Nước Cờ Rạn Nứt
Gió lạnh từ phía bãi bồi sông Hồng thốc qua rặng chuối ven đê Đông Phù, nơi trinh sát kinh tế mật phục theo dõi từng chuyển động quanh dãy nhà kho tôn kín cổng cao tường. Màn sương đêm tháng Mười một đặc quánh bốc lên từ mặt nước phù sa, quấn lấy những bụi lau sậy rạp mình dưới từng cơn gió rít, biến cả vùng bãi bồi ngoại thành thành một bức màn xám xịt nhạt nhòa. Từng đợt gió mùa Đông Bắc mang theo hơi ẩm buốt giá của lòng sông mùa cạn quét qua mặt đê, luồn vào từng kẽ lá chuối tiêu rách bươm, tạo nên những chuỗi âm thanh xào xạc khô khốc, như tiếng kim loại cọ xát trong đêm vắng. Cách mép đê chừng ba trăm mét, sâu trong con ngõ trải đá dăm gồ ghề của thôn 3, khu nhà kho lợp tôn màu xanh rêu rộng hơn nghìn mét vuông của Công ty Cổ phần Vận tải và Thương mại Tổng hợp Á Châu vốn luôn im ỉm trong bóng tối nhiều tuần qua, đêm nay bỗng rực sáng một cách bất thường.
Dưới lớp áo khoác gió sẫm màu thấm đẫm sương đêm buốt giá, Đại úy Lục Khang nép mình bên thân một gốc đa mục ven bờ mương cạn. Hơi thở phả ra làn khói mỏng lập tức bị gió bấc xé tan. Anh hạ thấp chiếc ống nhòm hồng ngoại chuyên dụng, ghé sát vành tai có gắn ống nghe mã hóa xung tần số ngắn, ngón tay điểm nhẹ vào nút truyền tín hiệu trên cổ áo:
“Mũi một báo cáo. Hai cửa cuốn phía đông vừa kéo lên lưng chừng. Đèn cao áp sân trong bật sáng. Có dấu hiệu bốc dỡ hàng.”
Qua thấu kính quang học sắc lạnh, hai chiếc xe tải loại năm tấn mang biển kiểm soát Hà Nội, thùng kín bọc tôn sáng loáng, bên sườn dán logo cách điệu của một công ty vận tải tư nhân nội địa, đang từ từ lùi đuôi áp sát sàn nâng bê tông. Bốn gã đàn ông lực lưỡng mặc áo bảo hộ lao động màu ghi xám không gắn phù hiệu hay tên tuổi, đầu đội mũ len trùm kín tai, phối hợp cùng xe nâng tay di chuyển thoăn thoắt dưới ánh đèn halogen vàng rực. Những kiện hàng không phải thùng carton nhẹ hay hàng tạp hóa tiêu dùng thông thường; chúng là những khối hộp chữ nhật bằng gỗ thông sấy dày bản, bên ngoài nẹp những thanh đai sắt mạ kẽm sáng bóng, mỗi góc đều được gia cố cẩn mật bằng tấm ke kim loại bảo vệ chống va đập.
“Kiện gỗ lớn, chiều dài ước tính trên một mét hai, chiều cao khoảng tám mươi phân,” Khang thì thầm vào micro cài cổ áo, mắt không rời từng nhịp nhấc bổng của hệ thống kích thủy lực. “Họ khiêng rất cẩn trọng, dùng dây đai vải bản lớn có đệm xốp lót đáy. Không phải bốc dỡ hàng thô. Xe tải thứ nhất đã chứa ít nhất sáu kiện lớn.”
Tiếng động cơ diesel gầm gừ ngắt quãng xé toạc không gian tĩnh mịch của làng ven đê. Mùi dầu khét lẹt quyện lẫn mùi gỗ thông ẩm và cỏ dại ngai ngái thốc thẳng vào cánh mũi buốt cóng của tổ trinh sát. Khi chiếc xe tải thứ nhất nổ máy, hai luồng đèn pha công suất cao quét những vệt sáng vàng vọt lên rặng chuối xơ xác ven đường, bánh xe trượt nhẹ trên lớp bùn nhão của con đường đất lầy lội vừa trải qua một đợt mưa phùn. Nhưng kỳ lạ thay, chiếc xe không rẽ trái ngược lên mặt đê để hướng về tuyến đường vành đai dẫn vào trung tâm thành phố như các lộ trình giao vận thông thường. Bánh xe nghiến rào rạo trên đá dăm, rẽ ngoặt dứt khoát sang bên phải, từ từ bò về hướng bến phà cũ bỏ hoang – nơi lòng sông Hồng phình rộng, dòng phù sa lững lờ trôi sát các bãi cát nổi rậm rạp cỏ lác và lau sậy ngập đầu người.
“Chúng đang tẩu tán về hướng bến sông,” Khang bấm nút liên lạc, giọng đanh lại nhưng tuyệt đối giữ chừng mực nghiệp vụ. “Chiếc thứ hai đang tiếp tục nâng thêm bốn kiện tương tự. Tốc độ chuyển hàng rất gấp rút. Đúng như nhận định của Đội phó: khi nhận thấy động thái niêm phong hiện vật tại Bảo tàng Vạn Lịch chiều nay, đầu mối này lập tức kích hoạt phương án giải tỏa kho bãi ngay trong đêm.”
Trong tai nghe vang lên tiếng thở trầm tĩnh, quen thuộc của Trung tá Hoàng Thanh Sơn từ sở chỉ huy Công an thành phố:
“Ghi nhận biển số, chụp rõ hình ảnh lộ trình di chuyển. Giữ nguyên vị trí mật phục, tuyệt đối không được bộc lộ lực lượng chặn xe trên đường đê hẹp. Địa hình bến phà cũ rất phức tạp, lòng sông đêm nhiều bãi cạn, lại nằm sát ranh giới đường thủy liên tỉnh. Đánh rắn động cỏ lúc này chúng sẽ lập tức đạp hàng xuống lòng sông phi tang. Tôi đang làm việc trực tiếp với Đội Kiểm soát Quản lý thị trường để giăng lưới đón lõng ở các nút giao liên tỉnh. Cậu tiếp tục bám sát từng chuyển động tại cửa kho.”
Khang siết chặt thân ống nhòm, cảm nhận từng đợt gió bấc buốt rát táp vào gò má. Phía bên kia sông, ánh đèn vàng mờ mịt của một chiếc tàu hút cát neo đậu trái phép dập dềnh trên sóng nước như một tín hiệu báo trước cơn sóng ngầm sắp sửa vỡ tung ra mặt nước.
***
Cùng thời điểm đó, tại trung tâm thành phố, tầng bốn tòa nhà văn phòng Công ty Cổ phần Quản lý và Phát triển Di sản Minh Thành trên phố Lý Thường Kiệt chìm trong sự tĩnh lặng nặng nề. Toàn bộ nhân viên khối hành chính đã ra về từ sáu giờ chiều. Hành lang lát đá hoa cương phản chiếu những vệt sáng lờ mờ từ hệ thống đèn chiếu sự cố, chỉ còn ánh đèn bàn làm việc le lói hắt ra từ phòng họp phụ của Ban Giám đốc qua khe cửa khép hờ.
Bùi Quang Duy bước đi rón rén trên lớp thảm nỉ dày, đôi bàn tay lạnh ngắt đút sâu vào túi áo măng-tô dạ màu xám tro. Kể từ chiều hôm qua, sau khi nhận được thông báo miệng từ Ban Thư ký về việc Giám đốc Tạ Minh Thành đột ngột hoãn toàn bộ các cuộc họp thẩm định nội bộ và ủy quyền ký duyệt hạn mức tài chính cho kế toán trưởng, Duy đã cảm nhận thấy một luồng hàn khí vô hình bao quanh gáy mình. Lệnh tạm hoãn xuất cảnh số 56 mang dấu đỏ của cơ quan điều tra treo lơ lửng trên đầu khiến Duy như một kẻ mộng du giữa ban ngày; mỗi bước chân qua sảnh lễ tân hay mỗi tiếng còi xe cảnh sát ngoài phố đều khiến tim anh ta giật thắt từng cơn đau thắt lồng ngực.
Theo lịch làm việc công khai, Tạ Minh Thành đã rời công ty từ chập tối để tham dự một buổi dạ tiệc ngoại giao nghệ thuật tại một đại sứ quán phương Tây. Nhưng Duy biết rất rõ thói quen của người sếp kín kẽ: trước mỗi chuyến đi xa mang tính quyết định, Thành luôn để lại những tập hồ sơ mật trong chiếc cặp da cá sấu đặt tại ngăn kéo khóa điện tử của bàn làm việc riêng, phòng trường hợp trợ lý cần xử lý gấp các thủ tục công chứng ủy quyền hoặc rút tiền mặt ký quỹ. Chiếc thẻ từ vạn năng mà Duy vẫn giữ để quản lý hồ sơ lưu trữ nội bộ khẽ kêu một tiếng *tít* khô khốc khi anh ta chạm nhẹ vào ổ khóa thông minh phòng làm việc của Giám đốc.
Cánh cửa gỗ sồi cách âm dày cộp khép lại sau lưng, ngăn cách hoàn toàn tiếng mưa bụi rào rạt ngoài khung cửa kính lớn nhìn xuống tán xà cừ cổ thụ. Không khí trong phòng phảng phất mùi trầm hương nụ xứ Huế quen thuộc mà Thành ưa chuộng, nhưng đêm nay nó mang lại cho Duy cảm giác ngột ngạt đến nghẹt thở, tựa như mùi nhang khói trong một căn hầm mộ đã được niêm phong từ lâu.
Duy tiến thẳng tới bàn làm việc mặt đá cẩm thạch đen Nero Marquina. Ngăn kéo phía dưới bên phải không khóa chặt; một chiếc kẹp tài liệu bằng da màu nâu sẫm nhô ra ngoài chừng nửa đốt ngón tay, như thể người sử dụng vừa vội vã nhét vào trước khi rời đi. Tim Duy đập dồn dập vào lồng ngực, tiếng đập lớn đến mức anh ta ngỡ như vang vọng khắp căn phòng rộng lớn. Duy run rẩy rút chiếc kẹp da, lật nhanh lớp bìa ngoài.
Đập vào mắt Duy không phải là danh mục tài trợ quốc tế hay các hợp đồng mua bán cổ vật thông thường, mà là hai tập văn bản vừa mới được in ấn sắc nét, chưa kịp ráo mực: *“Dự thảo Biên bản thanh lý Hợp đồng lao động và Chấm dứt trách nhiệm pháp lý”* đứng tên Bùi Quang Duy, và đính kèm ngay phía sau là một bản *“Đơn giải trình và Tố giác sai phạm cá nhân”* gửi Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận, do chính Tạ Minh Thành ký sẵn bằng bút mực đen Pelikan ở phần đại diện pháp luật của công ty.
Những dòng chữ in hoa, đậm nét trên trang giấy ford trắng toát như những mũi kim đâm thẳng vào mắt Duy:
*“...Công ty Cổ phần Quản lý và Phát triển Di sản Minh Thành qua rà soát nghiệp vụ nội bộ đã phát hiện ông Bùi Quang Duy – Chuyên viên phụ trách hồ sơ – đã có hành vi tự ý lợi dụng danh nghĩa công ty, lạm dụng con dấu và quyền tiếp cận tài liệu lưu trữ để cấu kết với các đối tượng bên ngoài, tự chế tạo phôi chứng chỉ giám định giả mạo, giả mạo chữ ký của các cơ sở phục chế (bao gồm Xưởng Phục chế Bách Mộc) và tự ý hợp thức hóa các lô hàng không rõ nguồn gốc nhằm vụ lợi cá nhân... Mọi hành vi trên hoàn toàn do cá nhân ông Duy đơn phương thực hiện ngoài phạm vi nhiệm vụ được giao; Ban Giám đốc công ty hoàn toàn không hay biết và chủ động bàn giao toàn bộ chứng từ liên quan cho cơ quan chức năng để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật...”*
Duy lùi lại nửa bước, sống lưng va mạnh vào mép bàn làm việc bằng gỗ lim lạnh toát. Từng ngón tay run bần bật khiến tập tài liệu rung lên sột soạt. Cổ họng anh ta khô khốc, đắng nghét như vừa nuốt phải một ngụm tro tàn.
Mọi toan tính, mọi sự trung thành mù quáng bấy lâu nay bỗng chốc vỡ tan thành những mảnh vụn nhơ nhuốc. Hóa ra từ nhiều tháng trước, khi Thành chỉ đạo anh ta liên hệ với xưởng đóng khung của An Huy, khi ép Lê Bách vào thế kẹt của biên bản số 88, và khi bảo anh ta đưa chiếc đồng hồ Cuckoo vào tủ kính Vạn Lịch nhằm đánh lạc hướng sự chú ý, người đàn ông nhã nhặn, quyền lực kia đã tính sẵn từng nước cờ rút lui hoàn hảo. Tạ Minh Thành không hề đứng tên trên bất kỳ phiếu yêu cầu kỹ thuật nào; mọi biên bản giao nhận, mọi chữ ký nháy, mọi cuộc gặp gỡ trung gian đều mang tên Bùi Quang Duy. Tất cả giấy tờ đều trói chặt sợi dây thòng lọng vào cổ một mình anh ta.
Duy liếc xuống góc bàn làm việc. Nằm khuất sau giá đỡ bút bằng pha lê Tiệp Khắc là một chiếc phong bì da mỏng đựng vé máy bay điện tử của hãng hàng không Lufthansa: chuyến bay sang Frankfurt khởi hành vào tối thứ Bảy tuần này, mang tên hành khách Tạ Minh Thành.
“Mày định biến tao thành con dê tế thần sao, Thành?” Duy nghiến răng thì thào, khóe môi giật giật trong một cơn giận dữ pha lẫn hoảng loạn tột cùng. “Mày nghĩ tao ngu ngốc đến mức không chừa lại cho mình một con đường sống ư?”
Không do dự thêm một giây nào, Duy nhét vội hai tập văn bản giải trình vào túi áo măng-tô, bước nhanh sang bàn máy tính để bàn của Thành. Máy tính cá nhân đã tắt, nhưng Duy biết chiếc máy chủ cục bộ (NAS) của công ty đặt ngay trong phòng lưu trữ kỹ thuật số ở góc hành lang vẫn luôn duy trì trạng thái hoạt động 24/7 để phục vụ đồng bộ dữ liệu đám mây.
Luồn qua hành lang tối om, Duy mở cửa phòng kỹ thuật. Tiếng quạt tản nhiệt của dàn máy chủ rù rù đều đặn trong không gian lạnh lẽo của phòng điều hòa trung tâm luôn duy trì ở mức mười tám độ C. Bàn tay Duy run rẩy cắm chiếc ổ cứng di động bọc cao su chống sốc màu cam đen – vật bất ly thân mà anh ta luôn mang theo trong túi áo trong – vào cổng USB của máy trạm quản trị.
Với quyền quản trị viên phụ trách số hóa mà Duy từng nắm giữ trước khi bị Thành từng bước thu hẹp thẩm quyền, anh ta nhanh chóng vượt qua hai lớp tường lửa nội bộ. Trên màn hình máy tính sáng lóa, cây thư mục tuyệt mật mang tên mã `ARCHIVE_DP_INTERNAL` hiện ra với hàng nghìn tệp dữ liệu được mã hóa phân tầng.
Duy lập tức bôi đen toàn bộ các thư mục con quan trọng nhất: `PHOI_CHUNG_CHI_NGOAI_GIAO`, `HOA_DON_VAN_CHUYEN_ACHAU_2010_2023`, `LICH_GIAO_NHAN_BEN_THUY_DONG_PHU`, và quan trọng nhất là tệp ghi âm các cuộc gọi điều hành nội bộ qua ứng dụng bảo mật giữa Tạ Minh Thành và các đầu mối thu mua tại biên giới phía Bắc.
Thanh tiến trình sao chép dữ liệu nhảy từng phần trăm: *12%... 35%... 68%... 94%...*
Mỗi tiếng tích tắc của đồng hồ kỹ thuật số trên góc màn hình như một nhát búa nện vào màng nhĩ Duy. Anh ta liên tục liếc mắt nhìn qua ô kính cửa sổ phòng máy chủ ra phía hành lang tối om, sợ hãi rằng tiếng bước chân của bảo vệ hay bóng dáng thanh lịch nhưng tàn nhẫn của Tạ Minh Thành có thể bất ngờ xuất hiện từ góc tối.
*Tít.* Màn hình thông báo quá trình chuyển đổi hoàn tất: 18,4 Gigabytes dữ liệu đã được sao chép trọn vẹn vào ổ cứng di động.
Duy nhấn lệnh ngắt kết nối an toàn, rút phích cắm ổ cứng, nhét sâu vào túi trong áo khoác dạ, nơi khối kim loại lạnh ngắt áp sát vào lồng ngực đang đập loạn nhịp. Anh ta xóa sạch nhật ký truy cập của phiên làm việc trong vòng ba mươi giây, tắt màn hình máy trạm, rồi như một bóng ma vội vã lướt nhanh ra khỏi tòa nhà qua cửa thoát hiểm cầu thang bộ phía sau bãi đỗ xe ngầm, biến mất vào màn mưa phùn mịt mùng của phố phường Hà Nội.
***
Trong khi đó, tại tầng hai Bảo tàng Tư nhân Vạn Lịch trên phố Mã Mây, ánh đèn huỳnh quang chống lóa chiếu rọi mặt bàn thao tác rộng thênh thang của Phòng Lưu trữ tài liệu. Mùi giấy mộc cổ, mùi cồn sát trùng bảo tồn và hương gỗ lim ẩm đặc trưng của căn nhà phố cổ hòa quyện vào nhau, tạo nên một không khí tĩnh lặng đến trang nghiêm.
Ninh Tường Vi ngồi thẳng lưng trước giá đỡ văn bản chuyên dụng, đôi mắt nâu tập trung cao độ sau gọng kính mảnh. Từng lọn tóc mai buông xõa bên gò má thanh tú, nhưng ánh nhìn của cô lại ánh lên sự sắc sảo của một chuyên gia phục chế cổ thư dày dạn kinh nghiệm. Xung quanh cô, từng xấp hồ sơ được phân loại cẩn thận theo trật tự thời gian: bên trái là tập bản sao tờ khai hải quan lô hàng mang tên mã `MT-HQ/2022-XNK` mà Công ty Cổ phần Quản lý và Phát triển Di sản Minh Thành từng ủy thác cho bảo tàng đứng tên giám định lưu kho dưới danh nghĩa *“đồ mỹ nghệ phục chế sao chép phục vụ nghiên cứu và trao đổi văn hóa”*; bên phải là cuốn sổ tay bìa da đóng gáy thủ công của nhà báo Trần Minh Đạo mà cô vừa đối chiếu xong bảng quy ước mã hóa vào sáng nay.
Bên cạnh Vi, cụ Phạm Tư Thời đang nhấp từng ngụm trà sen ấm từ chiếc chén mắt trâu da lươn, chiếc kính lão tụt xuống sống mũi khi ông chăm chú quan sát chiếc thước đo cơ khí bằng thép không gỉ đặt trên mặt bàn. Cụ Thời khẽ xoay tròn chiếc chén trong lòng bàn tay, mắt nhìn vào những dòng chữ Hán Nôm và ký tự phương Tây viết xen kẽ trong tài liệu.
“Cháu nhìn ra điểm bất thường rồi, cụ Tư,” Vi khẽ nói, ngón trỏ mảnh mai gõ nhẹ lên dòng thông số kỹ thuật in bằng mực ty-pô trên tờ khai hải quan đợt ba năm ngoái. “Ở tờ khai số 114/HQ, Minh Thành khai báo một kiện hàng gồm ba thùng gỗ sồi hun khói, nội dung hàng hóa là ‘bình gốm hoa lam mô phỏng phong cách thời Lê sơ, chất liệu đất sét nung tráng men tro nhẹ, phục vụ mục đích trưng bày phi thương mại’. Nhưng cụ nhìn quy cách đóng gói xem.”
Cụ Tư rướn người tới, nheo mắt nhìn qua tròng kính lão dày cộp, ngón tay xương xẩu miết nhẹ trên mặt giấy scan sắc nét:
“Quy cách thùng: dài tám mươi xăng-ti-mét, rộng bốn mươi lăm, cao sáu mươi lăm xăng-ti-mét. Khung gỗ dổi hai lớp, có lót mút xốp định hình dày năm xăng-ti-mét phủ vải nhung bảo vệ... Chà, sao đồ mỹ nghệ sao chép hàng chợ mà lại đóng thùng kỹ lưỡng như bảo tồn quốc bảo thế này? Gỗ sồi hun khói chống mối mọt ngoại nhập, khung kép gia cố đai thép... Chi phí đóng một cái hòm như thế này khéo còn đắt hơn cả giá trị một chiếc bình gốm phục chế thông thường.”
“Không chỉ có vậy đâu cụ,” Vi lật mở trang 42 trong cuốn sổ tay của ông Đạo, nơi nét chữ viết tay bằng bút mực xanh đen Pelikan của người thầy cũ ghi lại các cuộc khảo sát thực địa tại các lò gốm cổ ven sông Đuống và sông Đáy mười năm trước. Từng nét vẽ phác thảo cấu trúc hoa văn cánh sen, đường viền sóng nước và tỷ lệ hình học của bình gốm hiện lên rõ mồn một. “Thầy Đạo đã ghi chép rất tỉ mỉ kích thước của chiếc bình hoa lam vẽ thiên nga thời Lê sơ từng bị khai quật trái phép tại một địa điểm khảo cổ ven sông Hồng: chiều cao thực tế năm mươi hai xăng-ti-mét, đường kính thân lớn nhất ba mươi sáu xăng-ti-mét, đường kính đáy hai mươi hai xăng-ti-mét.”
Vi cầm chiếc compa đo vẽ kỹ thuật, đặt lên sơ đồ mặt cắt thùng hàng trong tài liệu đính kèm tờ khai của Minh Thành:
“Nếu trừ đi độ dày năm xăng-ti-mét của lớp xốp EVA và khung nẹp gỗ thông bao quanh, khoảng không gian rỗng bên trong thùng số một vừa khít tuyệt đối với tỷ lệ hình học của chiếc bình hoa lam thời Lê sơ mà thầy Đạo từng ghi chú. Không thừa một phân, không thiếu một ly. Nó được thiết kế với độ cong chính xác của phần phình bụng bình hoa lam để chịu lực va đập khi vận chuyển đường dài.”
Cô lật tiếp hai tờ khai còn lại, trải rộng bản vẽ kỹ thuật của thùng số hai và số ba bên cạnh các trang nhật ký khảo sát:
“Thùng số hai khai báo là ‘đĩa gốm men ngọc mô phỏng thời Lý’, quy cách đường kính lòng thùng ba mươi lăm xăng-ti-mét. Trùng khớp với đường kính ba mươi mốt phẩy năm xăng-ti-mét của chiếc đĩa men ngọc trong ghi chép thực địa số hiệu `ĐP-115`. Và thùng số ba, khai báo là ‘đỉnh đồng xông trầm mỹ nghệ giả cổ’, kích thước khoang chứa hoàn toàn trùng với chiếc đỉnh đồng Hậu Lê mà chiều nay chú Đỗ Vạn Lịch vừa giao nộp cho anh Khang.”
Cụ Tư Thời khẽ thở dài, đặt chén trà xuống đĩa sứ kêu một tiếng *cạch* thanh mảnh. Ánh mắt người thợ đóng sách lão thành chùng xuống, đầy vẻ chua chát:
“Nghĩa là cái danh xưng ‘đồ sao chép mỹ nghệ’ chỉ là lớp vỏ bọc bằng giấy trên bàn hải quan. Kích thước thùng gỗ, kết cấu nẹp bảo vệ và phương thức đệm lót đều được thợ mộc đo ni đóng giày cho từng món cổ vật thật. Chúng ngụy tạo giấy tờ, biến đồ thật thành đồ giả trên văn bản, rồi đóng gói đồ thật vào những chiếc hòm thiết kế riêng để hợp thức hóa việc đưa qua biên giới mà không sợ bị đổ vỡ hay biến dạng.”
“Và quan trọng nhất,” Vi rút chiếc kẹp sắt, tách riêng ba phiếu giao nhận của Công ty Vận tải Á Châu, “mã kiện hàng ghi trên tờ khai là `MT-ART/03:15`, `MT-ART/07:20` và `MT-ART/14:HN`. Chúng không phải là số sê-ri ngẫu nhiên do máy tính sinh ra. Chúng dùng đúng hệ thống tiền tố mà Tạ Minh Thành và Bùi Quang Duy đã sao chép từ bẫy ngữ đồ của thầy Đạo. Thùng gỗ làm ra không phải để chở hàng nhái; chúng được đóng tại xưởng để chứa đúng những cổ vật đang bị tẩu tán từ Kho Đông Phù. Toàn bộ chuỗi logistics này là một đường dây khép kín từ khâu thu gom hiện vật ngầm, đóng gói chuyên dụng cho đến rửa hồ sơ hải quan.”
Đúng lúc đó, tiếng bước chân vội vã vang lên từ chiếu nghỉ cầu thang gỗ lim. Cửa phòng lưu trữ bật mở, Lục Khang bước vào trong bộ thường phục sẫm màu, hơi lạnh đầu đông và mùi gió sông bãi bồi vẫn còn vương nồng nặc trên vạt áo khoác gió của anh.
“Khang!” Vi đứng bật dậy, mắt ánh lên vẻ lo lắng khi nhận thấy sắc mặt nghiêm nghị bất thường của người trinh sát. “Anh vừa từ Đông Phù về sao?”
Khang gật đầu, tháo đôi găng tay da đặt lên mép bàn, ánh mắt lướt nhanh qua các tập tờ khai hải quan mà Vi vừa trải rộng trên mặt phẳng bọc nỉ:
“Tổ trinh sát vừa ghi nhận biến động lớn tại kho ngoại thành. Hai xe tải thùng kín dán logo công ty vận tải tư nhân đang bốc xếp hàng loạt kiện gỗ lớn rời kho chuyển thẳng về hướng bến phà cũ ngay trong đêm.”
“Bến phà cũ?” Vi thốt lên, các ngón tay vô thức bấu chặt vào mép cuốn sổ tay bìa da của thầy Đạo. “Nơi đó lòng sông rất rộng, lại giáp ranh giữa Hà Nội và Hưng Yên, ban đêm sương mù dày đặc hầu như không có tàu thuyền tuần tra qua lại.”
“Chính xác,” Khang kéo một chiếc ghế ngồi xuống đối diện Vi và cụ Tư, giọng nói trầm thấp nhưng dứt khoát. “Đó là tuyến đường thủy mà các đối tượng dùng để đưa hàng lên sà lan cát trung chuyển đi Hải Phòng hoặc xuôi về mạn Nam Định để đưa ra các tàu cá xa bờ. Chiều nay, việc ông Lịch chủ động giao nộp ba món đồ và ký biên bản làm việc với cơ quan điều tra đã khiến nội bộ chúng hoảng loạn. Tạ Minh Thành quyết định rút củi đáy nồi, tẩu tán toàn bộ tang vật vật chất còn lại trong kho trước khi chúng ta kịp hoàn tất thủ tục khám xét chính thức.”
Vi chỉ tay vào bảng đối chiếu quy cách kích thước thùng gỗ vừa vẽ xong:
“Khang, anh nhìn này. Toàn bộ các kiện hàng đang rời kho đêm nay chính là những món đồ có trong danh mục hồ sơ nguồn của thầy Đạo. Kích thước thùng gỗ hoàn toàn trùng khớp với thông số cổ vật thật. Nếu để hai chuyến xe tải đó cập bến phà cũ và bốc lên tàu thủy, toàn bộ chứng cứ vật chất chứng minh đường dây buôn lậu cổ vật đội lốt đồ mỹ nghệ sẽ biến mất vĩnh viễn trên sông Hồng! Một khi hàng đã xuống tàu vỏ sắt ra cửa biển, việc truy thu gần như là điều không tưởng.”
Khang nhìn sâu vào mắt Vi. Sự nhạy bén, kiên định và chuẩn xác trong từng phát hiện của cô gái trẻ một lần nữa khiến anh không khỏi nể phục. Không một suy đoán cảm tính, mọi nhận định của cô đều bắt rễ từ những con số đo đạc vật lý lạnh lùng và quy trình lưu trữ nghiêm ngặt.
“Tôi hiểu,” Khang rút chiếc điện thoại công vụ, ngón tay thoăn thoắt bấm số đường dây nóng nội bộ. “Chúng ta không thể chờ đến sáng mai.”
Anh áp điện thoại vào tai, giọng nói đanh gọn khi đầu dây bên kia vừa phát tín hiệu kết nối:
“Báo cáo Đội phó Sơn. Tôi đang ở bảo tàng cùng Ninh Tường Vi. Vi vừa rà soát xong toàn bộ quy cách đóng thùng của lô hàng ủy thác từ Minh Thành: kích thước các kiện gỗ rời kho Đông Phù đêm nay trùng khớp hoàn toàn với thông số các nhóm cổ vật thật trong tài liệu của ông Đạo. Đây chính là tang vật của chuyên án *NL-21*. Nếu để chúng chuyển tải xuống phương tiện thủy tại bến phà cũ, nguy cơ mất dấu vết vật chất là tuyệt đối.”
Ở đầu dây bên kia, giọng Trung tá Hoàng Thanh Sơn vang lên rành rọt qua loa ngoài, mang theo tiếng lật giấy tờ khẩn trương và tiếng gõ bàn phím dồn dập tại sở chỉ huy:
“Tôi vừa nhận được phê chuẩn phối hợp từ Viện Kiểm sát. Nhưng lệnh khám xét công khai địa điểm kho bãi phải đúng sáu giờ sáng mai mới có hiệu lực thi hành theo trình tự tố tụng để bảo đảm tính khách quan có sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Chúng ta không thể đột kích vào kho kín lúc nửa đêm mà không có lệnh của Viện Kiểm sát, điều đó sẽ vi phạm nghiêm trọng thủ tục thu thập chứng cứ.”
“Chúng ta không thể đợi đến sáu giờ sáng để vào kho rỗng, thưa Đội phó,” Khang kiên quyết đề xuất phương án tác chiến. “Tôi đề nghị phương án: Sử dụng quyền hạn kiểm tra liên ngành lâm thời giữa Đội Điều tra Kinh tế và Đội Kiểm soát Quản lý thị trường số 14. Cho lực lượng Quản lý thị trường lập chốt kiểm tra hành chính đột xuất về hóa đơn, chứng từ lưu thông hàng hóa đối với phương tiện vận tải đường bộ ngay tại ngã ba đê tả ngạn dẫn ra bến phà cũ. Lấy lý do kiểm tra chuyên đề cao điểm chống buôn lậu hàng hóa không rõ nguồn gốc cuối năm.”
Một khoảng lặng ngắn ngủi kéo dài vài giây qua đường truyền vô tuyến. Trung tá Sơn cân nhắc từng yếu tố pháp lý và rủi ro nghiệp vụ:
“Phương án rất sắc sảo. Kiểm tra hành chính phương tiện vận tải trên đường giao thông công cộng thuộc thẩm quyền độc lập của Quản lý thị trường phối hợp Cảnh sát Giao thông và Cảnh sát Kinh tế. Việc này hoàn toàn hợp pháp và không vi phạm quy định về thời gian khám xét nơi cư trú hay kho bãi kín. Tôi sẽ điều động ngay hai tổ công tác của Đội Quản lý thị trường số 14 phối hợp cùng mũi trinh sát của cậu chốt chặn ngã ba đê và đoạn dốc xuống bến phà cũ. Tạm giữ phương tiện và hàng hóa để kiểm tra chứng từ nguồn gốc ngay tại chỗ. Bằng mọi giá phải giữ chân hai chiếc xe tải chở các kiện gỗ đó lại trên mặt đê trước giờ G!”
“Rõ! Tôi sẽ di chuyển ra điểm chốt chặn phối hợp ngay lập tức,” Khang đáp dứt khoát rồi tắt máy.
Anh đứng dậy, cài lại cúc áo khoác gió, siết chặt thắt lưng trang bị. Cụ Tư Thời gật gù, ánh mắt lộ rõ vẻ tán thành và tin tưởng:
“Cứng nhắc đúng lúc và linh hoạt đúng luật. Cậu làm việc ngày càng giống ông già Sơn thời còn trẻ rồi đấy, Khang ạ. Cứ bình tĩnh mà xử trí, sự thật không thể bị che giấu mãi dưới bùn đất.”
Khang khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi thoáng qua trên gương mặt góc cạnh từng trải đầy bụi gió. Anh quay sang Vi, ánh mắt ấm áp hơn thường lệ:
“Cảm ơn Vi. Bản đối chiếu kích thước của cô chính là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để Đội phó Sơn thuyết phục bên Quản lý thị trường xuất quân đêm nay. Bây giờ đã quá nửa đêm rồi, cô và cụ Tư hãy về nghỉ ngơi đi. Mọi việc còn lại trên mặt đê, tổ trinh sát sẽ xử lý trọn vẹn.”
“Anh phải cẩn thận đấy,” Vi bước theo Khang ra tận cửa phòng lưu trữ, giọng cô chùng xuống, mang theo sự quan tâm kín đáo mà chính cô cũng không nhận ra. “Bến phà cũ đêm hôm rất vắng, địa hình lại trơn trượt sình lầy, những kẻ đường cùng thường liều lĩnh.”
“Tôi biết. Xong việc, tôi sẽ gọi cho cô.”
Khang gật đầu chào cụ Tư rồi thoăn thoắt bước xuống cầu thang gỗ, bóng lưng cao ráo nhanh chóng hòa vào màn mưa bụi mờ mịt nơi góc phố Mã Mây.
***
Một giờ sáng.
Căn gác lửng phía trên hiệu sách cũ của dì Ninh Thu Hà chìm trong không gian yên tĩnh quen thuộc của ngõ Hàng Chỉ. Dưới tầng trệt, dì Hà đã ngủ say sau một ngày dài phân loại các kiện sách cũ mới nhập về từ Nam Định. Trên gác, Vi không tài nào chợp mắt được. Tiếng đồng hồ quả lắc gắn tường gõ từng nhịp *tích tắc, tích tắc* nặng nề, hòa cùng tiếng mưa rơi rả rích trên mái ngói rêu phong.
Vi vẫn mặc nguyên chiếc áo len cổ lọ màu be, ngồi bên chiếc bàn làm việc gỗ mộc kê sát cửa sổ nhìn ra ngõ nhỏ. Bên ngoài, mưa phùn bắt đầu giăng mắc dày đặc hơn, biến những mái nhà xám xịt của phố cổ thành một bức tranh thủy mặc nhạt nhòa. Ánh đèn đường vàng vọt rọi qua kẽ lá của cây bàng già đầu ngõ, in những vệt bóng ngoằn ngoèo, chập chờn lên bức tường vôi loang lổ ẩm mốc.
Trên bàn, Vi đã pha một ấm trà hoa cúc nóng, nhưng chén trà bên cạnh đã nguội ngắt từ lâu. Từng xấp tài liệu được cô sắp xếp lại một cách trật tự: những trang sổ tay của thầy Đạo, những tờ phiếu điều vận của Công ty Á Châu, sơ đồ mặt bằng bến phà cũ Đông Phù và bản vẽ mặt cắt nhà số 17 Hàng Gương được cô xếp thành từng tệp ngay ngắn. Chúng như một bức tranh ghép hình khổng lồ đầy vết rạn nứt, mà những mảnh ghép then chốt cuối cùng đang dần dần khớp nối vào vị trí lịch sử của nó.
Vi nhìn bức ảnh chụp chung của cô và nhà báo Trần Minh Đạo ngày cô tốt nghiệp đại học, được lồng trang trọng trong khung gỗ nhỏ ở góc bàn. Nụ cười cương nghị của người thầy, người đồng nghiệp lớn tuổi như đang nhắc nhở cô về một món nợ danh dự chưa trả hết. Sự mất tích đầy uẩn khúc của ông hai năm trước, những bài báo điều tra bị bóp nghẹt từ trong trứng nước, và cả những tủ kính sáng choang của Bảo tàng Vạn Lịch... tất cả đều bắt nguồn từ cùng một bàn tay giấu mặt đầy quyền uy và xảo quyệt.
*Reng... reng... reng!*
Tiếng chuông điện thoại bàn đặt ở góc giá sách bỗng rộ lên dồn dập, xé toạc màn đêm tĩnh mịch.
Âm thanh kim loại va đập gay gắt khiến Vi giật nảy mình, tim cô thắt nghẹn lại. Trong căn nhà cổ vắng lặng lúc nửa đêm, tiếng chuông điện thoại bàn cố định mang theo một dự cảm bất an lạnh toát sống lưng. Một cuộc gọi vào lúc một giờ sáng không bao giờ là một tin tức bình thường. Có phải Khang gọi từ bến đê Đông Phù? Có biến cố gì xảy ra với các tổ chốt chặn của Quản lý thị trường và Công an kinh tế? Hay chiếc xe tải đã vượt thoát xuống lòng sông?
Vi hít sâu một hơi, bước nhanh qua sàn gỗ kêu cọt kẹt, nhấc ống nghe màu đen áp sát vào tai:
“Alo, tôi nghe đây.”
Đầu dây bên kia không có tiếng còi xe cảnh sát hay tiếng gió rít quen thuộc của triền đê sông Hồng mùa cạn.
Chỉ có tiếng thở dốc hỗn hển, ngắt quãng, kèm theo tiếng rè rè đặc trưng của đường truyền analog từ một trạm điện thoại công cộng ngoài trời. Tiếng còi xe tải hạng nặng vụt qua ngắt quãng trên nền âm thanh mưa rơi lộp bộp vào mái che bằng tôn mỏng.
“Ninh... Ninh Tường Vi phải không?”
Một giọng nam vang lên, run rẩy, khàn đặc và lạc đi vì hoảng loạn tột độ. Âm sắc vỡ vụn, như thể phát ra từ một cổ họng bị bóp nghẹt bởi sự sợ hãi cùng cực.
Vi siết chặt quai ống nghe, toàn bộ tế bào thần kinh trong não bộ lập tức căng ra như dây đàn. Trí nhớ âm thanh đặc biệt của một người phục chế tài liệu – vốn quen với từng ngữ điệu, từng độ rung nhỏ nhất của giọng nói con người – nhận diện đối phương gần như ngay lập tức:
“Bùi Quang Duy?”
“Là tôi...” Đầu dây bên kia có tiếng Duy nuốt nước bọt ực một cái, hơi thở đứt quãng, dồn dập như thể anh ta vừa phải chạy thục mạng qua nhiều con ngõ tối tăm. “Đừng... xin cô đừng gác máy! Cô nghe tôi nói đây... Tôi biết bây giờ cô chẳng có lý do gì để tin tôi cả. Nhưng tôi không còn con đường nào khác nữa rồi... Tôi không còn ai để nói chuyện lúc này cả...”
Vi giữ chặt ống nghe, từng ngón tay trắng bệch vì siết mạnh. Cô hít một hơi thật sâu để giữ cho giọng mình giữ nguyên độ lạnh lùng, dứt khoát:
“Anh đang ở đâu? Tại sao lại gọi vào số máy này vào giờ này?”
“Tôi đang ở... ở một bốt điện thoại gần ga Giáp Bát. Điện thoại cá nhân tôi đã tháo SIM bẻ gãy vứt xuống cống rồi,” giọng Duy run bắn lên, từng từ như vấp vào nhau trong cơn hoảng loạn. “Thành... Tạ Minh Thành muốn giết tôi! Hắn không chỉ muốn phủi tay, hắn muốn tống tôi vào tù mọt gông! Hắn đã chuẩn bị sẵn văn bản đổ hết tội danh làm giả con dấu, giả chứng chỉ Bách Mộc và lập hồ sơ khống lên đầu tôi! Hắn có vé máy bay trốn ra nước ngoài vào tối thứ Bảy này rồi!”
Vi im lặng lắng nghe, ánh mắt cô hướng về cuốn sổ tay của thầy Đạo đang mở trên bàn. Nước cờ phản bội nội bộ mà cô và Khang từng dự đoán cuối cùng đã bùng nổ, và nó diễn ra tàn khốc hơn bất kỳ kịch bản nào. Kẻ giật dây bao giờ cũng chuẩn bị sẵn những con rối thế mạng khi sân khấu bắt đầu sụp đổ.
“Anh nói những điều đó với tôi để làm gì?” Vi lạnh lùng hỏi, giọng cô như một nhát dao cắt đứt sự bấn loạn của Duy. “Anh là người trực tiếp cạy tủ C-04 lấy tài liệu từ chiếc đồng hồ Cuckoo, anh trực tiếp ép An Huy làm khung giả để đánh tráo hiện vật, và anh cũng chính là người gửi những lá thư nặc danh đe dọa bảo tàng. Anh biết rõ cơ quan công an đã có đầy đủ chứng cứ về hành vi phạm pháp của anh. Anh gọi cho tôi để cầu xin sự thương hại sao?”
“Tôi biết! Tôi biết hết! Tôi biết mình đã nhúng chàm quá sâu!” Tiếng Duy nghẹn lại, xen lẫn một tiếng nấc tuyệt vọng qua màng rung ống nghe. Tiếng mưa ngoài bốt điện thoại dội xuống mái tôn ngày một lớn hơn. “Tôi thừa nhận tôi đã tham lam, tôi ngu xuẩn khi tin vào những lời hứa hẹn cổ phần của Thành! Nhưng tôi không phải là kẻ chủ mưu! Tôi chỉ là đứa chạy việc làm theo lệnh! Toàn bộ mạng lưới vận chuyển đường thủy, các hợp đồng rửa tiền qua cổ vật, các bản thảo gốc của ông Đạo mà Thành cướp được hai năm trước... tôi đều biết chúng nằm ở đâu! Tôi đang giữ toàn bộ dữ liệu nội bộ của công ty trong tay!”
Tiếng gió rít qua khe cửa bốt điện thoại công cộng gầm gào trong ống nghe, hòa cùng tiếng thở gấp gáp như sắp ngất đi của người đàn ông đang bị dồn vào chân tường. Sau một thoáng im lặng nghẹt thở, Duy hạ thấp giọng, một âm điệu vừa van nài vừa mang tính toán của kẻ đang nắm giữ con bài sinh tử cuối cùng.
Giọng Duy qua ống nghe khàn đặc và gấp gáp: 'Tôi có thứ cô cần để cứu ông Đạo, nhưng cô phải bảo đảm công an không tóm tôi cùng một rọ với Thành.'