Lối vào kho ở nhà sàn Pú Chao
Gầm nhà sàn Pú Chao nồng nặc mùi vỏ măng luộc và bồ hóng, nơi những chiếc nia đan bằng nứa già xếp lớp lớp trên giàn phơi đón chút nắng hanh hiếm hoi của vùng cao.
Gió từ sườn lũng thốc qua các khe liếp, cuộn theo từng luồng hơi nước ngùn ngụt từ chiếc chảo gang khổng lồ bắc trên bếp lò dã chiến đắp bằng đất thó ở góc sân. Thứ hơi nước ấy đặc quánh, mang theo vị chua nồng ngái ngái đặc trưng của măng nứa vừa được vớt ra sau nhiều tiếng sôi sùng sục giữa lửa củi gầm gào. Nước luộc rỉ qua kẽ nứa, từng giọt quánh màu vàng sẫm nhỏ tong tỏng xuống rãnh thoát nước kè bằng đá cuội xám xịt, bốc lên một làn khói lãng đãng mờ ảo như vệt sương lam chưa kịp tan. Đỗ Hải Yến đứng nép bên bậc cầu thang gỗ ngoài trời, balô họa cụ nặng trĩu đè nghiến lên một bên vai gầy. Cô khẽ hít một hơi thật sâu rồi đưa những ngón tay bám đầy bụi đường lên chỉnh lại mép khẩu trang vải đã lấm tấm mồ hôi.
Sau chặng đường dài xóc nảy đến thắt từng khúc ruột từ thung lũng Tả Reng vắt qua những con dốc đất đỏ nhão nhoét trơn như bôi mỡ, hai đầu gối cô vẫn còn run rẩy, cổ họng khô khát như ngậm phải nắm trấu. Mùi đất ướt, mùi mùn lá mục hòa lẫn vào vị chát đắng của thứ măng nương luộc dở khiến sống mũi cô cay sè. Yến đảo mắt nhìn quanh gầm sàn rộng thênh thang, nơi ánh sáng ban ngày chỉ rọi được một nửa, nửa còn lại chìm khuất vào bóng tối sâu hun hút dưới những thân cột gỗ sa mộc to bằng cả người ôm.
Trần Mai bước lên trước nửa bước, một tay xách túi mẫu nấm hương đã được phân loại kỹ càng từ chập tối hôm qua, bước chân hơi khập khiễng nhẹ sau cú trượt ngã ở bờ suối sáng nay nhưng từng nhịp bước vẫn dứt khoát, vững vàng. Mai dừng lại cách chiếc chiếu cói trải ở đầu hồi chừng ba bước chân, dừng đúng khoảng cách mà những người buôn bán sành sỏi ở vùng rẻo cao này coi là chừng mực và cung kính. Cô cất tiếng chào, giọng nói rành rẽ, trong trẻo át cả tiếng củi nổ lách tách trong lò:
— Cháu chào bà Sương ạ. Cháu là Mai, hôm nọ anh Bình có thưa trước với bà về việc tụi cháu ghé qua xem mẻ măng nương đầu vụ đấy ạ. Còn đây là Yến, bạn cháu, phụ trách vẽ minh họa cho xưởng.
Người đàn bà ngồi trên chiếc đòn gỗ thấp dưới gầm sàn chậm rãi ngẩng đầu lên.
Bà Lò Thị Sương chừng ngoài năm mươi tuổi, vóc người đậm chắc như một khúc gỗ nghiến chôn chân dưới lòng suối. Mái tóc hoa râm của bà được búi cao gọn gàng sau gáy, giữ chặt bằng một chiếc trâm bạc đã mòn nhẵn góc cạnh qua bao năm tháng. Đôi bàn tay bà buông thõng trên đùi, những ngón tay loang lổ những vệt thâm đen nhánh do nhựa măng tươi ngấm sâu vào từng kẽ móng qua hàng chục mùa vụ, các khớp xương gồ ghề, chai sần dấu vết của những nhát dao bài róc vỏ, bổ củi thâu đêm suốt sáng. Bà không vội đáp lời ngay. Cặp mắt sâu hoắm, đuôi mắt hằn những vết chân chim khắc nghiệt từ từ buông chiếc kẹp tre xuống mép nia nứa. Bà đưa bàn tay trái xoa bóp nhè nhẹ vào khớp cổ tay phải đang sưng đỏ lên vì phải đảo những mẻ măng nặng trịch suốt từ tờ mờ sáng. Ánh mắt điềm tĩnh, dò xét của bà rà một lượt từ đỉnh đầu xuống gấu quần bết bùn của Mai, rồi dừng lại thật lâu, sắc lạnh như một lưỡi nạo trên chiếc giá vẽ gấp gọn bằng nhôm và hộp bút chì than mà Yến đang ôm khư khư trước ngực.
— Xe thằng Bình chưa về đâu, — bà Sương mở lời, thanh âm trầm, khô khốc và đanh lại như tiếng đá cuội va nhau dưới đáy vực, không hề có vẻ vồn vã đón khách thường thấy của người vùng thấp nhưng tuyệt nhiên không có chút cằn cỗi hay xua đuổi. — Nó điện về bảo hỏng cái gioăng bơm dầu ở ngã ba Bản Cầm, tắc đường ở đấy, chắc phải sang chiều muộn mới mò về đến bản. Còn hai đứa muốn xem măng thì cứ đứng ngoài này mà nhìn.
Bà chống tay vào đầu gối đứng dậy, tà váy chàm dày nặng sột soạt cọ vào nhau theo từng cử động dứt khoát. Bằng một ngón tay sạm nắng, móng tay ám màu khói bếp chỉ thẳng ra khoảng hiên ngoài cùng, nơi ánh nắng xế xiên nghiêng qua rặng sa mộc cổ thụ rọi một vạt vàng nhạt le lói lên nền dát tre bương:
— Tôi vạch rõ thế này cho tiện việc cả hai bên. Cô vẽ thì ngồi gọn trong khoảng hiên từ cây cột số một này hắt ra ngoài mép giàn phơi. Tuyệt đối không được bước qua ngạch cửa chính, không bước vào gian trong, và không đi xuống lối kho phía sau gầm sàn. Măng đang kỳ rút nước, bụi nứa và phấn măng rất dễ bay vào mắt người lạ, đứng lộn xộn chỉ tổ vướng chân người đảo nia.
Yến giật mình, vội vàng gật đầu lia lịa. Cô đưa mắt nhìn theo hướng ngón tay khô gầy của bà Sương. Khoảng hiên ngoài quả thực rất thoáng đãng, lộng gió và ngập tràn ánh sáng trời. Từ vị trí này, tầm mắt có thể bao quát toàn bộ dãy giàn phơi ghép bằng những thân nứa tép bắc ngang qua triền dốc thoải, nơi hàng trăm miếng măng vầu, măng nứa đã luộc chín, xẻ đôi đang ngửa cái bụng vàng ươm lên nền trời đón nắng.
— Dạ vâng, cháu hiểu rồi ạ. Cháu chỉ xin phép ngồi đúng góc hiên này để phác thảo thôi, bảo đảm không làm vướng lối đi hay chạm vào đồ đạc của bà đâu ạ.
Bà Sương liếc nhìn chiếc đồng hồ cơ mạ kền đeo ở cổ tay trái, mặt kính đã xước dăm chằng chịt những vết cọ quẹt, rồi nói tiếp bằng một giọng đều đều, không mảy may gợn chút cảm xúc:
— Mười một giờ ba mươi là nhà tôi dập lò nghỉ trưa. Nhà sàn ban trưa tĩnh gió, người già cần ngả lưng và tôi cũng phải tra dầu xoa thuốc cho cái cổ tay này. Đúng mười một giờ ba mươi, hai cô cất hết giấy bút, ngồi yên ngoài hiên uống nước chè hoặc xuống quán cơm đầu dốc ăn trưa. Tuyệt đối không đi lại gõ cửa, không kéo ghế sột soạt, không gọi với vào trong nhà làm phiền giấc nghỉ của gia đình. Đến một giờ ba mươi chiều, khi tôi nhóm lại lò mẻ hai thì mới được làm việc tiếp. Được như thế thì hẵng mở đồ ra.
Mai đứng bên cạnh tiếp lời ngay không một giây chậm trễ. Cô mở cuốn sổ ghi chép bìa da màu nâu sẫm dắt bên hông túi, rút chiếc bút bi bấm kêu một tiếng tách dứt khoát, cẩn thận ghi nhanh một dòng chữ ngay ngắn: *11h30 – 13h30: Nghỉ trưa, dập lò, tuyệt đối giữ yên tĩnh*. Xong xuôi, cô ngẩng lên nhìn bạn, ánh mắt vừa nghiêm nghị vừa khích lệ:
— Dạ, quy định giờ giấc như vậy là rất rõ ràng và chuẩn mực rồi ạ. Yến, cậu nghe rõ lời bà dặn rồi đấy nhé. Chúng ta làm việc tuyệt đối tuân thủ khung giờ này. Đúng giờ là thu dọn dứt khoát, không nấn ná một giây nào.
Yến khẽ thở phào một hơi dài, cảm giác ngột ngạt nơi lồng ngực vơi đi phân nửa. Cô đặt chiếc balô nặng trĩu xuống cạnh chân cột gỗ sa mộc nhẵn bóng, nơi thớ gỗ đã lên nước nâu bóng như sừng sau hàng chục năm cọ xát với mồ hôi người và khói bếp. Sự rạch ròi, thẳng thắn đến mức có phần cay nghiệt của bà Sương thoạt nghe thì lạnh lùng, nhưng đối với một người đã nếm trải đủ thứ rắc rối vì thói đãi bôi, khách sáo nửa vời như Yến, nó lại mang đến một cảm giác an tâm lạ kỳ. Một ranh giới rõ ràng luôn là điều tốt nhất để bắt đầu một công việc nghiêm túc.
Yến mở chốt chiếc ghế xếp nhỏ bằng vải dù rằn ri, mở khóa hộp bút chì than và lật giở trang giấy can trắng muốt khổ A3 đóng gáy xoắn lò xo. Mặt giấy thô nháp khẽ sột soạt dưới đầu ngón tay.
Gió từ đáy vực Nậm Vài thốc ngược lên sườn núi, mang theo mùi nhựa cây the nồng, ngai ngái lẫn trong hơi ấm âm ỉ tỏa ra từ lớp than tro ủ kỹ dưới lòng chảo gang. Yến bắt đầu cắm cúi vạch những nét kỷ hà đầu tiên lên mặt giấy. Những chiếc nia tròn đan bằng cật nứa già, những thanh giàn nứa song song chạy dài tít tắp men theo triền dốc tạo nên một nhịp điệu thị giác vô cùng lôi cuốn. Từng vệt than chì 2B lướt êm ái, sắc lẹm, bắt lấy góc nghiêng trầm mặc của mái ngói máng phủ đầy rêu xanh xám, những vạt khói mỏng manh như sợi tơ rủ xuống từ chái nhà, và cả những thớ măng nứa xẻ dọc đang cong vênh dưới cái nắng hanh khô khốc.
Thế nhưng, sau chừng bốn mươi phút miệt mài lia bút, một thói quen cố hữu của người từng làm nghề thiết kế đồ họa thương mại lại âm thầm trỗi dậy trong tâm trí Yến.
Bức tranh phẳng quá. Góc nhìn một chiều từ mép hiên ngoài tuy chuẩn mực về quy tắc nhưng lại khiến bố cục giàn phơi trở nên đơn điệu, dàn hàng ngang như một bức ảnh chụp tư liệu thô vụng. Nó thiếu hẳn cái chiều sâu thăm thẳm, sự u uẩn, cổ kính và vẻ huyền bí của một ngôi nhà sàn vùng cao – thứ gia vị “bản địa hoang sơ” mà những người mua lịch ở các đô thị dưới xuôi, và đặc biệt là biên tập viên Vũ Minh An ở nhà xuất bản, luôn miệng đòi hỏi trong từng bản phác thảo gửi về. An từng gõ ngón tay lên bàn bảo cô: *“Tranh của em phải có cái hồn bí ẩn của đại ngàn, phải có những lối tối dẫn dụ người ta bước vào bóng đêm của nếp nhà xưa, chứ đừng có rải mọi thứ ra trần sì như tờ báo tường!”*
Yến ngước mắt lên, buông lỏng ngọn bút chì, vô thức đưa mắt tìm kiếm một điểm tụ mới để tạo hiệu ứng hút mắt cho tiền cảnh bức vẽ.
Ánh mắt cô trượt qua dãy giàn nứa, men theo mép tường liếp đan mắt cáo rồi dừng lại ở một hành lang ngách tối om, nằm lùi sâu vào bên trong bóng râm thăm thẳm của gầm sàn.
Ở đó, một lối đi lát bằng những tấm ván gỗ nghiến đen bóng, mòn vẹt vì dấu chân qua lại, dẫn thẳng vào một cánh cửa then cài bằng gỗ giổi dày cộp – kho trữ hàng khô của gia đình bà Sương. Dọc theo vách hành lang là một dãy cầu thang phụ bằng gỗ đẽo gọt thô mộc, tay vịn nhẵn thín, dẫn thẳng lên buồng ngủ kín đáo của phụ nữ trong nhà. Một tia nắng xiên khoai từ khe hở trên mái ngói máng chiếu đúng vào chiếc ổ khóa đồng cổ kính treo trên then cửa và những bao tải gai xếp ngay ngắn sát chân vách, làm nổi bật lên những hạt bụi li ti nhảy múa trong không trung. Một độ tương phản sáng tối tuyệt mỹ, một sự giao thoa hoàn hảo giữa ánh sáng gay gắt của lao động ngoài trời và bóng tối thâm nghiêm của chốn riêng tư.
Yến cảm thấy tim mình đập nhanh hơn một nhịp. Đó chính là thứ “chiều sâu nghệ thuật” mà cô đang kiếm tìm!
Không một chút đắn đo, cô xoay nhẹ bảng vẽ trên đùi, đổi sang cây bút chì 4B mềm hơn để bắt đầu nhấn nhá mảng tối. Đầu ngón tay cô thoăn thoắt rê than chì, phác ra những thanh giằng chéo bằng gỗ kiên cố của cánh cửa kho, những bậc cầu thang gỗ riêng tư uốn lượn hút tầm mắt vào bóng tối của gian buồng trên gác, và cả cấu trúc chiếc then cài bằng then đồng cổ lỗ sĩ. Cô đắm chìm vào việc xử lý phối cảnh ba điểm tụ phức tạp, mải miết đến mức hoàn toàn không nhận ra tiếng bước chân trần nện êm nhưng nặng nề trên mặt sàn tre đang tiến lại gần từ phía sau lưng.
— Cô đang vẽ cái gì đấy?
Một giọng nói đanh gọn, sắc lạnh như một nhát dao chém ngang cành nứa vang lên ngay sát đỉnh đầu.
Yến giật thót người, ngọn bút chì trượt một vệt đen ngoằn ngoèo, lem luốc qua mép tờ giấy can.
Bà Lò Thị Sương đã đứng sừng sững bên cạnh tự lúc nào. Trên tay bà là chiếc rổ tre lớn đựng đầy những lát măng tươi vừa rửa xong, nước rỏ tong tỏng xuống mặt sàn tre. Gương mặt người đàn bà không còn vẻ trầm mặc, điềm đạm lúc ban sáng nữa. Đôi mắt sâu hoắm của bà quắc lên những tia giận dữ sắc sảo, hai cánh mũi phập phồng, ánh nhìn như thiêu đốt rọi thẳng vào góc tranh vừa thành hình trên cuốn sổ phác thảo của Yến.
— Dạ... cháu... cháu chỉ đang lấy thêm chiều sâu cho bức vẽ thôi ạ, — Yến lắp bắp, hai má nóng bừng, vội vàng giơ cuốn sổ ra như một phản xạ tự vệ vụng về. — Cháu thấy cái hành lang ngách này có vệt nắng xiên đẹp quá, bố cục hút mắt... dẫn người xem vào không gian bên trong ngôi nhà...
— Chiều sâu cái gì! — Bà Sương cắt ngang không thương tiếc, từng âm thanh dằn mạnh xuống mặt sàn bương nghe chát chúa. — Tôi đã bảo cô thế nào lúc mới bước chân lên đây? Tôi chỉ cho phép cô ngồi vẽ giàn phơi ở hiên ngoài! Ai cho phép cô lia bút vẽ thẳng vào lối lên buồng riêng và cửa kho hàng của nhà tôi?
Trần Mai đang ngồi kiểm tra sổ sách ở góc hiên đối diện vội vàng buông chiếc máy tính bỏ túi xuống mép ba lô, bước nhanh tới đỡ lời, giọng đầy vẻ hối lỗi:
— Bà Sương ơi, cháu xin lỗi bà nhiều lắm ạ. Bạn Yến mải mê tìm góc hình nghệ thuật nên lơ đễnh quên mất lời bà dặn, bạn ấy hoàn toàn không có bụng dạ xấu gì đâu ạ...
— Không bụng dạ xấu cũng không được! — Bà Sương dằn mạnh chiếc rổ tre xuống mặt đòn gỗ, tiếng va đập khô khốc vang lên làm lũ gà dưới gầm sàn hoảng hốt quang quác chạy tán loạn. — Các cô từ dưới xuôi lên, các cô tưởng cái nhà sàn này là cái chợ trời để ai muốn ngó nghiêng, muốn vẽ cái gì vào sổ cũng được à? Cái kho đấy là nơi cất giữ toàn bộ cơ nghiệp, vốn liếng tích cóp cả năm trời của cả họ nhà tôi! Từng bao măng khô loại một, từng cân nấm hương thượng hạng, từng hũ bạc trắng dự phòng việc ốm đau, ma chay, cưới hỏi đều nằm sau cánh cửa then cài ấy. Cầu thang ngách là lối đi riêng của đàn bà con gái trong nhà lên buồng nghỉ, người ngoài bản còn không bao giờ được phép ngước mắt ngó vào, thế mà cô đem toàn bộ sơ đồ, lối đi, góc khuất, then khóa của nó bày rành rành lên mặt giấy trắng mực đen thế này à?
Từng câu, từng chữ của bà Sương như những cái tát vô hình giáng thẳng vào mặt Yến.
Máu dồn ứ lên hai mang tai, nóng rát như có than hồng dí vào da thịt. Yến cúi gằm mặt nhìn xuống bức vẽ của mình. Dưới ánh sáng ban ngày trần trụi, những nét chì đen bóng vẽ chiếc then cài cửa kho, những bậc thang dẫn lên chốn riêng tư bỗng hiện lên như một sơ đồ chỉ điểm, một sự xâm phạm thô bạo, vô lối và trơ trẽn đến mức không thể bào chữa.
Cô bỗng nhớ lại lời răn dạy thâm trầm của ông Vàng A Sính ở Tả Reng mấy hôm trước về kho thóc giống, rồi nhìn vẻ mặt cảnh giác cao độ, ánh mắt phòng thủ đầy cay đắng của bà Sương lúc này. Ở nơi rẻo cao khắc nghiệt này, nơi mồ hôi và nước mắt của cả một mùa vụ phải chắt chiu cất giấu sau từng cánh cửa gỗ dày, ranh giới giữa không gian lao động ngoài hiên và chốn riêng tư gia bảo là một lằn ranh thiêng liêng bất khả xâm phạm. Người ta mở lòng cho cô một chỗ ngồi để ghi chép lại nhịp sống lao động, chứ không hề ban cho cô cái quyền tự tiện bóc trần những bí mật đời sống của họ để phục vụ cho một thứ mỹ cảm thị giác vị kỷ, rỗng tuếch.
— Cháu... cháu xin lỗi bà, cháu thật sự nông nổi và vô ý quá, — giọng Yến nghẹn lại, sống mũi cay xè. Cô run run thò tay vào hộp bút, rút ra chiếc gôm tẩy dẻo màu xám tro. — Cháu xin lỗi bà Sương, cháu sẽ xóa sạch ngay lập tức ạ. Cháu không giữ lại một nét nào đâu ạ.
— Gôm sạch đi! Không được để sót lại một vết hằn nào trên mặt giấy! — Bà Sương khoanh tay đứng sừng sững bên cạnh, ánh mắt như hai ngọn đèn pha rọi thẳng xuống từng cử động của bàn tay Yến. Thanh âm của bà đã hạ bớt âm lượng nhưng vẫn lạnh buốt như sương muối.
Yến cắm cúi đưa cục gôm chà mạnh lên mặt giấy can. Bàn tay cô run rẩy bần bật. Từng mảng bóng đổ công phu cô mất gần nửa tiếng đồng hồ nắn nót, từng thanh giằng chéo của cánh cửa kho bằng gỗ giổi, từng bậc thang gỗ nghiến và chiếc then cài bằng đồng lần lượt vỡ vụn ra thành những sợi vụn cao su đen nhẻm, vương vãi khắp mặt giấy. Yến dùng mu bàn tay gạt lia lịa những vụn tẩy rơi lả tả xuống sàn tre bương, cẩn thận miết đi miết lại cho đến khi góc phải của tờ giấy can chỉ còn lại một khoảng trắng mờ trơ trọi, lộ rõ thớ giấy xơ xác vì bị ma sát quá mạnh.
Bà Sương đứng nhìn chăm chú vào khoảng giấy trắng loang lổ ấy suốt mấy phút đồng hồ. Nét mặt căng thẳng của bà mới dần chùng xuống đôi chút, nhưng khóe môi vẫn mím chặt. Bà thở hắt ra một hơi dài, quay sang nhìn Mai đang đứng nín thở, hai bàn tay đan chặt vào nhau:
— Cô Mai, đi vào đây tôi cho xem cái này. Chuyện hàng họ với thằng Bình tí nữa tính sau, nhưng cái việc này thì cô với cô vẽ đây phải mở mắt ra mà nhìn cho rõ.
Nói rồi, bà Sương quay người bước về phía chiếc chõng tre cũ kỹ kê sát vách hiên ngoài, nơi bóng râm che mát một góc sàn. Bà cúi xuống, với tay kéo từ dưới gầm chõng ra một chiếc hòm gỗ sơn then đã tróc lở nhiều mảng. Tiếng bản lề rỉ sét rên lên ken két khi nắp hòm bật mở, phả ra một luồng mùi băng phiến nồng nặc át cả mùi măng luộc. Bà Sương thò bàn tay chai sần vào đáy hòm, lôi ra một xấp bao bì ni-lông bóng kính dày dặn, được buộc cẩn thận bằng một sợi lạt nứa đã ngả màu ố vàng vì thời gian.
— Mấy công ty nông sản dưới xuôi thỉnh thoảng lại cho người mang mẫu mã lên đây, gạ tôi đóng măng vào mẫu của họ để họ bao tiêu đem vào siêu thị, — bà Sương ngồi phịch xuống mép chõng tre, đặt xấp bao bì lên mặt dát bương, ngón tay thô ráp lật giở từng chiếc nghe sột soạt. — Hợp tác làm ăn thì ai chả muốn, bớt được công chở đi chợ phiên thì tốt quá. Nhưng nhìn mấy cái thứ nhãn họ in ra đem lên đây, tôi chỉ muốn tống cổ cả bọn về xuôi cho rảnh nợ!
Yến rụt rè bước từng bước nhỏ sau lưng Mai, đôi mắt vẫn còn ngân ngấn nước vì xấu hổ. Cô cúi đầu nhìn xuống xấp nhãn bao bì in màu sặc sỡ đang nằm phơi mình trên mặt chõng tre.
Đột nhiên, bước chân Yến khựng lại. Toàn thân cô đông cứng như bị sét đánh ngang tai, máu trong người dường như đông đặc lại, rút cạn khỏi gương mặt cô.
Nằm ngay trên cùng xấp nhãn cũ là một chiếc bao bì măng nương khô in bằng chất liệu màng ghép phức hợp bốn màu vô cùng bóng bẩy, bắt mắt. Ở góc trên bên phải, một logo cách điệu hình ba bông lúa uốn lượn mạ nhũ vàng kim nổi bật trên nền xanh lá cây đậm. Bên dưới là dòng chữ uốn éo theo lối thư pháp hiện đại: *“Măng Nương Rừng Già Tây Bắc – Tinh Hoa Đại Ngàn”*.
Đó là bản thiết kế của chính cô.
Chính xác là đứa con tinh thần mà Đỗ Hải Yến đã còng lưng vẽ và dàn trang cho một công ty thương mại thực phẩm sạch có trụ sở tại quận Cầu Giấy vào đúng hai năm về trước. Đó là quãng thời gian cô còn là một nhân viên thiết kế đồ họa mới ra trường, ngồi co ro suốt tám tiếng mỗi ngày trong căn phòng máy lạnh ngột ngạt ở Hà Nội, nhận những đồng lương cơ bản còm cõi và quay cuồng với hàng chục hợp đồng thiết kế bao bì khoán theo số lượng mỗi tháng.
Từng mảng viền hoa văn thổ cẩm giả lập vụng về chạy quanh bốn cạnh bao bì, từng font chữ cách điệu mô phỏng chữ viết tay mềm mại, và đặc biệt là hình minh họa vẽ một cô gái vùng cao mặc trang phục sặc sỡ đeo chiếc gùi măng đứng giữa làn sương khói mờ ảo bên dưới rặng tre xanh ngắt... tất cả đều là sản phẩm được nhào nặn ra từ con chuột máy tính, bảng vẽ điện tử và sự tưởng tượng hời hợt của cô.
Hai bàn tay Yến run rẩy, lạnh toát như ngâm vào nước đá. Ở góc dưới cùng bên phải của dải hoa văn viền, đôi mắt cô bắt gặp một ký hiệu đồ họa bé xíu: hình một chiếc lá cách điệu lồng hai chữ cái “HY” – chữ viết tắt của Hải Yến – một thứ “chữ ký cá nhân” ngây ngô, tự mãn mà cô từng lén gài vào các ấn phẩm thương mại thời kỳ đó để thỏa mãn cái tôi non nớt.
— Đây, các cô mở to mắt ra mà nhìn cái của nợ này xem, — bà Sương dằn mạnh ngón tay trỏ đen đúa vì nhựa măng lên chính giữa hình vẽ cô gái đeo gùi măng sặc sỡ. — Nhìn thì bóng bẩy, xanh đỏ tím vàng đẹp mắt đấy, người thành phố nhìn vào chắc mê tít. Nhưng vẽ vờ vĩnh sai toét từ đầu đến đuôi, sai không ngửi được!
Mai đứng bên cạnh nhận thấy bờ vai Yến đang run lên bần bật, sắc mặt tái nhợt như không còn một giọt máu. Mai khẽ huých nhẹ cùi chỏ vào cánh tay bạn, kín đáo nắm lấy bàn tay đang lạnh ngắt của Yến rồi ngẩng lên hỏi bà Sương:
— Dạ, mẫu này sai ở những điểm nào hả bà? Cháu thấy hình như đây là mẫu của một công ty phân phối nông sản khá lớn ở mạn Hà Nội thì phải.
— Sai từ cái gốc rễ của nghề làm măng nương! — Bà Sương hừ mạnh một tiếng qua kẽ răng, lật phắt mặt sau của chiếc bao bì, nơi in phần quy trình sơ chế và bảo quản kèm theo những hình vẽ minh họa nhỏ li ti. — Các cô nhìn xem, cái đứa vẽ cái nhãn này nó vẽ măng nương gì mà lại mọc mơn mởn vào mùa xuân, búp măng xanh biếc như măng tre đồng bằng, lại còn vẽ người ta xúng xính váy hoa đi bẻ măng giữa sương sớm mùa hoa ban nở?
Bà Sương lắc đầu ngao ngán, giọng đầy vẻ giễu cợt:
— Măng nương vùng Pú Chao này là măng vầu, măng nứa mọc tự nhiên trên các vạt rừng già! Dân bản người ta đi đào, đi bẻ rộ nhất là từ tháng Bảy đến tháng Chín âm lịch, trúng vào những ngày mưa dầm nắng gắt, vắt bám đầy chân, muỗi rừng bu kín mặt! Mùa hoa ban nở đầu xuân thì đào đâu ra măng nứa mà bẻ? Mùa ấy chỉ có vài búp măng đắng mọc lác đác bên bờ suối, bẻ về luộc chấm mẻ ăn bữa một cho đỡ nhạt mồm, lấy đâu ra hàng tấn măng nương mà làm hàng khô xuất bán về xuôi?
Bà Sương lại lật ngược bao bì về mặt trước, ngón tay gõ côm cốp vào từng hình vẽ minh họa quy trình phơi măng:
— Đã thế, cái đứa vẽ này nó còn vẽ người ta rải từng búp măng tươi trực tiếp lên bãi cỏ xanh mướt để phơi nắng! Bố khỉ, măng nứa bẻ trên rừng về mà không lột vỏ, không cho ngay vào chảo gang luộc sôi ùng ục suốt sáu tiếng đồng hồ cho thôi hết chất đắng với nước chát độc hại, mà đem rải thẳng lên cỏ phơi thì chỉ có thối rữa, giòi bọ lúc nhúc, ruồi bâu kiến đậu đầy ra đấy chứ khô làm sao nổi? Lại còn in cái dòng chữ to tướng ở đây: *Độ ẩm thành phẩm dưới năm phần trăm*!
Bà Sương thở dốc, lồng ngực phập phồng vì cơn bức xúc tích tụ bấy lâu nay của một người thợ thủ công gắn bó cả đời với từng nia măng, bị xúc phạm bởi sự cẩu thả của những kẻ ngồi phòng lạnh:
— Măng phơi nắng tự nhiên trên giàn nứa, rút hết nước ngậm nắng hanh thì độ ẩm chuẩn mực của nó bao đời nay phải nằm ở mức mười hai đến mười lăm phần trăm. Miếng măng khô kiệt dưới năm phần trăm như cái nhãn này bốc phét thì chỉ có đem tống vào lò sấy công nghiệp xông bằng lưu huỳnh độc hại! Sấy kiểu đấy thì miếng măng giòn vụn ra như rơm khô, bẻ một cái là gãy nát, đem về nấu lên thì dai ngoách như xơ mướp, không còn một chút mùi thơm ngọt tự nhiên nào của rừng già nữa.
Bà Sương vỗ mạnh mu bàn tay xuống mặt bao bì ni-lông:
— Năm ngoái, họ gửi hàng vạn cái bao bì này lên, ép xưởng tôi phải đóng măng vào đấy. Khách dưới xuôi mua về, thấy lớp phấn măng màu trắng ngà tự nhiên phủ mỏng trên bề mặt miếng măng phơi nắng thì đùng đùng chụp ảnh nhắn tin chửi bới ầm ĩ! Họ bảo xưởng tôi làm ăn gian dối, bán măng bị mốc hỏng, đòi trả hàng phạt tiền! Họ đọc cái nhãn bóng bẩy này, thấy vẽ măng vàng ươm không tì vết, lại thấy dòng cảnh báo dớ dẩn bảo là “măng sạch không phấn”, thế là họ đinh ninh lớp phấn đường tự nhiên của măng nương phơi nắng là nấm mốc độc hại!
Giọng bà Sương chùng xuống, cay đắng:
— Khổ thân cái xưởng của tôi, mất trắng gần bốn tạ măng loại một gửi xe tải về bến Giáp Bát bị trả ngược lên. Tiền cước xe đi về chịu đứt đuôi con cá cột chèo, măng dỡ ra dỡ vào va đập gãy vụn hết, phải bán tống bán tháo cho người ta nấu cám lợn! Từ dạo ấy, tôi đã thề với thằng Bình: đứa nào vác mấy cái thứ nhãn vẽ hươu vẽ vượn ngồi phòng điều hòa bịa chuyện lên đây thì đuổi thẳng cổ, không mua bán bao tiêu một cân nào sất!
Từng lời bà Sương nói ra như những mũi kim châm thẳng vào tâm can Yến.
Cô đứng chết lặng giữa khoảng hiên lộng gió, hai tai lùng bùng như có tiếng xay lúa bên trong. Ký ức của hai năm trước ùa về rõ mồn một. Căn phòng làm việc tầng bốn ngột ngạt mùi cà phê hòa tan và tiếng bàn phím lạch cạch. Bản yêu cầu dự án dài chưa đầy nửa trang giấy A4 mà người quản lý dự án ném lên bàn cô: *“Làm cho anh một mẫu bao bì đậm chất Tây Bắc hoang sơ, phải có núi non mây mù, có hoa ban trắng cho nó thơ mộng, vẽ thêm cô gái dân tộc đeo gùi cho nó bắt mắt, màu sắc phải rực rỡ để nổi bần bật trên quầy kệ siêu thị. Cứ lên mạng gõ Tây Bắc là ra đầy tư liệu, vẽ nhanh trong ba ngày để chốt xưởng in!”*
Và cô đã làm đúng như thế. Cô lên Google gõ chữ “măng tre”, “hoa ban Tây Bắc”, tải về những tấm ảnh chụp búp tre Bát Độ xanh mướt ở đồng bằng, ghép vào bóng hình một thiếu nữ Thái mặc áo cóm xách gùi, rồi phóng bút tô vẽ những mảng màu rực rỡ nhất có thể. Cô đã hân hoan khi nhận được lời khen ngợi của sếp, tự hào khi thấy mẫu thiết kế được duyệt ngay trong vòng một nốt nhạc, hãnh diện khi nhìn thấy hàng vạn chiếc bao bì bóng loáng xuất xưởng. Cô chưa từng một lần bận tâm tìm hiểu xem măng nương thực sự được bẻ vào mùa nào, người ta phải trần lưng bên chảo gang sôi sáu tiếng ra sao, giàn phơi làm bằng nứa hay rải trên cỏ, và lớp phấn trắng mịn màng kỳ diệu kết tinh từ đường măng tự nhiên sau những ngày nắng hanh là gì.
Sự hời hợt, lười biếng, ngạo mạn và thiếu hiểu biết của một người làm đồ họa ngồi phòng máy lạnh đã gián tiếp hủy hoại mồ hôi, công sức và nước mắt của những người lao động chân lấm tay bùn như bà Sương. Nó không chỉ là một bức vẽ sai, nó là một tội lỗi kinh tế, một sự xúc phạm đối với sự thật của nghề nghiệp.
Mai nhìn sang bạn, thấy những ngón tay của Yến đang bấu chặt vào gấu áo khoác gió đến mức các khớp ngón trắng bệch, không còn chút huyết sắc. Mai không nói gì, chỉ im lặng đặt bàn tay ấm áp lên bờ vai đang khẽ run rẩy của Yến, siết nhẹ như muốn truyền thêm cho cô một điểm tựa vững chãi để đối diện với sự thật.
Yến hít một hơi thật sâu, luồng không khí nồng mùi khói và măng luộc tràn vào buồng phổi làm ngực cô nhói buốt. Nhưng ánh mắt cô không còn sự hoảng loạn hay trốn tránh nữa. Sau bài học về chiếc thau rửa bát nhôm ở Pả Lùng, sau những vết rách trên bản vẽ chảo thắng cố ở Sín Mây, cô hiểu rằng cách duy nhất để cứu chuộc danh dự của một người cầm bút là phải can đảm nhìn thẳng vào sự thật lao động và khiêm nhường học lại từ những điều nhỏ nhất.
Yến bước lên một bước, đứng đối diện với bà Sương, rồi cúi gập người xuống thật thấp:
— Cháu xin lỗi bà. Cái nhãn măng này... chính là do cháu vẽ hai năm trước ở Hà Nội ạ.
Bà Sương thoáng sững lại. Đôi lông mày hoa râm rậm rạp của bà nhướng lên, ánh mắt sắc sảo nhìn xoáy vào gương mặt đang đỏ bừng vì xấu hổ nhưng ánh lên sự chân thành tuyệt đối của cô gái trẻ:
— Cô... cô vẽ cái thứ của nợ này à?
— Vâng ạ. Chính là cháu vẽ theo đơn đặt hàng của công ty dưới xuôi, — giọng Yến run rẩy nhưng từng từ phát ra đều dứt khoát, rành rọt. — Hồi đó cháu ngồi trong phòng máy lạnh, chỉ tra ảnh trên mạng rồi tự tưởng tượng ra để vẽ cho đẹp mắt, cho dễ bán hàng. Cháu không hề biết măng nương phải luộc chín suốt sáu tiếng, không biết mùa bẻ măng là mùa mưa dầm tháng Bảy, và càng không biết lớp phấn trắng tự nhiên lại là bảo chứng cho chất lượng măng phơi nắng... Sự dốt nát, cẩu thả và vô trách nhiệm của cháu đã làm hại đến mẻ măng của xưởng bà, làm mất công sức của bao nhiêu người... Cháu thành thật xin lỗi bà Sương ạ.
Khoảng không gian dưới gầm nhà sàn Pú Chao bỗng chìm vào một sự im lặng tuyệt đối.
Chỉ có tiếng củi nổ lách tách trong lò đất, tiếng nước sôi ùng ục từ đáy chảo gang xa xa và tiếng gió rít qua những khe liếp nứa. Bà Sương trân trân nhìn Yến, ngón tay bà vẫn đặt trên chiếc bao bì bóng kính. Một thoáng bàng hoàng lướt qua đôi mắt người đàn bà vùng cao, rồi chậm rãi, sự giận dữ ban nãy tan biến, nhường chỗ cho một cái nhìn trầm ngâm, từng trải của một người đã đi qua quá nửa đời người giữa những biến động của núi rừng.
— Cô dám nhận là cô vẽ cái này, — bà Sương nói chậm rãi, thanh âm đã mềm đi rất nhiều. — Người dưới xuôi lên đây làm ăn, hễ bị bóc mẽ cái sai thì hay quanh co chối cỗi, đổ vấy cho cơ chế, đổ cho khách hàng, đổ cho người này người nọ. Cô dám đứng ra nhận cái sai tày đình này của mình ngay trước mặt tôi, thế là trong cái bụng cô còn có cái tâm của người cầm bút.
Bà Sương gập xấp bao bì cũ lại, dùng sợi lạt nứa buộc chặt lại như cũ rồi đặt ngay ngắn vào chiếc hòm gỗ:
— Biết mình vẽ sai, vẽ dối trá làm hại người khác... thế giờ cô định làm thế nào?
Yến ngẩng đầu lên, ánh mắt cô sáng lên một sự quyết tâm kiên định chưa từng có:
— Dạ thưa bà, cháu muốn xin phép bà cho cháu được vẽ lại từ đầu. Không phải vẽ để in lên cái thứ bao bì dối trá này nữa, mà vẽ vào bộ lịch lao động thực tế mà tụi cháu đang thực hiện. Cháu xin phép bà cho cháu được đứng cạnh giàn phơi, quan sát và ghi chép lại toàn bộ thao tác đảo măng của bà, đo đúng từng độ dày của lát măng, ghi lại thời gian luộc và cách hong nắng giòn. Cháu sẽ viết chú thích rõ ràng bằng chữ in hoa để bất kỳ người mua nào dưới xuôi khi nhìn vào bức vẽ cũng hiểu rằng: măng nương phơi nắng chuẩn mực là bắt buộc phải có lớp phấn trắng tự nhiên, và đó là tinh túy của nắng gió Pú Chao chứ tuyệt đối không phải là nấm mốc!
Bà Sương nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của Yến một hồi lâu, rồi khóe miệng khô nẻ của bà khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo, bao dung:
— Được. Cô muốn vẽ thật thì ra đây với tôi. Nhưng tôi nói trước: tôi làm việc của tôi, mồ hôi chảy ròng ròng, không có chuyện đứng lại làm mẫu hay uốn éo tạo dáng cho cô vẽ đâu đấy.
— Dạ, cháu chỉ cần được vẽ bà lúc đang làm việc thôi ạ! — Yến mừng rỡ, vội vàng đáp lời.
Bà Sương đứng dậy, bước nhanh ra khu vực giàn phơi ngoài hiên. Yến vội vàng ôm lấy cuốn sổ ký họa nhỏ và chiếc bút kim ngòi sắt 0.3mm, bước thoăn thoắt theo sau từng bước chân của bà. Mai mỉm cười nhẹ nhõm, cô cũng kéo ghế xếp ngồi lại mép hiên, mở cuốn sổ theo dõi đơn hàng ra để ghi chép các thông số kỹ thuật măng khô, chuẩn bị phương án đối lưu nguồn hàng cho các mối buôn quen thuộc ở thị trấn.
— Nhìn cho kỹ vào đây, — bà Sương vừa nói, hai bàn tay thoăn thoắt cầm chiếc kẹp tre lật một miếng măng củ dày cộp trên mặt nia nứa. — Măng nứa sau khi luộc chín đủ sáu tiếng trong chảo gang, vớt ra rổ tre để nguội hẳn thì mới được pha. Dùng dao bài thật sắc, liếc qua đá mài bùn, xẻ dọc búp măng làm đôi. Miếng măng củ phần gốc dày thịt thì phải khứa nhẹ các đường xéo hình vảy cá. Khứa thế này để khi phơi nắng, nước bên trong lõi măng thoát đều ra ngoài mà không làm chua ruột, không bị ủng thối từ bên trong. Độ dày chuẩn của miếng măng củ tươi khi xẻ là từ một phân đến một phân hai. Dày quá thì phơi lâu khô, gặp ngày mưa ẩm là hỏng ngay; mỏng quá thì khi teo lại chỉ còn mỏng dính như tờ giấy bản, đem ninh xương nhũn nát mất hết vị giòn sần sật.
Yến vừa chăm chú lắng nghe, mắt không rời từng cử động của bàn tay bà Sương, ngòi bút kim trên tay cô lia thoăn thoắt trên mặt giấy. Cô không cố vẽ toàn cảnh cho thật thơ mộng nữa, mà phóng to từng chi tiết mang tính kỹ thuật lao động: nhát dao khứa xéo hình vảy cá dứt khoát trên thớ măng luộc màu vàng ngà, độ dày của lát măng đối chiếu chuẩn xác với đốt ngón tay trỏ của người thợ, và những thanh nứa già làm giàn phơi được vót nhẵn thăn để nhựa măng không bám chặt vào thớ gỗ.
— Thế còn thời gian hong nắng thì sao hả bà? — Yến cẩn thận hỏi, đầu bút vẫn miệt mài ghi lại các chi tiết giải phẫu học của búp măng. — Mỗi mẻ măng khô thế này phải phơi mất bao nhiêu ngày nắng ạ?
— Phải đúng bốn cái nắng giòn! — Bà Sương đáp, giọng đầy vẻ tự hào nghề nghiệp. Hai bàn tay bà thoăn thoắt đảo từng miếng măng lá mỏng tang như những cánh bướm vàng xếp lớp trên nia. — Nắng non hay nắng dốt đều không tính. Ngày đầu tiên và ngày thứ hai là quan trọng nhất. Nắng lên lúc chín giờ sáng, tan hết sương mù là phải rải đều măng ra nia ngay. Cứ hai tiếng đồng hồ phải dùng kẹp tre đảo mặt một lần để hai bên rút nước đều tăm tắp. Đến cuối ngày thứ hai, khi miếng măng se lại, chuyển từ màu vàng tươi sang màu vàng hổ phách thì gom lại, gác lên giàn bếp củi ủ suốt một đêm cho ngậm khói sa mộc chống sâu mọt.
Bà Sương vừa nói vừa đưa tay chỉ lên giàn bếp gác trên cao:
— Sang ngày thứ ba và ngày thứ tư, lại đem ra phơi nắng gắt từ trưa đến xế chiều. Khi ấy, chất đường ngọt tự nhiên ẩn sâu trong thớ măng theo hơi nước thoát dần ra bề mặt. Gặp gió hanh khô khốc của vùng cao thổi qua, lớp đường ấy sẽ kết tinh lại thành một lớp phấn mỏng màu trắng ngà, mịn màng như phấn sáp ong.
Bà Sương với tay lấy một miếng măng khô thành phẩm từ chiếc bồ nứa đan kín đặt cạnh giàn, chìa ra tận tay cho Yến:
— Cô cầm lấy mà sờ, mà ngửi thử xem. Miếng măng khô đạt chuẩn là cầm lên phải nhẹ bẫng nhưng thớ thịt dẻo quánh, bẻ cong hình chữ U không bị gãy vụn. Đưa lên mũi ngửi phải có mùi thơm the the của nắng hanh quyện với mùi khói củi sa mộc mộc mạc. Lớp phấn trắng này miết nhẹ vào đầu ngón tay thì mịn như bột gạo, nếm thử có vị ngọt thanh thanh nơi đầu lưỡi. Đấy mới là măng nương chuẩn chỉ của đất Pú Chao này!
Yến trân trọng đón lấy miếng măng từ đôi bàn tay chai sần của bà Sương.
Đầu ngón tay cô chạm vào lớp phấn mỏng mịn màng, cảm nhận rõ rệt độ dẻo dai đàn hồi của thớ măng rừng đã đi qua bao nắng lửa, gió rét và sự nhọc nhằn, kiên nhẫn của con người. Cô đặt miếng măng nằm ngay ngắn bên cạnh trang sổ, vẽ một hình trích đoạn chi tiết tỷ lệ 1:1, cẩn thận nắn nót từng dòng chú thích bằng mực đen không thể phai mờ:
*“Măng nương khô Pú Chao: Thu hoạch tháng 7 – tháng 9 âm lịch. Luộc kỹ chảo gang 6 tiếng, xẻ dọc 1 – 1,2cm, khứa vảy cá. Phơi nắng tự nhiên trên giàn nứa đúng 4 nắng giòn, đảo mặt mỗi 2 tiếng. Lớp phấn trắng ngà trên bề mặt là đường măng tự nhiên kết tinh trong quá trình rút nước, là dấu hiệu của măng phơi nắng đạt chuẩn độ ẩm 12 – 15%, tuyệt đối không phải nấm mốc.”*
Đúng mười một giờ ba mươi phút, tiếng chuông báo thức hẹn giờ trên chiếc điện thoại của Mai khẽ rung lên bần bật trong túi áo.
Không đợi bà Sương phải cất lời nhắc nhở lần thứ hai, Yến lập tức dừng bút. Cô nhẹ nhàng đóng nắp chiếc bút kim, xếp gọn gàng cuốn sổ ký họa vào túi chống sốc. Mai cũng nhanh chóng gấp cuốn sổ ghi chép lại, tắt máy tính bỏ túi. Hai cô gái lặng lẽ thu dọn toàn bộ đồ đạc cá nhân, bước lùi ra khoảng hiên ngoài cùng sát chân cầu thang, giữ trọn vẹn sự tĩnh mịch, trang nghiêm cho ngôi nhà sàn khi bà Sương dập lò than, buông then cài cánh cửa chính để ngả lưng nghỉ trưa.
Buổi trưa vùng cao trôi qua trong tiếng ve rừng rả rích và tiếng gió xào xạc luồn qua những tán sa mộc cổ thụ. Yến và Mai chia nhau nắm cơm lam mua vội ở chợ phiên buổi sáng, nhấp từng ngụm nước chè xanh chát ngọt mà bà Sương đã hào phóng rót sẵn trong chiếc ấm tích bọc rơm ủ ấm ngoài hiên.
Đến hơn một giờ ba mươi chiều, bà Sương trở dậy, nhóm lại bếp lò mẻ hai. Khói lam lại bốc lên nghi ngút, quyện chặt lấy gầm sàn. Yến tiếp tục ngồi vẽ nốt những chi tiết phối cảnh giàn phơi dưới ánh nắng chiều xiên khoai, cẩn thận không để ngọn bút lấn qua bất kỳ ranh giới cấm kỵ nào. Mọi việc tưởng chừng như đang diễn ra vô cùng suôn sẻ, đúng như kế hoạch đã định.
Thế nhưng, sự bình yên ấy không kéo dài được lâu.
Đến hơn ba giờ chiều, bầu trời phía tây bỗng đổi sắc đột ngột. Những đám mây xám chì nặng trĩu hơi nước từ sườn dãy Hoàng Liên Sơn bắt đầu cuồn cuộn tràn xuống, nuốt chửng những đỉnh núi xa xa và làm dịu hẳn cái nắng hanh khô khốc. Gió bắt đầu đổi chiều, mang theo hơi lạnh buốt và mùi ngai ngái của một cơn mưa rừng đang áp sát.
Mai liên tục đứng ngồi không yên. Cô chốc chốc lại đưa tay nhìn đồng hồ đeo tay, rồi bước ra tận mép dốc đất đỏ nhìn hút tầm mắt xuống khúc cua tay áo dưới thung lũng.
Theo đúng lịch trình đã được thống nhất kỹ lưỡng từ hôm qua ở Tả Reng, chuyến xe tải nhỏ của Lò Văn Bình – con trai bà Sương – đáng lẽ phải có mặt tại nhà sàn Pú Chao từ lúc một giờ ba mươi chiều. Xe sẽ bốc ba tạ măng nương khô đóng bao của bà Sương và thùng hàng mẫu nấm hương của Mai, sau đó xuất phát thẳng về bến trung chuyển Nậm Vài trước khi trời sập tối. Thế nhưng hiện tại, kim đồng hồ đã nhích qua mốc ba giờ bốn mươi lăm phút chiều.
Chuyến xe đã trễ hơn hai tiếng đồng hồ.
— Anh Bình vẫn không nghe máy à cậu? — Yến lo lắng hỏi. Cô đã thu dọn toàn bộ giá vẽ, bút mực và balô chống nước gọn gàng từ nửa tiếng trước, sẵn sàng lên đường.
— Thuê bao không liên lạc được suốt từ nãy đến giờ, chắc lại mất sóng ở đoạn cua Dốc Mù Sương rồi, — Mai cắn chặt môi dưới, những ngón tay bấm liên hồi vào màn hình điện thoại đã hiện thông báo sóng chập chờn. — Mẹ tớ vừa nhắn tin báo dưới xuôi khách quen đang giục lấy hàng nấm hương để kịp làm lễ cúng rằm tháng Bảy. Nếu chiều nay không về kịp Nậm Vài để gửi chuyến xe khách đêm về bến Mỹ Đình, toàn bộ số nấm sấy dở hôm nọ coi như lại ứ đọng thêm một ngày nữa, hỏng hết kế hoạch giao hàng.
Đúng lúc cơn sốt ruột của Mai lên đến đỉnh điểm thì từ khúc cua tay áo dưới chân dốc Pú Chao bỗng vang lên tiếng gầm rú ầm ĩ của một động cơ xe tải cũ rích. Tiếng kim loại rỉ sét va đập leng keng cùng tiếng lốp xe trượt ràn rạt trên rãnh bùn đỏ nhão vang vọng khắp sườn đồi tĩnh mịch.
Chiếc xe tải một tấn rưỡi màu xanh bộ đội đã tróc sơn lốm đốm, đầu xe bám đầy bùn đất đỏ quạch như vừa lội qua một bãi lầy, ì ạch bò từng mét một lên dốc cao rồi phanh két một cái chói tai ngay trước cổng rào tre nhà bà Sương. Khói dầu xả ra đen kịt một vùng không khí ẩm ướt.
Cửa xe bên lái bật mở tanh tách, một người đàn ông trạc ba mươi lăm tuổi, dáng người cao gầy, mặc chiếc áo phông lính bạc màu nhảy phắt xuống nền đất bùn. Lò Văn Bình quệt mồ hôi trán nhễ nhại, hai bàn tay dính đầy dầu luyn đen sì, vừa đi vừa phủi bụi đất bám đầy trên ống quần bò rách gối.
— Ôi dào, khổ quá các cô ơi! Khổ không để đâu cho hết! — Bình cười hề hề, thanh âm bỗ bã, cố tỏ ra xởi lởi nhưng không giấu nổi vẻ mệt mỏi và sốt ruột lộ rõ trên đôi mắt vằn đỏ. — Xe với chả cộ, nó lại giở chứng đứt phựt cái dây curoa máy phát ngay đoạn đèo Nậm Mạ! Sóng điện thoại thì tịt ngúm, tôi phải vẫy xe ôm chạy ngược về thị tứ Bản Cầm mua đồ thay, vật lộn giữa trời nắng mất gần hai tiếng bạc cả mặt!
Bà Sương từ trên cầu thang nhà sàn bước xuống, nhìn đứa con trai bằng ánh mắt sắc lẹm, đầy vẻ trách móc:
— Làm ăn như trò trẻ con. Hẹn người ta một giờ rưỡi mà gần bốn giờ chiều mới vác cái mặt về. Mây đen kéo kín đỉnh núi phía tây đằng kia rồi kìa, mưa rừng nó ụp xuống thì có mà trượt bánh nằm chết dí giữa dốc, hàng họ ướt hết thì đền cho người ta à?
Mai bước nhanh tới trước mặt Bình. Giọng cô nghiêm lại, lạnh lùng và không giấu nổi sự căng thẳng đang dồn nén:
— Anh Bình, xe cộ hỏng hóc dọc đường là chuyện rủi ro ngoài ý muốn, tụi em hoàn toàn thông cảm được. Nhưng hàng măng của bà với số nấm của em đã được đóng bao gai, bọc nilon sẵn từ trưa rồi. Giờ anh bốc hàng lên thùng xe nhanh giúp em, mình xuất phát ngay bây giờ thì may ra vẫn kịp chuyến xe khách chín giờ tối ở bến Nậm Vài để chuyển hàng về xuôi.
Bình gãi gãi mái tóc bùn đất, ánh mắt thoáng lộ vẻ ngập ngừng. Anh ta đảo mắt nhìn sang rặng sa mộc, lảng tránh cái nhìn trực diện, đanh thép của Mai. Bình thò tay vào túi quần rút ra một điếu thuốc lá lào, bật quẹt châm lửa, rít một hơi dài phả khói mù mịt rồi mới hạ giọng, cười giả lả:
— À... cô Mai này, chuyện bốc mấy bao măng của bu tôi với thùng nấm của cô thì nhanh thôi, tôi với thằng cháu vần loáng cái mười lăm phút là xong ngay ấy mà. Nhưng mà... cái lịch chạy ngày mai với chuyến đi tối nay có khi anh em mình phải tính lại một tí cho nó thuận tiện.
Mai nhíu mày, sống lưng cô cứng đờ lại như có một luồng điện chạy dọc:
— Tính lại là sao hả anh Bình? Lịch trình chúng ta đã chốt bằng miệng và có ghi chép rõ ràng từ hôm qua ở Tả Reng: tối nay anh đưa tụi em và hàng về Nậm Vài, sáng mai đúng sáu giờ sáng đón tụi em đi tiếp sang chợ đá Khe Nọi để kịp phiên chợ sớm. Chi phí bao trọn chuyến xe tụi em đã đồng ý trả đúng mức giá anh yêu cầu, không bớt một đồng nào cơ mà?
— Thì vẫn đi Khe Nọi, tôi có bảo hủy đâu, nhưng mà không đi sớm sáu giờ sáng thế được đâu cô Mai ơi, — Bình hạ giọng xuống mức thân mật giả tạo, hai tay khua khua giữa không trung như muốn làm nhẹ bớt tính chất nghiêm trọng của vấn đề, nhưng từng lời anh ta thốt ra lại khiến bầu không khí bỗng chốc đông đặc lại. — Trưa nay lúc ngồi chờ thằng thợ ở Bản Cầm nó ép cái gioăng cao su, con Hà nhà tôi ở bên mạn hồ Nà Pao nó gọi điện sang gắt gỏng quá chừng.
Bình rít thêm một hơi thuốc sâu hoắm, nhả khói qua kẽ răng:
— Vườn mận tam hoa với mấy sọt quả qué của nó gom ở các bản ven lòng hồ đang rộ chín rục ra hết cả rồi, mưa xuống mà để thêm một ngày là thối ủng, vứt đi cả đống tiền. Thuyền chở quả từ các đảo cập bến Nà Pao lúc bảy giờ sáng mai. Tôi lỡ nhận lời với nó là sáng mai vòng xe sang ghép thêm chuyến hàng quả ấy vào thùng xe tải để chở kèm về thị tứ luôn một thể rồi.
Mai sững sờ, hai mắt mở to vì kinh ngạc, lồng ngực cô phập phồng vì một cơn giận dữ trỗi dậy:
— Anh nhận ghép thêm chuyến chở mận của chị Hà ở ven hồ Nà Pao? Từ thị trấn Nậm Vài mà chạy vòng ngược vào ven hồ Nà Pao đường đất dốc quanh co, ổ voi ổ gà mất đứt hơn ba tiếng đồng hồ chạy xe! Sao anh nhận chuyến hàng ghép ấy mà không hề bàn trước với tụi em lấy một lời? Tụi em thuê bao trọn gói xe của anh cơ mà!
— Thì... thì tiện một công đôi việc mà cô Mai! — Bình phân bua, giọng bắt đầu gắt gỏng theo thói quen của cánh tài xế đường dài khi bị dồn vào thế bí. — Đằng nào xe cũng chạy qua mạn ấy, tôi tạt vào hồ chở thêm mấy chục sọt quả kiếm thêm đồng tiền cước bù vào tiền thay cái dây curoa với bộ lốp đang mòn trơ bố thép này chứ! Vợ chồng tôi đang gom tiền cuối năm đại tu lại cái máy xe tải, cô lạ gì nỗi khó khăn của cánh lái xe chúng tôi mùa mưa bão này. Mai tụi mình lùi lịch lại, tầm mười một giờ trưa xuất phát đi Khe Nọi thì có chết ai đâu nào!
— Mười một giờ trưa thì chợ đá Khe Nọi tan từ lâu rồi anh Bình ạ! — Mai dằn từng tiếng một, giọng cô run lên vì uất ức. Cô bước tới sát trước mặt Bình, ánh mắt kiên quyết không nhượng bộ. — Chợ Khe Nọi họp bên bãi đá ven suối cạn, phiên chợ chỉ họp từ tờ mờ sáng đến non trưa. Tầm trưa là nước thượng nguồn đổ về ngập bãi, người ta dọn sạp về hết sạch! Bạn Yến đi chuyến này là để ký họa phiên chợ đá hiếm hoi ấy. Hơn nữa, việc anh tự ý nhận thêm hàng ghép, làm thay đổi toàn bộ giờ giấc của khách mà không hề hỏi ý kiến người thuê xe, đấy là anh phá vỡ cam kết làm việc! Là anh làm ăn chộp giật, thiếu uy tín!
Bà Sương đứng cạnh bậc cầu thang, nghe con trai nói vậy thì gương mặt sạm nắng đanh lại, đôi mắt quắc lên giận dữ. Bà vung chiếc kẹp tre chỉ thẳng vào mặt Bình, quát lớn bằng tiếng Kinh lơ lớ:
— Thằng Bình! Mày lại giở cái thói tùy tiện, tham lam nhận việc bừa bãi ra đấy rồi! Người ta thuê xe trọn gói, trả tiền đàng hoàng, mày nhận thêm hàng của con Hà thì mày phải mở mồm ra hỏi người ta một tiếng chứ! Mày làm ăn bôi bác thế thì ai người ta dám thuê xe mày lần sau nữa?
— Thôi bu để con tự tính việc của con! Việc nhà mình không lo trước thì lo cho ai! — Bình gắt ầm lên, vẻ mặt bướng bỉnh, chai sạn của một gã tài xế đường rừng quen thói tự tung tự tác trỗi dậy hoàn toàn.
Anh ta vứt toẹt mẩu tàn thuốc lá xuống rãnh bùn đỏ quạch, dùng mũi giày vải giẫm nát một cách thô bạo. Bình quay ngoắt lại nhìn Mai và Yến bằng một ánh mắt bất cần, trâng tráo:
— Giờ sự đã rồi, tôi nhận lời với vợ tôi rồi thì tôi không bỏ được. Bỏ chuyến quả của con Hà là nhà tôi mất trắng mấy triệu bạc tiền cọc. Chiều nay tôi vẫn chở măng của bu với thùng nấm của các cô về Nậm Vài đúng hẹn trước bảy giờ tối, thế là tròn trách nhiệm chuyến hôm nay nhé. Còn chuyến ngày mai đi Khe Nọi, nếu các cô chịu lùi lịch sang trưa, đi ghép với chuyến chở quả Nà Pao thì tôi bớt cho năm chục nghìn tiền cước coi như tiền đền bù nước nôi. Còn nếu các cô không chịu... thì sáng mai các cô tự đi mà tìm xe khác sang Khe Nọi! Đường này mùa này bói đâu ra xe tải thứ hai cho các cô thuê!
Dứt lời, không thèm chờ Mai đáp lại một câu nào, Bình quay lưng sầm sập trèo tót lên thùng xe tải. Anh ta giật mạnh tấm bạt phủ bằng nhựa tái sinh kêu soạt một tiếng chói tai, chuẩn bị vần các bao tải măng khô lên sàn xe, bỏ mặc Mai đứng chôn chân giữa khoảng sân đầy bùn đất, gương mặt tái nhợt đi vì tức giận, thất vọng và âu lo.
Gió lạnh từ hẻm núi sâu thốc lên từng cơn dữ dội, cuốn theo những đám mây xám xịt sà sát xuống những ngọn sa mộc cổ thụ. Không khí ẩm ướt, nhớp nháp báo hiệu một trận mưa rừng xối xả sắp đổ ập xuống triền núi Pú Chao. Tiếng động cơ xe tải vẫn nổ cầm chừng phì phò, nhả từng làn khói đen kịt khét lẹt vào chiều muộn.
Yến bước đến đứng sát cạnh Mai, bàn tay cô khẽ chạm vào cánh tay bạn. Nhìn dòng người vội vã, hối hả vần từng bao tải măng nương nặng trịch lên sàn xe dưới sự chỉ huy gắt gỏng của Bình, Yến cảm nhận rõ rệt những vết rạn nứt trong chuỗi hành trình tưởng chừng như êm ả đang bắt đầu toác rộng ra. Chuyến đi ngày mai sang chợ đá Khe Nọi – nơi cô ấp ủ ghi lại hình ảnh những người thợ chẻ đá và những sạp hàng ven suối ngập tràn sức sống bản địa – đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn chỉ vì một quyết định ghép hàng tùy tiện và thói quen làm ăn vụ lợi của gã tài xế miền sơn cước.
Bình nổ máy xe rời đi trong sương chiều, buông lại lời hẹn lấp lửng về chuyến đi chợ đá Khe Nọi khiến Mai nhíu mày lo lắng.