngọc đã cẩn thận khoanh tròn bằng bút dạ quang màu vàng chanh:

"Bắc Hà Dữ Liệu?"

Ngọc mở to hai mắt, gương mặt thoáng nét kinh ngạc, cô khẽ rùng mình một cái rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt anh: "Trời đất, sao anh đoán chuẩn xác đến từng từ như thế? Trong bài báo công khai họ đâu có dám nêu đích danh tên công ty cũ đó vì lý do bảo mật điều tra, em đã phải thức trắng nửa đêm qua, dùng công cụ tra cứu tên miền chuyên sâu lưu trữ trong kho dữ liệu quốc gia thì mới lần mò lôi ra được cái tên này đấy!"

"Không phải là đoán mò," Phong bình thản đáp lời, nhẹ nhàng đặt chén trà xuống chiếc đĩa lót bằng gốm thô mộc. "Một mạng lưới ngầm đã dày công thu thập, phân loại và tích lũy thông tin đời tư của hàng trăm ngàn con người suốt bao nhiêu năm thì không bao giờ có chuyện dễ dàng biến mất vào hư không chỉ bằng một tờ giấy quyết định giải thể đóng dấu đỏ hành chính. Những kẻ đứng sau mạng lưới ấy chỉ đơn giản là thay tên đổi họ, khoác lên mình một lớp vỏ bọc pháp nhân mới, âm thầm dời cụm máy chủ vật lý sang các danh nghĩa trung gian phức tạp hơn, và tiếp tục lén lút bán dữ liệu cho bất kỳ kẻ nào sẵn sàng chi tiền mặt để mua sự thật. Trong thời đại này, kẻ nào nắm được thông tin đời tư và những góc khuất thầm kín của người khác, kẻ đó mặc nhiên nắm đằng chuôi trong mọi cuộc mặc cả, từ thương trường cho đến chính trường."

Ngọc chống hai tay lên cằm, ánh mắt cô gái trẻ thoáng vẻ đăm chiêu, đầy suy ngẫm: "Nhưng tại sao chúng lại bắt đầu tung những gói dữ liệu nhỏ lẻ này ra vào đúng thời điểm nhạy cảm hiện tại? Cứ như thể có một ai đó đang cố tình khuấy đục nước trong một cái ao tù để thăm dò phản ứng của dư luận và cơ quan chức năng vậy. Anh có nghĩ đây là một tín hiệu cảnh báo nào đó không?"

Phong chưa kịp mở lời đáp lại câu hỏi của cô trợ lý thì tiếng bước chân dưới cầu thang gỗ lim lại vang lên một lần nữa.

Lần này, thanh âm phát ra hoàn toàn không phải nhịp bước nhanh nhẹn, dứt khoát của Ngọc, mà là những bước chân nặng nề, ngập ngừng, lê thê từng bậc một. Kèm theo đó là tiếng thở dốc khó nhọc, đứt quãng của một người đã luống tuổi, dường như đang phải dồn hết chút sức tàn để leo lên độ cao của căn gác lửng.

Ngay sau đó, tấm rèm vải thô màu nâu nhạt che cửa gác hai được một bàn tay gầy guộc vén sang một bên. Bà Bích, chủ tiệm sách Mực Nâu, với gương mặt phúc hậu thường ngày nay đã lộ rõ vẻ lo lắng, sốt ruột, nghiêng người bước vào trước để mở đường. Phía sau lưng bà là một người đàn ông trạc chừng sáu mươi tuổi, vóc dáng gầy guộc, hơi còng xuống dưới sức nặng vô hình nào đó. Ông mặc một chiếc áo khoác kaki sẫm màu đã bạc phếch theo năm tháng, đường chỉ viền ở hai bên cổ tay áo đã sờn rách, để lộ cả lớp vải lót xơ xác bên trong. Đôi bàn tay người ấy thô ráp, gân guốc nổi chằng chịt, nhưng điểm đặc biệt nhất chính là các đầu ngón tay và khóe móng đều dính chặt những vệt màu chàm, màu nâu đen và vệt đỏ bầm ăn sâu vào từng thớ da thịt — dấu vết đặc thù không thể nào tẩy xóa của một nghệ nhân đã dành cả cuộc đời gắn bó mật thiết với phẩm màu tự nhiên và những ván khắc gỗ cổ truyền.

"Phong ơi," bà Bích hạ thấp giọng, bước nhanh lại gần bàn làm việc rồi khẽ nghiêng người kéo người đàn ông đi cùng bước hẳn vào bên trong phòng. "Bác An đây là chỗ quen biết cũ từ thời còn hàn vi của gia đình bác dưới vùng Thuận Thành, mạn ven sông Đuống lận đấy. Bác ấy có việc hệ trọng, nguy cấp lắm, lặn lội từ sáng sớm tinh mơ, bắt hai chặng xe buýt từ quê lên tận phố Đinh Lễ này chỉ để tìm cháu. Dưới nhà đông người quá, bác thấy bác ấy tay chân cứ run bần bật, mặt mũi thất thần nên phải dẫn ngay lên đây cho kín đáo."

"Cháu cảm ơn bác Bích nhiều," Phong lập tức đứng dậy, lễ phép cúi đầu chào rồi nhanh nhẹn bước vòng qua bàn, kéo chiếc ghế bọc nỉ còn lại ra. "Mời bác ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân ạ. Ngọc, em rót thêm nước sôi vào chuyên trà giúp anh nhé."

Người đàn ông tên Lưu Văn An run rẩy ngồi thụp xuống mép chiếc ghế nỉ, hai bàn tay xương xẩu ôm ghì lấy một chiếc cặp da màu nâu sẫm trước ngực. Chiếc cặp da đã quá đỗi cũ kỹ, bề mặt da bên ngoài nứt nẻ thành từng mảng li ti như đất đồng gặp hạn hán. Đáng chú ý hơn, chiếc cặp ấy lại được bọc thêm một lớp vải nhung đỏ sẫm rất dày ở bên ngoài, được buộc dây dù cẩn thận bốn góc như thể người cầm đang cố sức bảo vệ một báu vật vô giá khỏi mọi sự va đập hay hơi ẩm lạnh lẽo của đợt gió mùa đông bắc đang rít từng cơn ngoài phố.

"Bác An, bác cứ uống hớp trà nóng cho ấm người, lấy lại bình tĩnh đã ạ," Phong ôn tồn cất giọng, âm sắc trầm tĩnh, khoan thai của anh dường như có một sức mạnh vô hình xoa dịu đi sự căng thẳng tột độ đang hằn rõ trên những nếp nhăn sâu hoắm nơi vầng trán người thợ thủ công già. "Ở căn gác này hoàn toàn kín đáo và an toàn. Bác cứ thong thả uống chén trà rồi kể lại đầu đuôi câu chuyện, rốt cuộc đã có chuyện gì xảy ra ở xưởng tranh của gia đình bác dưới Thuận Thành?"

Ông An run rẩy nâng chén trà mạn lên bằng cả hai tay, nuốt khan một ngụm nước nóng hổi. Hơi nước mỏng bốc lên tức thì làm mờ đục cặp mắt kính lão gọng sắt trễ tràng trên sống mũi gầy gò. Đôi môi thâm xịt của ông run rẩy mấp máy mất một hồi lâu mới có thể phát ra thành tiếng, một giọng nói nghẹn ngào, run rẩy và chất chứa nỗi đau đớn đến tột cùng:

"Cậu Phong ơi... cô Ngọc ơi... gia đình chúng tôi thế là mất hết rồi. Bức tranh tổ truyền của cả dòng họ Lưu chúng tôi, bức 'Đám cưới chuột' bản gốc từ thời các cụ cố để lại hơn một trăm năm nay... đã bị kẻ gian lén lút đánh tráo mất rồi!"

Ngọc đang cầm ấm nước sôi, nghe thấy thế thì giật mình dừng phắt tay lại, suýt chút nữa làm rớt chiếc nắp ấm xuống khay trà: "Bức tranh khắc gỗ Đông Hồ 'Đám cưới chuột' cổ bản gốc ư bác? Em từng đọc rất nhiều tài liệu nghiên cứu mỹ thuật dân gian Việt Nam, đó là bản in màu từ những ván khắc gỗ thị gốc có từ thời nhà Nguyễn, sử dụng toàn bộ phẩm màu tự nhiên từ cây cỏ, khoáng thạch và giấy điệp cổ được làm thủ công hoàn toàn. Giá trị về mặt văn hóa, lịch sử và nghệ thuật của nó là vô giá, không tiền bạc nào đo đếm nổi!"

"Đúng thế cô ơi..." Ông An nghẹn ngào thốt lên, hai hàng nước mắt đùng đục bắt đầu ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo, lăn dài trên đôi gò má gầy guộc. Những ngón tay nổi đầy gân xanh của ông run bần bật khi bắt đầu tháo từng nút dây dù, mở lớp vải nhung dày bọc ngoài chiếc cặp da. "Nó không chỉ là đồ cổ quý giá của tiền nhân để lại, nó thực sự là sinh mệnh, là linh hồn của cả xưởng tranh gia đình tôi bên bờ sông Đuống suốt bao nhiêu đời nay. Đó là bản in gốc hoàn chỉnh và trọn vẹn nhất còn lưu lại được thủ bút và triện son của cụ cố tôi ở góc tranh, được cất giữ cẩn mật qua ba thế hệ trong căn kho kín kiên cố nhất nhà. Vậy mà sáng hôm qua, khi tôi mở cửa kho để chuẩn bị kiểm kê hiện vật mang lên tỉnh trưng bày cho đợt triển lãm làng nghề truyền thống cuối năm... bức tranh lồng trong khung kính cổ kính vẫn còn treo nguyên trên giá, nhưng ruột tranh bên trong đã bị kẻ nào đó thay thế bằng một bức tranh hoàn toàn khác!"

Nói dứt lời, bằng những động tác run rẩy nhưng vô cùng cẩn trọng và nâng niu, ông An nhấc từ trong lớp vải nhung ra một khung tranh hình chữ nhật có kích thước chừng bốn mươi nhân sáu mươi phân. Mặt kính phẳng bám một lớp bụi mờ, phản chiếu lại thứ ánh sáng nhờ nhợ, ảm đạm từ khung cửa sổ gác hai hắt vào.

Phong không nói thêm một lời nào. Anh vươn hai tay ra, nhẹ nhàng đỡ lấy bức tranh một cách hết sức tôn kính và cẩn thận, rồi đặt phẳng phiu lên chiếc bàn gỗ lim rộng rãi. Anh với tay bật chiếc đèn bàn chụp kim loại chuyên dụng dùng cho công tác giám định, ánh sáng vàng ấm áp có độ hội tụ cao lập tức quét qua bề mặt tác phẩm, làm bừng sáng từng đường nét trong căn phòng tranh tối tranh sáng. Ngọc cũng tò mò không nén nổi, vội vã bước vòng sang bên cạnh, ghé sát mắt nghiêng đầu chăm chú quan sát.

Bức tranh nằm dưới luồng sáng tập trung hiện lên với khung cảnh vô cùng quen thuộc của dòng tranh dân gian Đông Hồ: một đoàn chuột rộn rã đi đón dâu với cờ dong trống mở náo nhiệt. Ở hàng dưới, những chú chuột thổi kèn, đánh trống, rước kiệu hoa rực rỡ; ở hàng trên, đàn chuột cống, chuột nhắt khép nép mang theo chim bồ câu béo múp, cá chép tươi ngon đến để cống nạp, luồn cúi trước một chú mèo già đang ngồi bệ vệ, vuốt râu với vẻ mặt đầy uy quyền ở góc trên cùng. Màu sắc của bức tranh thoạt nhìn có vẻ rất mộc mạc, dân dã: sắc đỏ của sỏi son, sắc vàng của hoa hòe, sắc xanh của lá chàm và sắc đen của than rơm nếp. Nền giấy ánh lên những vệt sáng lấp lánh li ti huyền ảo của bột vỏ con sò điệp tán mịn được quét đều trên nền giấy dướng truyền thống.

"Làm sao bác có thể khẳng định chắc chắn ngay từ đầu rằng đây là một bức tranh giả mạo?" Phong khẽ hỏi, ánh mắt sâu thẳm của anh vẫn dán chặt, không hề rời khỏi bề mặt khung gỗ và lớp kính bảo vệ.

"Tôi sinh ra trong tiếng đục ván gỗ, lớn lên cùng mùi hồ nếp, làm nghề in tranh này từ năm mới mười ba tuổi, tính đến nay đã gần sáu mươi năm cuộc đời," ông An nói, thanh âm vừa chứa chan nỗi đau xót nghẹn ngào, vừa toát lên sự tự tin chắc nịch của một người thợ thủ công lão luyện. "Mắt tôi có thể đã mờ đi nhiều vì tuổi tác xế chiều, lưng tôi có thể đã còng, nhưng đầu ngón tay tôi một khi đã sờ vào thớ giấy, mũi tôi một khi đã ngửi mùi mực in là tôi biết ngay lập tức, không bao giờ nhầm lẫn được. Bản gốc của cụ tôi để lại làm bằng loại giấy dướng cổ, chất giấy mỏng tang như cánh ve sầu mà dai vô cùng, vò không nát, ngâm nước không tan. Lớp điệp quét bằng chổi lá thông mỏng nhẹ như một làn sương sớm mùa thu, từng vệt quét ngang đều tăm tắp, óng ánh tự nhiên. Bản này thoạt nhìn qua thì rất giống, nét chạm khắc trên ván in lại cũng đạt đến trình độ tinh xảo khác thường, nhưng khi tôi mang ra soi dưới ngọn đèn dầu trong kho, màu vàng của hoa hòe và màu đỏ của sỏi son trông dại lắm, phẳng lì một cách vô hồn, hoàn toàn không có cái vẻ trầm mặc, sâu thẳm của thời gian đã tích tụ suốt hơn một thế kỷ."

Phong không vội vàng đưa ra lời bình luận nào trước nhận định mang tính cảm quan nghề nghiệp ấy. Anh từ tốn mở ngăn kéo trên cùng của bàn làm việc, lấy ra một chiếc kính lúp quang học có độ phóng đại mười lăm lần và một chiếc panh kẹp y tế chuyên dụng bằng thép không gỉ sáng loáng.

Dưới ánh sáng trực diện rọi thẳng của ngọn đèn bàn chụp kim loại, Phong cúi rạp người xuống, đưa mặt kính lúp rà soát tỉ mỉ từng milimét một trên khắp bề mặt tác phẩm. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là trước hết, anh không hề chú mục vào các nhân vật chuột hay mèo được vẽ trong tranh, mà lại rê chậm rãi chiếc kính lúp men theo bốn cạnh của chiếc khung gỗ dổi bọc ngoài. Khung tranh được đóng bằng gỗ dổi cũ kỹ, các góc ghép mộng thủ công truyền thống khít khao, chứng tỏ tay nghề rất cao của người thợ mộc ngày xưa. Nhưng ở mép rãnh hẹp phía sau — nơi tiếp giáp giữa lớp ván ép mỏng dùng để lót lưng tranh và phần gờ của khung chính — lớp bụi thời gian màu xám xịt bám đóng lại không hề đồng đều một chút nào.

"Bác An, chiếc khung gỗ này chính xác là chiếc khung nguyên bản đã dùng để bọc bức tranh cổ từ xưa chứ ạ?" Phong cất giọng trầm tĩnh, mắt vẫn không rời khỏi thấu kính.

"Đúng thế cậu Phong, chiếc khung gỗ dổi này do chính tay bác ruột tôi đóng từ năm 1940, ngay sau khi gia đình cứu vớt được bản in quý giá này khỏi trận ngập lụt lịch sử của sông Đuống. Những chiếc kẹp sắt giữ ván lưng phía sau đã rỉ sét đặc quánh lại qua hàng chục năm rồi, bao nhiêu năm qua tôi trân quý như báu vật, không bao giờ dám tự ý tháo mở ra một lần nào."

Phong dùng đầu nhọn của chiếc panh thép khẽ chỉ vào một đường viền gỗ ở cạnh đáy: "Bác nhìn vào đây. Lớp bụi bám đóng trên gờ khung phía trên và hai bên sườn dày gần một milimét, kết tụ tự nhiên, xốp và khô khốc qua nhiều thập kỷ ẩm ướt đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng nếu nhìn thật kỹ ở cạnh đáy bên dưới: lớp bụi này đã bị một vệt miết nhẹ làm cho xô lệch, có những chỗ bụi bị lau vội vã bằng một mảnh vải ẩm, khiến cho các hạt bụi mịn bết dính lại thành những vệt mờ loang lổ. Kẻ tráo tranh là một kẻ cực kỳ am hiểu kết cấu: hắn đã không dại dột tháo tung toàn bộ khung, mà chỉ cạy các chốt nẹp sắt giữ ván lưng từ phía cạnh đáy bên dưới, khéo léo lùa bức tranh phục chế vào thay thế cho bức tranh thật, sau đó dùng giẻ lau qua mép khung để xóa dấu vết vân tay. Nhưng trong lúc vội vàng, hắn đã lau lệch tay, bỏ sót lại phần gờ góc nhọn này."

Ngọc ghé sát mắt nhìn theo hướng chỉ của chiếc panh thép trong tay Phong, cô khẽ ồ lên một tiếng đầy kinh ngạc: "Nghĩa là chiếc khung kính cổ này hoàn toàn không hề bị đập vỡ hay tháo rời bung bét, kẻ tráo tranh đã thực hiện toàn bộ thao tác tráo đổi hết sức phức tạp đó ngay tại chỗ trong kho?"

"Không chỉ thao tác thuần thục ngay tại chỗ mà kẻ này còn vô cùng am hiểu kết cấu cơ học của những khung tranh mỹ thuật cổ điển," Phong tiếp tục phân tích, giọng nói đanh lại. Anh nghiêng đầu sang một bên, áp sát mũi mình vào khe hở nhỏ hẹp chỉ chừng nửa milimét nằm giữa mép giấy bản và lớp kính bảo vệ bên ngoài, khẽ hít sâu một hơi để đón nhận các phân tử mùi đang phát tán trong không khí.

Một phức hợp mùi hương lập tức xộc thẳng vào khứu giác nhạy bén của người thám tử. Đó hoàn toàn không đơn thuần chỉ là mùi khét nồng, ngai ngái quen thuộc của than rơm nếp nghiền mịn, cũng không chỉ là mùi tanh nhẹ, mặn mòi của vỏ sò điệp biển được ninh nhừ và khuấy đều với hồ nếp cái hoa vàng — thứ chất kết dính hữu cơ truyền thống tuyệt hảo mà các thế hệ nghệ nhân làng tranh Đông Hồ đã trung thành sử dụng suốt hàng trăm năm lịch sử. Lẫn sâu bên trong tầng hương thảo mộc mộc mạc và cổ kính đó là một mùi hắc khô khốc, sắc lẹm, mang theo vị chua nhẹ đặc trưng của các hợp chất polymer tổng hợp nhân tạo.

"Mùi keo dán công nghiệp gốc polyvinyl acetate," Phong ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt sắc như dao cạo nhìn xoáy thẳng vào tâm bức tranh. "Người đã bỏ công phục chế bức tranh này chắc chắn là một người có tay nghề thủ công rất cao, hắn đã cố tình nấu một nồi hồ nếp trộn vỏ sò điệp thật đậm đặc, đúng theo phương pháp cổ truyền để quét lên bề mặt nhằm tạo ra lớp nền óng ánh điệp nhằm đánh lừa thị giác của người xem ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng có một điểm chí mạng mà hắn không thể che giấu được: để cố định lớp giấy bồi gia cố phía sau lưng tranh cho kịp thời gian khô nhanh nhằm ép phẳng đưa vào khung, hắn đã lén quét thêm một lớp keo dán công nghiệp loại siêu dính, khô nhanh trong vòng vài chục phút. Mùi keo công nghiệp này còn quá mới, nồng độ bay hơi còn rất đậm đặc, nó đã hoàn toàn lấn át và phản bội lại mùi ngai ngái thanh tao, dịu nhẹ của lớp hồ nếp điệp truyền thống."

Ông An trố mắt nhìn người thám tử trẻ tuổi đang ngồi trước mặt mình, hai bàn tay thô ráp của ông bất giác run rẩy gõ lách cách xuống mặt bàn gỗ lim:

"Thế... thế có nghĩa là bức tranh phục chế này chỉ mới được làm ra gần đây thôi ư cậu Phong? Trời đất ơi, căn kho cất giữ tranh của nhà tôi vốn được xây tường đôi bằng gạch chỉ kiên cố, cửa kho làm bằng hai cánh gỗ lim dày dặn, có then cài bên trong và bên ngoài khóa bằng một ổ khóa đồng Việt Tiệp cỡ lớn loại chống cắt phá tốt nhất. Chùm chìa khóa duy nhất xưa nay chỉ có bản thân tôi và... và người thân trong nhà cất giữ. Cửa sổ thông gió của kho thì được hàn các chốt hoa sắt đặc phi mười hai, gắn chết sâu vào trong lòng tường vôi vữa. Sáng hôm qua lúc tôi bước vào kho, khóa cửa lớn không hề có bất kỳ dấu hiệu cạy phá, đục khoét nào, các chốt hoa sắt cửa sổ vẫn nguyên vẹn không lay chuyển, ổ khóa đồng tra chìa vào vẫn xoay mở êm ru như mọi ngày. Tôi thực sự không tài nào hiểu nổi, nếu không phải có bàn tay của ma quỷ hay thuật tàng hình thì kẻ gian làm sao có thể lọt vào bên trong căn kho kín mít ấy để làm cái việc tày trời này cơ chứ!"

"Trên cõi đời này tuyệt đối không có con ma hay bóng quỷ nào biết cách tráo đổi một bức tranh Đông Hồ rồi lại cẩn thận lấy giẻ ẩm lau sạch bụi ở mép khung cả, thưa bác An," Phong điềm đạm trả lời, từng lời từng chữ của anh thốt ra đều mang sức nặng của sự duy lý, lập tức xua tan đi bầu không khí ma mị, hoang mang mà người thợ già vừa vô tình vẽ nên. "Một vụ trộm cắp tài sản mà hiện trường hoàn toàn không để lại bất kỳ dấu vết phá hoại cơ học nào trên cửa nẻo, then cài hay khóa sắt thì trên thực tế chỉ có thể bắt nguồn từ hai khả năng duy nhất: khả năng thứ nhất là kẻ gian đã có được chìa khóa sao chép hoàn hảo từ trước; và khả năng thứ hai, đau lòng hơn nhưng lại thực tế hơn, là chính người có quyền hạn ra vào căn kho ấy một cách hợp pháp đã tiếp tay, thậm chí là trực tiếp đứng ra thực hiện vụ tráo đổi này."

Sắc mặt ông An trong chớp mắt chợt chuyển sang tái mét như tàu lá chuối. Ông ngập ngừng, đôi môi mím chặt lại, ánh mắt đùng đục bắt đầu đảo quanh các góc tường của căn gác nhỏ như đang cố sức né tránh một sự thật trần trụi, đau xót nào đó đang hiển hiện trong tâm trí mình. Hai bờ vai gầy guộc của ông khẽ co rúm lại bên dưới lớp áo kaki bạc màu rộng thùng thình.

"Bác An," Ngọc ngồi bên cạnh khẽ lên tiếng, giọng nói trong trẻo của cô lúc này chứa chan sự thấu cảm và chân thành. "Trong xưởng tranh hiện tại của gia đình mình, ngoài bác ra thì còn những ai có chìa khóa riêng hoặc có quyền tự do ra vào căn kho cất giữ những hiện vật cổ quý giá ấy ạ?"

"Chỉ có... thật sự chỉ có tôi," ông An ấp úng, giọng ông nhỏ dần, lí nhí trong miệng như tiếng muỗi kêu than thở. "Và... và thỉnh thoảng có thêm thằng cháu Sơn, Phạm Thanh Sơn, nó là con trai duy nhất của bà chị gái ruột tôi ở làng bên. Thằng Sơn nó khéo tay, thông minh từ nhỏ, nó phụ việc cho tôi ở xưởng tranh này từ năm nó mới mười lăm tuổi. Mọi kỹ thuật pha chế màu điệp từ vỏ ốc vỏ sò, kỹ thuật khắc ván gỗ thị cho đến cách phơi giấy dướng đều do chính tay tôi tỉ mỉ chỉ bảo, truyền dạy cho nó từng ly từng tí một. Nhưng... nhưng mà thằng Sơn xưa nay tính tình hiền lành, ngoan ngoãn lắm, nó không bao giờ... không đời nào nó lại dám làm cái chuyện thất đức, tày trời đến mức ấy đâu! Hơn nữa... hơn nữa kẻ trộm bức tranh dường như muốn khủng bố tinh thần, muốn bức tử gia đình tôi chứ đâu có đơn thuần chỉ là một vụ trộm cắp vặt vì tiền bạc!"

"Khủng bố tinh thần sao bác?" Đôi chân mày sắc bén của Phong khẽ nhướng lên, ánh mắt anh lộ rõ vẻ tò mò sâu sắc. "Tại sao bác lại có suy nghĩ và nhận định như vậy?"

Ông An hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo kaki. Đôi bàn tay run rẩy kịch liệt của ông lần tìm vào chiếc túi áo ngực may chìm bên trong chiếc áo khoác. Những ngón tay thô ráp lục lọi một hồi lâu rồi cẩn thận rút ra một vật thể nhỏ bé, được gói ghém vô cùng kỹ càng bên trong một mảnh giấy báo cũ đã ngả màu ố vàng, gấp thành hình vuông vắn. Bằng những cử chỉ nín thở, người thợ già chậm rãi mở từng nếp gấp của tờ giấy báo ra, để lộ một vật thể hình tròn nằm lọt thỏm ngay ngắn trong lòng bàn tay đầy những vết chai sần của mình.

Đó là một quân cờ tướng.

Vật thể ấy được ông An đặt cẩn thận xuống mặt bàn lim, ngay sát bên cạnh chiếc chén gốm tráng men dong rêu đang bốc khói nghi ngút của Phong.

Một quân Xe đen.

Mặt quân cờ được tiện tròn trịa, chữ "Xa" (車) được khắc chìm tinh xảo vào giữa thớ gỗ và quét một lớp sơn đỏ thắm rực rỡ, nổi bật một cách ma quái trên nền sơn đen bóng loáng. Quân cờ nằm trơ trọi, cô độc giữa không gian im ắng của căn gác nhỏ, tỏa ra một cảm giác lạnh lẽo, u uất đến kỳ quặc dưới ánh đèn bàn vàng vọt.

"Tôi nhặt được chính quân cờ này rơi ngay ở phía sau chân giá đỡ khung tranh bằng gỗ lim trong kho kín," ông An thì thào, âm thanh run rẩy như phát ra từ một cõi vô hình nào đó, ánh mắt ông không giấu nổi vẻ kinh hoàng tột độ. "Nó nằm lọt thỏm, khuất sâu sau một khe nứt của chân đế gỗ. Nếu sáng hôm qua tôi không vô tình cúi rạp người xuống nhặt chiếc khăn lau bụi bị rơi thì chắc chắn đã không thể nào phát hiện ra sự hiện diện của nó. Gia đình dòng họ Lưu chúng tôi ba đời nay chỉ biết cặm cụi với ván in, giấy điệp và phẩm màu, tuyệt nhiên không có một ai biết chơi cờ tướng hay ham mê cờ bạc. Việc một quân cờ xe đen bỗng dưng xuất hiện, nằm trơ trọi ngay phía sau bức tranh gia bảo trăm năm bị đánh tráo... chẳng phải là một lời cảnh cáo ngầm đẫm máu của phường giang hồ, hay là đòn thù giấu mặt của một thế lực đen tối nào đó muốn triệt hạ đường sống của dòng họ chúng tôi hay sao?"

Ngọc bất giác nín thở, đôi mắt tròn xoe nhìn trừng trừng vào quân cờ đen trên bàn, rồi vội vã đưa mắt liếc sang phía Phong. Hơn ai hết, là người đã đồng hành cùng Phong qua nhiều vụ án phức tạp, cô hiểu rất rõ rằng đối với Lâm Phong, cờ tướng chưa bao giờ đơn thuần chỉ là một thú tiêu khiển lúc trà dư tửu hậu để giết thời gian. Ngay trên chiếc bàn làm việc bằng gỗ lim kia, ván cờ thế tàn cuộc vẫn đang bày dở suốt ba năm qua, tĩnh lặng và bất động như một vết sẹo tinh thần không bao giờ có thể xóa nhòa của một biến cố kinh hoàng trong quá khứ.

Phong hoàn toàn im lặng. Anh không hề đưa tay chạm ngay vào quân cờ mà từ từ cúi thấp người xuống, dùng đôi mắt quan sát sắc sảo của mình để khảo sát nó từ mọi góc độ hình học và vật lý.

Quan sát bằng mắt thường, anh nhận thấy quân cờ có kích thước đạt chuẩn thi đấu thông thường: đường kính vào khoảng ba phân rưỡi, độ dày chừng một phân hai. Nhưng khi chiếc kính lúp quang học có độ phóng đại mười lăm lần cùng luồng sáng hội tụ của ngọn đèn bàn chụp kim loại rọi thẳng vào bề mặt vật thể, những chi tiết cơ học và vật lý bắt đầu bóc trần toàn bộ bản chất thực sự của nó.

Thớ gỗ cấu tạo nên quân cờ tuyệt đối không phải là loại gỗ mun đen tuyền, gỗ trắc đỏ sẫm hay chất liệu sừng trâu cổ kính quý hiếm thường thấy ở những bộ cờ gia bảo được đẽo gọt, chạm khắc hoàn toàn bằng tay của các gia đình quyền quý Hà thành xưa. Ngược lại, bề mặt mép ngoài của quân cờ phẳng lì một cách cơ học tuyệt đối. Những đường rãnh tiện tròn chạy quanh thân quân cờ có góc cạnh vô cùng sắc nét, khoảng cách đều tăm tắp — đó là dấu vết cơ học không thể chối cãi được để lại bởi lưỡi dao tiện cơ khí điều khiển bằng máy tiện công nghiệp bán tự động. Ở một vết xước dăm rất nhỏ nằm ở mặt đáy quân cờ, lớp chất liệu bên trong lộ ra cho thấy đây là loại gỗ cao su hoặc gỗ mỡ ép công nghiệp rẻ tiền — chất gỗ xốp, trọng lượng nhẹ và thớ gỗ rất thô ráp.

Đặc biệt nhất chính là lớp sơn màu đen phủ bên ngoài quân cờ. Nước sơn đen bóng bẩy một cách lộ liễu, bề mặt phẳng lỳ không hề có lấy một vết mòn vẹt tự nhiên do mồ hôi tay của các kỳ thủ ma sát qua nhiều năm tháng sử dụng. Khi đưa sát lên mũi, mùi dung môi pha sơn công nghiệp gốc dầu vẫn còn phảng phất một mùi hăng hắc rất nhẹ, chứng tỏ quân cờ này chỉ mới được sản xuất hàng loạt trong một xưởng mộc gia công dân dụng cách đây vài tháng, và chỉ vừa mới được bóc ra từ một hộp cờ tướng bình dân giá rẻ được bày bán la liệt ở bất kỳ cửa hàng văn phòng phẩm hay tiệm tạp hóa nào quanh các khu phố học sinh, sinh viên.

Đôi mắt Phong trầm hẳn xuống, sâu thẳm và lạnh lùng như đáy của một giếng nước cổ giữa mùa đông.

Một tia ký ức xa xăm, lạnh buốt bất chợt dội ngược về trong tâm trí anh, nhức nhối như một vết thương cũ gặp gió mùa. Ba năm về trước, cũng trong một đêm mưa phùn gió bấc rét căm căm của mùa đông Hà Nội, người thầy tôn kính của anh — cựu điều tra viên hình sự kỳ cựu Nguyễn Đức Minh — đã hẹn gặp anh khẩn cấp tại một quán trà nhỏ heo hút ven con đê sông Hồng để bàn giao một manh mối điều tra vô cùng nguy hiểm liên quan đến mạng lưới buôn bán dữ liệu ngầm Bắc Hà. Đêm định mệnh ấy, Phong đã phạm phải một sai lầm chết người khi bỏ lỡ cuộc gọi khẩn cấp cuối cùng của thầy, chỉ vì mải mê bám theo một vụ việc theo dõi ngoại tình vụn vặt kiếm sống qua ngày. Đến sáng sớm hôm sau, chiếc xe chở thầy Minh đã mất lái lao thẳng xuống vực sâu trong một vụ tai nạn giao thông đầy rẫy những uẩn khúc và dấu hiệu ngụy tạo.

Trước khi ra đi vĩnh viễn, trong cuốn sổ tay ghi chép nghiệp vụ còn dang dở cùng một thế cờ tàn kỳ lạ được gửi nặc danh đến tiệm sách Mực Nâu qua một người giao hàng vô danh, thầy Minh đã để lại một lời dặn dò đầy ám ảnh: *“Đừng bao giờ mải mê nhìn vào những quân cờ bị đối phương ăn mất trên bàn, hãy luôn mở rộng mắt nhìn vào đường lui của toàn cuộc diện. Kẻ bày cờ cao tay luôn biết cách dùng những quân đen tầm thường để thử thách lòng kiên nhẫn và sự tỉnh táo của người phá án.”*

Suốt ba năm ròng rã, hình ảnh biểu tượng của những quân cờ đen luôn lởn vởn như một bóng ma vô hình bao trùm lên mọi vụ án gai góc mà Phong tiếp cận. Nhưng anh là một người hành nghề bằng phương pháp thực chứng khoa học, được trui rèn để tin vào những quy luật vật lý và logic hình thức lạnh lùng, tuyệt đối không bao giờ cho phép những ám thị tâm linh hay cảm xúc cá nhân làm sai lệch đi lăng kính phân tích sự thật.

Phong ngẩng đầu lên, nét mặt anh hoàn toàn phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng, giấu kín toàn bộ những xáo động nội tâm vừa trỗi dậy trước mặt ông lão thợ thủ công và cô trợ lý trẻ. Anh dùng chiếc panh thép gắp nhẹ quân xe đen lên, xoay một vòng tròn hoàn hảo giữa không trung rồi đặt nó nằm gọn vào lòng bàn tay mở rộng của mình:

"Bác An, cháu có thể khẳng định chắc chắn với bác một điều: quân cờ này hoàn toàn không phải là dấu tích của một tổ chức tội phạm ngầm nguy hiểm nào, cũng chẳng phải là lời nguyền rủa truyền đời đẫm máu nào nhắm vào dòng họ của bác cả."

Ông An chớp chớp đôi mắt mờ đục, gương mặt ngơ ngác lộ rõ vẻ bàng hoàng: "Cậu... cậu bảo sao cơ? Không phải là đe dọa của kẻ thù ư?"

"Đây thực chất chỉ là một quân cờ tiện bằng máy công nghiệp loại rẻ tiền nhất, loại cờ gỗ tạp được bán đại trà theo bộ với giá hai mươi nghìn đồng ở bất kỳ tiệm sách học sinh nào ngoài phố," Phong bình thản giải thích, giọng điệu rành rẽ, khúc chiết từng câu từng chữ. "Các vết dao tiện ở gờ viền quanh thân quân cờ vẫn còn sắc ngọt và mới tinh. Mùi dung môi pha sơn dầu công nghiệp vẫn còn hăng hắc chưa kịp bay hết. Một tổ chức tội phạm chuyên nghiệp hay một kẻ thù nguy hiểm thực sự muốn dùng biểu tượng quyền lực để khủng bố tinh thần gia đình bác sẽ không bao giờ sử dụng một quân cờ gỗ tạp mua vội vàng ở một quầy tạp hóa ven đường như thế này. Việc quân cờ này xuất hiện và bị bỏ lại tại hiện trường căn kho kín chỉ có thể nhằm vào một trong hai mục đích thực tế: khả năng thứ nhất, kẻ trộm bức tranh là một kẻ non nớt, đã xem quá nhiều phim ảnh trinh thám ly kỳ và cố tình tạo ra một hiện trường giả bí ẩn nhằm gieo rắc sự sợ hãi, khiến bác hoang mang tột độ mà không dám trình báo sự việc lên cơ quan công an; hoặc khả năng thứ hai, hắn đang vụng về bắt chước một biểu tượng giang hồ nào đó để tung hỏa mù, đánh lạc hướng điều tra của mọi người, khiến bác lầm tưởng đây là một vụ thanh toán ân oán xã hội phức tạp chứ không phải là một vụ trộm cắp tài sản nội bộ xuất phát từ động cơ tiền bạc tầm thường."

Ngọc nghe đến đây thì khẽ thở phào nhẹ nhõm, ánh mắt cô nhìn Phong tràn ngập sự thán phục: "Nghĩa là kẻ tráo đổi bức tranh rất có thể chính là một người quen thân thiết, nắm rất rõ tâm lý, thói quen sinh hoạt của bác An, và hắn cố tình dựng lên màn kịch hiện trường giả này chỉ nhằm mục đích kéo dài thời gian phát giác?"

"Chính xác là như vậy," Phong gật đầu dứt khoát, ngón tay trỏ của anh khẽ gõ nhẹ ba tiếng trầm đục lên mặt kính của bức tranh phục chế. "Bác An, cháu muốn hỏi thật bác một câu hết sức nghiêm túc: trong vòng ba ngày trở lại đây, người cháu ruột của bác — anh Phạm Thanh Sơn — có những biểu hiện gì bất thường về mặt tâm lý, thói quen sinh hoạt hay tình hình tài chính cá nhân hay không? Và gần đây, xưởng tranh của bác có người lạ nào từ nơi khác lui tới đặt hàng gấp một bản phục chế hoàn hảo của bức 'Đám cưới chuột' này hay không?"

Ông An sững sờ như vừa bị sét đánh ngang tai, bờ môi thâm xịt của ông run rẩy dữ dội, hai mắt mở to nhìn người thám tử trẻ tuổi đối diện như thể bản thân vừa bị bóc trần toàn bộ tâm can sâu kín nhất. Ông run giọng lắp bắp:

"Sơn... thằng Sơn độ hai tuần nay nó lạ lắm cậu Phong ơi. Nó hay cáu gắt vô cớ với mọi người trong xưởng, suốt ngày dán mắt vào màn hình chiếc điện thoại thông minh rồi thở ngắn than dài, đi đứng thất thần như kẻ mất hồn. Cách đây mấy hôm, tôi gặng hỏi mãi thì nó mới ôm đầu khóc lóc, thú nhận rằng nó vừa bị lừa mất một khoản tiền rất lớn trong một hội nhóm đầu tư tiền ảo sinh lời gì đó ở trên mạng... Nó bảo nếu không xoay xở kịp tiền trả nợ thì người ta sẽ siết nợ, tìm về tận quê quấy phá... Nhưng tôi thề với trời đất, tôi chưa từng thấy nó mang bất kỳ bức tranh phục chế nào về nhà hay làm tranh lén lút trong xưởng cả!"

Phong không vội vàng đưa ra câu trả lời ngay. Anh chậm rãi nghiêng người về phía trước, một lần nữa đưa sống mũi lại gần sát mép dưới của bức tranh, nơi lớp keo dán công nghiệp polyvinyl acetate vừa được anh chỉ ra lúc nãy.

Dưới hơi thở ấm áp của con người phả vào và nhiệt lượng phát ra từ bóng đèn bàn chụp kim loại chiếu rọi liên tục suốt hơn mười lăm phút qua, nhiệt độ cục bộ trên bề mặt của bức tranh bắt đầu tăng nhẹ lên từng chút một. Lớp hồ điệp mỏng manh quét ở mặt trước, khi gặp hơi ấm nhân tạo, bắt đầu bốc lên một làn hương thơm ngọt nồng đặc trưng của gạo nếp mới đồ chín, xen lẫn một mùi vị mặn mòi, tanh nhẹ rất đặc thù của bột vỏ con sò điệp tươi sống vừa mới được thu gom từ biển về, đem nghiền giã thủ công chưa kịp trải qua quá trình phong hóa tự nhiên qua nắng mưa sương gió của thời gian.

Mùi điệp nồng trên bản phục chế cho thấy kẻ tráo tranh chỉ vừa hoàn thiện tác phẩm ngay trước khi An phát hiện.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories