Chuyến đi tách lịch ở bản ven hồ Nà Pao
Mưa tầm tã như trút nước xuống mặt hồ Nà Pao đục ngầu phù sa. Từng đợt sóng dềnh lên mang theo rác rưởi, rơm rạ mục và những mảng bọt bùn quánh đặc màu đất đỏ, đập chan chát vào chân kè đá. Bến thuyền mùa lũ vắng tanh, chỉ còn lại những thân thuyền đuôi tôm dài ngoẵng gối đầu lên nhau, chao đảo dữ dội trong tiếng gió rít qua những rặng chè shan tuyết cổ thụ ven sườn đồi.
Mép nước hồ vốn phẳng lặng, trong veo vào độ cuối thu nay đã ngoạm sâu vào tận chân bờ taluy đất đỏ trơ trọi. Từng vệt xói lở kéo dài như những vết thương hở ngoác miệng trên triền đất dốc, cuốn phăng những vạt cỏ chỉ và tấp từng búi rễ vầu gãy gập lên bãi đá dăm. Trên tấm biển gỗ cắm xiêu vẹo ở mố cầu tàu dã chiến, ba chữ “CẤM XUẤT BẾN” quét bằng sơn đỏ đã bị nước mưa xối nham nhở, loang lổ như rỉ máu. Ngay bên dưới biển cấm là tờ thông báo khẩn của ban quản lý bến thuyền xã, đóng dấu đỏ tươi nhưng mép giấy đã mủn nát vì ngấm nước, cảnh báo đợt lũ quét bất thường từ các khe suối thượng nguồn đang đổ dồn về lòng hồ với lưu lượng lớn. Tiếng loa phóng thanh của xã treo trên ngọn cột điện bê tông xa xa rền rĩ từng hồi ngắt quãng, lúc bổng lúc trầm qua màn sương trắng đục: nhắc nhở toàn bộ chủ thuyền máy tuyệt đối không được tự ý nhổ neo cắt mặt hồ sang các bản ven đồi bên kia, yêu cầu neo buộc phương tiện vào cọc sắt và chằng néo mái che cẩn mật.
Dưới mái hiên tôn gỉ sét của một quán nước giải khát bỏ không cạnh bến đò, gió thốc từng luồng buốt buốt luồn qua kẽ áo gió sũng nước của Đỗ Hải Yến và Trần Mai. Nền xi măng nứt nẻ dưới chân họ lấp xấp nước mưa tạt, từng vệt bùn vàng theo gót giày dính bệt vào mép phản gỗ tạp mục ruỗng. Chiếc điện thoại cục gạch màu đen cũ mòn vẹt bốn góc của Mai bỗng rung bần bật trên mặt bàn gỗ ướt sũng. Tiếng chuông đơn âm the thé reo lên từng chặp gấp gáp, át cả tiếng mưa gõ ầm ầm trên mái kim loại.
Mai quệt vội dòng nước mưa đang chảy ròng ròng từ chân tóc xuống trán, bấm nút nhận cuộc gọi rồi áp chặt chiếc loa rè vào tai. Đỗ Hải Yến ngồi thu lu trên chiếc ghế nhựa gãy một bên nan tựa, nín thở dõi theo từng đường cơ đang siết chặt lại trên khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt vì ngấm lạnh của bạn mình.
Từ đầu dây bên kia, xuyên qua tiếng rào rào của sóng điện thoại chập chờn vùng đồi núi, vọng ra tiếng ho sù sù, khô khốc và kéo dài từng cơn đến đứt ruột. Kèm theo đó là giọng nói khàn đặc, thều thào quen thuộc của bà Lan dưới xuôi — giọng người mẹ cả đời còng lưng bên sạp hàng khô ở chợ đầu mối:
— Mai đấy à con… Mẹ… mẹ lại lên cơn sốt run người từ chập tối qua rồi… Khớp gối sưng tấy đỏ mọng, nhấc chân xuống khỏi giường không nổi, vừa buông chân xuống là khuỵu ngã… Nhưng cái đấy chưa sợ bằng ba mươi cân nấm hương khô hôm trước con gửi tàu… Xe tải dưới này trả hàng từ chập tối hôm qua, họ vứt cả mấy bao tải vào góc kho ẩm thấp của bến xe Giáp Bát… Người ta vừa gọi điện giục gắt gỏng, bảo kho dột nát ngập nước chân tường, để quá chiều nay mà không có ai ra bốc hàng đi sấy lại ngay là họ tính tiền lưu bãi gấp đôi… mà nấm rừng gặp hơi ẩm mùa này thì hỏng hết cả mẻ, mốc xanh mốc trắng lên chỉ trong một ngày thôi con ơi… Mấy mối mua quen dưới chợ Hôm họ gọi đòi hàng dồn dập từ sáng sớm, dọa nếu trễ hẹn sẽ hủy hết đơn hàng cuối năm…
Tiếng bà Lan hụt hơi, chìm ngỉm vào một tràng ho khặc khặc kéo dài như muốn xé toang lồng ngực. Mai cắn chặt môi dưới đến rớm máu, bàn tay khẳng khiu nắm chặt chiếc điện thoại run lên bần bật, khớp ngón tay trắng bệch ra:
— Mẹ… mẹ cứ nằm yên trên giường đi, đừng cựa quậy nữa! Con van mẹ, mẹ gọi với sang nhà bác Hưng đầu ngõ, nhờ bác ấy mua hộ vỉ hạ sốt với nấu cho bát cháo trắng có tía tô. Con van mẹ đấy, đừng có cố lết cái chân đau ra bến xe làm gì! Mấy chục cân nấm có hỏng hết thì con chịu được, tiền nợ con cày cuốc trả dần, chứ mẹ mà ngã quỵ ra đấy một mình giữa bến xe thì con biết sống làm sao… Con về ngay đây! Mẹ cứ yên tâm, con ra ngã ba đón chuyến xe khách sớm nhất sáng nay chạy thẳng về xuôi luôn!
Mai cúp máy, lồng ngực phập phồng dữ dội sau lớp áo mưa mỏng dính bết vào ngực. Cô đứng chôn chân nhìn trân trân ra mặt nước hồ Nà Pao đang sủi tăm cuồn cuộn những bọt phù sa vàng đục. Dự tính ban đầu của hai người khi rời quán trà Mỏ Keng là cùng nhau đi thuyền đuôi tôm vượt lòng hồ sang mé đồi Bản Đắp, nơi có xưởng sơ chế mận và thảo quả của Nguyễn Thu Hà — vợ anh Bình tài xế chuyên chở hàng liên tỉnh. Tại đó, họ sẽ cùng nhau khảo sát công đoạn đóng gói, sấy rút ẩm và kiểm soát hao hụt nông sản cuối vụ trước khi bắt xe buýt huyện vòng lên đỉnh đèo Khau Lếch. Nhưng lệnh cấm xuất bến nghiêm ngặt vì lũ quét thượng nguồn, cộng với cơn bạo bệnh tái phát bất ngờ của bà Lan đã dồn Mai vào thế chân tường. Khoản nợ hơn mười lăm triệu đồng tiền bồi thường đơn nấm rách bao bì hỏng mốc từ vụ đông năm ngoái vẫn còn treo lơ lửng trên đầu, mỗi tháng Mai đều phải dè sẻn từng đồng lời còm cõi từ các chuyến buôn hàng đèo để gửi về mua thuốc khớp và thuốc bổ cho mẹ; nếu ba mươi cân nấm hương khô loại một đang mắc kẹt ở kho bến xe Giáp Bát bị ẩm mốc nốt, toàn bộ vốn liếng chắt chiu suốt cả mùa thu của hai mẹ con sẽ hoàn toàn tan thành mây khói.
Mai nhắm nghiền mắt lại trong vài giây, hít một hơi thật sâu để nén chặt sự hoảng loạn đang chực trào lên khóe mắt. Khi mở mắt ra, ánh nhìn của cô đã lấy lại vẻ bình tĩnh, sắc lạnh của một người đã quen bươn chải giữa thương trường đèo dốc. Cô kéo chiếc ghế gỗ sát lại phía Yến, mở phắt chiếc ba lô dù đã bạc màu, lôi ra cuốn sổ tay bìa bọc da simili quăn mép. Chiếc bút bi cắm ở gáy sổ được rút ra một cách dứt khoát. Mai lật nhanh từng trang ghi chép chi phí sinh hoạt và thù lao công việc từ đầu chặng đường, đôi mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ và lo lắng, nhưng từng cử chỉ vạch số trên trang giấy vẫn rành mạch, chuẩn xác:
— Hồ cấm thuyền hoàn toàn rồi, đường thủy tê liệt không có cách nào sang đồi bằng thuyền máy được nữa. Nhưng đường đất liên xã men theo triền núi vòng qua mép hồ vẫn có thể đi xe máy được, dẫu bùn trơn như mỡ gà. Tớ không thể nán lại Nà Pao với cậu thêm một giờ nào nữa, Yến à. Tớ phải thuê xe ôm ra ngã ba dốc đón ngay chuyến xe khách sớm nhất chạy thẳng về Hà Nội để kịp bốc lô nấm về xưởng sấy và đưa mẹ tớ vào bệnh viện khám khớp.
Yến vội vươn tay nắm lấy bàn tay lạnh buốt như ngâm nước đá của bạn:
— Cậu về ngay đi, Mai. Đừng chần chừ nữa! Sức khỏe của bác Lan là quan trọng nhất trên đời, ba mươi cân nấm ấy cũng là mồ hôi nước mắt của cả nhà cậu. Việc ở xưởng chị Hà, tớ sẽ tự lo liệu được. Tớ đi cùng cậu từ Pả Lùng đến giờ, tớ không còn là đứa ngơ ngác như ngày đầu nữa đâu.
— Không phải cứ nói tự lo là xong đâu, — Mai lắc đầu quầy quậy, giọng cô nghiêm nghị hẳn lại, lập tức chuyển sang tác phong điều phối sòng phẳng, dứt khoát mà cô đã dày công trui rèn sau ngần ấy va vấp từ những ngày đầu bước chân lên miền ngược. — Chúng ta phải tính toán rành mạch trước khi tách đường tại đây. Cậu chưa từng làm việc một mình với chị Hà một phút nào. Chị ấy không giống những người bán hàng xởi lởi, hay cười đùa ngoài chợ phiên đâu.
Mai giở trang sổ hạch toán chi phí chung, đặt chiếc bút bi xuống mặt bàn gỗ ẩm ướt, ngón tay trỏ miết mạnh lên từng dòng mực:
— Khoản tiền ăn uống, nhà trọ và xe cộ chung từ Mỏ Keng đến bến Nà Pao này chia đôi, phần tớ thì tớ đã tự trừ đủ vào quỹ chung rồi, không thiếu một xu. Còn lại khoản tiền thù lao điều phối chặng Nà Pao này mà cậu đã thanh toán trước cho tớ, tớ chỉ giữ đúng phần việc tớ đã thực sự hoàn thành: đó là tớ đã gọi điện liên hệ trước với chị Hà từ tối qua, hỏi rõ địa chỉ xưởng ở mé đồi Bản Đắp và gửi lời chào giới thiệu cậu. Phần công việc hỗ trợ hiện trường, bảo vệ cậu và trực tiếp giải thích quy trình tại xưởng Nà Pao ngày hôm nay tớ chưa làm được, tớ hoàn trả lại cậu đúng hai trăm nghìn đồng. Cậu cầm lấy số tiền này để phòng thân dọc đường và dùng để trả tiền thù lao quan sát cho chị Hà.
Yến nhìn hai tờ tiền một trăm nghìn đồng phẳng phiu được Mai vuốt phẳng đặt trên trang sổ, vội xua tay:
— Cậu giữ lấy mà đi đường, Mai! Cậu về xuôi còn bao nhiêu thứ phải lo, tiền xe, tiền thuốc cho bác, rồi tiền thuê bốc vác nấm ở bến xe nữa… Có hai trăm nghìn, cậu giữ lấy đi!
— Không được! — Ánh mắt kiên quyết của Mai chặn đứng lời Yến lại. Giọng Mai dằn từng tiếng, dứt khoát và cứng cỏi: — Tiền nào ra việc nấy. Đây là nguyên tắc làm ăn mà bà Đinh Thị Hảo ở chợ Tả Vìn đã dạy tớ, và tớ đã thề không bao giờ phá vỡ. Làm một nửa thì chỉ nhận một nửa tiền công. Nếu tớ cầm số tiền này mà bỏ về xuôi để cậu tự bươn chải ở xưởng Nà Pao, tớ thành kẻ ăn quỵt công sức của người khác, sau này tớ không còn mặt mũi nào làm việc đàng hoàng với cậu hay với bất kỳ ai nữa. Cậu cất ngay số tiền này vào ví cho tớ.
Yến nhìn sâu vào đôi mắt kiên định của Mai, hiểu rằng bất kỳ sự nhượng bộ hay cả nể nào lúc này cũng là một sự xúc phạm đối với lòng tự trọng nghề nghiệp và sự trưởng thành mà Mai đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi nước mắt suốt dọc đường đèo. Yến lặng lẽ gật đầu, cầm lấy hai tờ tiền, cất cẩn thận vào ngăn kéo khóa trong cùng của chiếc ba lô chống nước.
Mai thở phào một nhịp ngắn, rồi tiếp tục dặn dò, từng lời từng chữ rành rẽ như khắc vào trí nhớ của Yến:
— Bây giờ nghe cho kỹ những điều tớ dặn đây. Xưởng sơ chế của chị Hà nằm ở mé đồi Bản Đắp, cách bến thuyền cấm này chừng bốn cây số đường đất đỏ men theo triền vầu. Do thuyền cấm tuyệt đối nên cậu bắt buộc phải đi bộ lội bùn ngược dốc. Chị Hà là người cực kỳ cẩn thận, sắc sảo và rạch ròi đến từng chi tiết nhỏ. Chị ấy ghét cay ghét đắng những ai coi thường công việc nhà nông hoặc coi chị ấy chỉ là chân phụ việc, cái bóng ăn theo của anh Bình lái xe. Anh Bình chồng chị ấy hay tính xởi lởi, hay nhận bừa việc ngoài đường rồi về bỏ đấy, nhưng chị Hà thì khác: chị ấy tính từng cân mận hao hụt, từng lạng củi sấy, từng giờ xe tải chạy. Cậu đến đó một mình, tuyệt đối không được có thái độ khép nép hay van nài, nhưng cũng không được tự tiện đi lại ngó nghiêng như hồi cậu mới vào nhà bà Sương hay quầy rèn của ông Tấn. Phải tự thương lượng thời gian và mức thù lao quan sát ngay từ cổng. Vẽ xong, phải đưa chị ấy tận mắt kiểm tra từng nét vẽ, từng số liệu rồi ký xác nhận vào Bảng kiểm chứng lao động. Xong việc ở Nà Pao, cậu đi bộ ra ngã ba dốc Bản Đắp đón chuyến xe buýt liên xã đi thẳng lên đèo Khau Lếch. Tớ giải quyết xong việc mẹ ốm và giải phóng kho nấm dưới xuôi, tớ sẽ bắt ngay chuyến xe khách giường nằm chạy đêm ngược lên đèo, trưa mai tớ sẽ có mặt ở quán nước đầu chợ Khau Lếch gặp cậu đúng hẹn. Cậu nhớ rõ chưa?
— Tớ nhớ từng lời rồi. Cậu cứ yên tâm đi xe cho kịp giờ, giữ gìn sức khỏe cho bác Lan, — Yến nhìn thẳng vào mắt Mai, siết nhẹ bả vai bạn, giọng trầm tĩnh và chắc nịch.
Mai gật đầu thật mạnh, như trút bớt được một tảng đá đè nặng trong lồng ngực. Cô nhanh thoăn thoắt thu dọn túi đồ đay cá nhân, khoác chiếc áo mưa cánh dơi màu xanh bộ đội đã rách mép, rồi bước thoăn thoắt ra mép đường liên xã, vẫy một người đàn ông bản đi chiếc xe máy Win bọc xích quanh lốp đang chở sọt củi đi ngang qua. Sau vài câu trao đổi nhanh gọn, chiếc xe máy rồ ga gầm rú, chở bóng lưng gầy guộc của Mai lao vút đi, khuất dần sau khúc quanh mù mịt sương núi và bụi nước trắng xóa.
Đỗ Hải Yến đứng lại một mình dưới mái hiên tôn rỉ sét của bến thuyền hoang vắng.
Xung quanh cô, tiếng mưa rào rào hòa cùng tiếng nước hồ Nà Pao vỗ oàm oạp vào bờ taluy sạt lở tạo thành một thứ âm thanh cô quạnh đến rợn ngợp. Một cảm giác trống trải xen lẫn âu lo chưa từng có bỗng dưng ùa tới thắt nghẽn lồng ngực Yến. Kể từ ngày đầu tiên đặt chân lên Pả Lùng, qua những con dốc dựng đứng ở Nậm Vài, những sạp thổ cẩm rực rỡ ở Sín Mây, những lán rèn thép đỏ rực ở Khe Nọi cho đến quán trà đượm mùi chè sao suốt ở Mỏ Keng, Mai luôn là người đứng chắn ở phía trước. Mai là người mở lời chào bằng thứ ngôn ngữ thực tế của dân buôn bán, Mai gạn hỏi những điều kiêng kỵ của từng bản làng, Mai đứng ra mặc cả tiền bạc sòng phẳng và che chắn cho Yến trước những va chạm sắc lẹm, trần trụi của chợ đời.
Nhưng giờ đây, chiếc khiên chắn ấy đã không còn nữa. Chỉ còn lại một mình Yến, với chiếc ba lô nặng trĩu những tập giấy vẽ ép lạnh, những tuýp màu nước nhập khẩu và trách nhiệm tự mình hoàn thành bản vẽ kiểm chứng thứ mười một — mắt xích quan trọng cuối cùng trước khi bộ lịch nông vụ bước vào giai đoạn in ấn hoàn chỉnh.
Yến hít một hơi thật sâu, cảm nhận vị ngai ngái nồng nặc của đất đỏ và phù sa ùa vào sống mũi. Cô kéo chặt khóa kéo chiếc ba lô, bọc thêm hai lớp túi nilon dày chống nước quanh hộp màu và xấp hồ sơ tài liệu. Cô xốc lại quai đeo, bước những bước chân đầu tiên xuống mặt đường đất đỏ nhão nhoét.
Mưa vẫn rả rích không ngớt hạt. Con đường dốc dẫn lên đồi Bản Đắp lầy lội như một bãi bùn khổng lồ trơn tuột. Đất trên các sườn taluy dương sau trận lũ đêm qua đã sạt lở từng mảng lớn, tràn xuống mặt đường những khối bùn dẻo quánh trộn lẫn đá dăm sắc nhọn. Đôi giày vải bảo hộ của Yến nhanh chóng bị bọc kín bởi những lớp bùn vàng dày cộp, nặng trĩu theo từng sải chân. Mỗi lần nhấc gót lên, lớp bùn dẻo quánh lại phát ra những tiếng “bộp… soạt” rin rít, dính chặt như keo dán. Nước mưa từ những tán vầu, tán nứa ven đường bị gió quăng quật, thi thoảng lại trút từng gáo nước lạnh buốt thẳng vào gáy, luồn sâu qua cổ áo gió.
Mất hơn một tiếng đồng hồ bì bõm lội ngược dốc, đôi bắp chân mỏi nhừ và căng cứng vì phải gồng mình giữ thăng bằng trên bùn trơn, vừa đi vừa hỏi thăm những người dân bản đi ủng cao su gánh củi ngược chiều, Yến mới nhìn thấy dãy nhà lợp mái tôn màu xanh ngọc nằm nép mình bên sườn đồi thoai thoải nhìn thẳng xuống một vụng nước sâu của lòng hồ Nà Pao.
Đó chính là xưởng sơ chế mận và thảo quả của Nguyễn Thu Hà. Phía trước khoảng sân rộng lót gạch xỉ, những giàn sấy đóng bằng thân nứa già được giăng kín bạt nilon dày nhiều lớp để ngăn mưa tạt. Dưới mái hiên rộng thênh thang vươn dài ra phía trước, hàng chục sọt tre đan mắt cáo đựng đầy mận tam hoa vét vụ vỏ thẫm phấn và những bao tải gai gai sần chứa quả thảo quả tươi vừa gom từ các cánh rừng ẩm thượng nguồn được xếp đặt ngay ngắn, trật tự trên các thanh gỗ lim kê cách mặt đất hơn một gang tay để chống ẩm mốc.
Bên trong gian hiên xưởng vang lên tiếng dao gọt vỏ thoăn thoắt đều đặn và tiếng những nan sọt tre cọ vào nhau lách cách. Yến dừng lại ngoài cổng tre khép hờ, cẩn thận tháo đôi ủng lấm lem bùn đất đặt gọn gàng cạnh hàng rào, dùng chiếc khăn ướt trong túi xách lau sạch những vệt bùn bám trên cổ chân và ống quần rồi mới bước lại dưới mép mái tôn hiên, cất tiếng chào rõ ràng:
— Chị Hà ơi! Chị có nhà không ạ?
Tiếng dao gọt trong xưởng lập tức dừng bặt. Từ sau những chồng sọt tre cao ngất, một người phụ nữ trạc ba mươi tuổi bước ra. Người phụ nữ có vóc dáng săn chắc, nước da bánh mật khỏe khoắn, mặc chiếc áo chàm truyền thống tay lửng buộc túm vạt gọn gàng sau lưng. Mái tóc đen dày của cô được búi cao thành một búi tròn chặt chẽ trên đỉnh đầu, để lộ vầng trán cao cương nghị và đôi mắt sắc sảo, cảnh giác. Trên hai bàn tay trần của cô, những vệt nhựa mận chín hòa lẫn tinh dầu thảo quả đen thẫm bám chặt quanh các kẽ móng tay và những nếp gấp da thịt — dấu tích không thể xóa nhòa của hàng ngàn giờ lao động cật lực, bền bỉ qua bao mùa vụ. Đó chính là Nguyễn Thu Hà.
Hà đứng dừng lại ở mép bậc cửa, ánh mắt sắc như dao quét một lượt từ đầu đến chân Yến, dừng lại thật lâu ở chiếc ba lô cồng kềnh bọc kín nilon và tập kẹp tài liệu vẽ kẹp chặt bên nách, rồi cất giọng hỏi đều đều, không vồn vã nhưng dứt khoát:
— Cô là Yến, thợ vẽ đi cùng cô Mai buôn hàng khô dưới xuôi à? Lúc nãy Mai có gọi điện báo đường cấm thuyền máy, bảo cô phải cuốc bộ ngược dốc vào đây một mình. Mai bắt xe về xuôi rồi à?
— Vâng ạ, mẹ Mai bị tái sốt nặng mà ba mươi cân nấm hương khô gửi xe tải bị kẹt ở kho bến xe đang ngấm nước mưa, nên Mai phải đón chuyến xe khách sớm nhất sáng nay về gấp để xử lý việc gia đình, — Yến lễ phép chào, hai tay giữ chặt quai ba lô trước ngực. — Em tự đi bộ từ bến đò lên đây. Em muốn xin phép chị cho em được ngồi ở góc hiên xưởng vẽ lại công đoạn phân loại, sơ chế mận và thảo quả của chị để hoàn thiện trang lịch mùa đông cho dự án kiểm chứng nông vụ.
Hà khoanh hai cánh tay săn chắc trước ngực, ánh mắt không hề giãn ra chút nào:
— Con bé Mai tối qua có nói qua chuyện các cô làm sách, làm lịch xuất bản gì đấy dưới Hà Nội. Nhưng tôi nói trước một lời cho rõ ràng: cái xưởng này của tôi là chỗ làm ăn mưu sinh, đổ mồ hôi sôi nước mắt để kiếm từng hào trả nợ xe cộ cho gia đình, không phải điểm du lịch sinh thái hay chỗ để người thành phố lên ngắm cảnh trải nghiệm. Hôm nay mưa lũ lớn, thuyền dưới bến bị cấm tiệt, tôi đang phải chạy đua từng phút với thời tiết dầm dề để phân loại cho xong hai tấn mận vét vụ đóng vào thùng xốp chờ xe tải của nhà anh Bình chiều nay ghé bốc hàng. Tôi không rảnh một phút nào để diễn lại động tác hay đứng yên tạo dáng cho ai vẽ tranh đâu nhé.
Yến bình tĩnh gật đầu. Cô không hề nao núng, nhẹ nhàng rút từ túi áo gió ra chiếc phong bì nhỏ đã chuẩn bị sẵn theo đúng nguyên tắc sòng phẳng mà Mai từng căn dặn:
— Em hiểu rất rõ ạ. Em đến đây hoàn toàn với tư cách người quan sát ghi chép thực tế, tuyệt đối không dám làm phiền hay đòi hỏi chị phải dừng tay làm chậm việc của xưởng. Em xin phép được gửi xưởng hai trăm nghìn đồng tiền thù lao quan sát và chi phí sử dụng chỗ ngồi trong buổi làm việc hôm nay. Em chỉ ngồi đúng vị trí góc hiên mà chị chỉ định, vẽ lại đúng nhịp độ làm việc tự nhiên của chị cho đến khi chị phân loại xong mẻ hàng chiều nay. Em cam đoan không chắn lối bưng bê hàng, không hỏi những câu làm phân tâm chị và tuyệt đối không làm dây một giọt màu nào ra nông sản của xưởng.
Hà nhìn chiếc phong bì phẳng phiu trên tay Yến. Đôi lông mày hơi nhíu lại của cô giãn nhẹ ra, ánh mắt thoáng chút ngạc nhiên trước thái độ rành mạch, sòng phẳng và hiểu chuyện của cô họa sĩ trẻ đến từ thủ đô. Cử chỉ dứt khoát, điềm tĩnh của Yến hoàn toàn khác với vẻ tò mò xốc nổi của những nhóm thanh niên phượt qua đèo, cũng không hề có nét trịch thượng, soi mói của vài người làm truyền thông dưới xuôi từng ghé qua vùng hồ xin chụp ảnh. Tuy nhiên, Hà vẫn chưa đưa tay nhận chiếc phong bì ngay. Cô bước lại gần mép cửa gỗ, chỉ tay vào không gian bên trong xưởng, đặt ra những nguyên tắc thép bằng một chất giọng đanh gọn:
— Muốn vào xưởng của tôi ngồi vẽ, cô phải giữ đúng ba điều. Thứ nhất, cô chỉ được phép ngồi yên ở cái ghế con ngoài gian hiên này, vẽ công đoạn tôi ngồi nhặt mận lép, phân loại mận tam hoa và cân hàng công khai trên bàn cân đĩa ở góc này. Thứ hai, tuyệt đối không được bước chân qua cánh cửa gỗ kia để vào gian buồng trong — đó là buồng ủ hạt giống và sấy thảo quả bằng than củi gia truyền của nhà tôi, ai lạ bước vào làm biến đổi nhiệt độ ủ hay làm bay hơi men đặc hữu là tôi bắt đền cả mẻ hàng mười mấy triệu bạc. Thứ ba, cô không được ghi chép, không được đưa vào tranh bất cứ chi tiết nào về việc tôi đang gom vốn riêng để lập xưởng sơ chế độc lập tách khỏi nhà chồng. Việc làm ăn riêng của tôi, người ngoài tuyệt đối không được can dự, tọc mạch hay bép xép ra ngoài nửa lời. Đồng ý sòng phẳng được cả ba điều ấy thì vào ngồi, không thì mời cô quay lại bến đón xe buýt về huyện ngay cho rảnh nợ.
Từng lời từng chữ của Hà đanh chắc như búa gõ đe, vạch ra một lằn ranh giới hạn cá nhân kiên cố và khẳng định quyền tự chủ kinh tế mà người phụ nữ này đang nhọc nhằn, đơn độc gây dựng giữa muôn vàn định kiến của vùng cao. Nhìn thẳng vào đôi mắt kiên định của Hà, Yến nhớ đến lời răn dạy thâm trầm của bà Lò Thị Sương bên khung cửi Pú Chao, nhớ đến sự sắc sảo rạch ròi của Triệu Thanh Vi ở chợ Lùng Tủng. Những người phụ nữ trên nẻo đường sương gió này, dù già hay trẻ, dù dệt vải hay buôn hàng, đều bảo vệ không gian sống và phẩm giá lao động của mình bằng sự sòng phẳng tuyệt đối.
— Em xin cam đoan tuân thủ nghiêm ngặt cả ba nguyên tắc của chị, — Yến nhìn thẳng vào mắt Hà, gật đầu dứt khoát không một chút đắn đo. — Em chỉ vẽ đôi bàn tay phân loại và chiếc cân bàn ngoài hiên này. Tất cả các thông tin kỹ thuật em ghi chép lại đều sẽ đưa tận tay chị xem và ký duyệt trước khi em rời khỏi xưởng.
Hà nhìn sâu vào mắt Yến chừng vài giây nữa. Nhận thấy sự chân thành, nghiêm cẩn và tôn trọng ranh giới tuyệt đối trong từng cử chỉ của cô gái trẻ, khuôn mặt người phụ nữ vùng hồ mới khẽ giãn ra. Cô đón lấy chiếc phong bì, nhét gọn gàng vào chiếc túi áo chàm buộc túm bên hông, rồi dùng chân đẩy chiếc ghế gỗ con ở góc hiên khô ráo ra:
— Được rồi. Ngồi vào góc kia. Chỗ ấy kín gió, hết mưa thì nước rỏ từ mép mái tôn xuống đấy, nhớ né ra kẻo ướt giấy vẽ.
Cánh cửa xưởng hé mở ra một khoảng không gian nồng đượm mùi hương đồng nội. Không khí dưới mái hiên sực nức mùi chua thanh, chan chát của mận tam hoa chín muộn lên men nhẹ hòa quyện với mùi cay nồng, ấm sực và the the của tinh dầu thảo quả tươi vừa được gùi từ các thung lũng ẩm ướt về. Yến nhẹ nhàng đặt ba lô xuống tấm ván gỗ khô đã được kê sẵn cách mặt đất, cẩn thận trải tấm khăn vải lau màu bằng cotton dày lên đùi mình để ngăn chặn tuyệt đối bất kỳ giọt nước màu nào có thể văng ra sàn xưởng hay rớt vào những nong mận đang xếp xung quanh.
Nguyễn Thu Hà lập tức quay trở lại chiếc đòn gỗ thấp đặt giữa hai chiếc nong đại đan bằng cật nứa dày. Cô ngồi thụp xuống, bắt đầu đôi tay thoăn thoắt làm việc như thể trong gian hiên này chưa từng có sự hiện diện của một người lạ mặt.
Nhịp làm việc của Hà nhanh đến mức khiến Yến phải sững sờ. Đôi bàn tay chai sần, gân guốc với những vệt nhựa quả đen thẫm của cô lướt thoăn thoắt trên mặt nong tre như một cỗ máy đã được lập trình chuẩn xác qua hàng vạn lần lặp lại. Từng quả mận tam hoa cuối vụ với lớp vỏ tím thẫm phủ màng phấn trắng mịn màng được những ngón tay cô lật qua lật lại chỉ trong chưa đầy nửa giây ngắn ngủi: quả nào căng mọng, cuống còn tươi xanh và da bóng liền được thảy gọn ghẽ, dứt khoát vào chiếc sọt tre lót rơm khô êm ái bên tay phải; quả nào bị rám nắng, nứt vỏ do ngậm nước mưa lũ hay có dấu vết ong châm li ti lập tức bị gạt phắt sang chiếc rổ nhựa chứa phế phẩm bên tay trái.
Cứ đầy một sọt mận loại một, Hà lại đứng phắt dậy một cách dẻo dai, hai bàn tay bưng trọn chiếc sọt nặng chừng hai mươi cân đặt phịch lên bàn cân đồng hồ sắt rỉ sét đặt ở góc cột. Cô ghé mắt đọc nhanh con số hiển thị trên mặt cân tròn, rồi dùng chiếc bút chì mòn vẹt cài bên tai đánh dấu thoăn thoắt vào tập phiếu giao nhận hàng bằng giấy bãi bằng đóng đinh trên vách nứa. Xong xuôi, cô lại thoăn thoắt bưng sọt mận đổ ụp vào thùng xốp lớn, lót thêm một lớp rơm khô thông khí rồi quay trở lại chiếc đòn gỗ tiếp tục nhặt mẻ mới.
Không có lấy một động tác thừa thãi. Không có một tiếng thở dài than vãn hay kêu ca mệt nhọc. Mồ hôi rịn ra tấm tấm trên vầng trán cương nghị của Hà, chảy dài theo sống mũi rồi đọng lại ở cằm, hòa cùng hơi ẩm lành lạnh của gió hồ Nà Pao hắt qua khe hiên.
Yến ngồi thu lu trên chiếc ghế con, mở cuốn sổ ký họa khổ lớn bằng giấy ép lạnh ba trăm gam hạt thô. Bàn tay cô cầm chiếc bút chì mềm lướt nhanh trên mặt giấy trắng ngà. Lần này, Yến hoàn toàn từ bỏ thói quen tìm kiếm những góc nhìn toàn cảnh lãng mạn, mờ ảo trong làn sương khói bến hồ. Cô không cố vẽ thêm những nhánh mận trổ hoa trái mùa thơ mộng viển vông, cũng không tô vẽ khung cảnh mái xưởng thành một bức tranh thôn dã bình yên giả tạo.
Yến tập trung toàn bộ nét vẽ và năng lượng của mình vào đôi bàn tay của Nguyễn Thu Hà: những khớp ngón tay thô ráp bè bè vì vác nặng, những vết sẹo cứa của nan tre sắc lẹm đã lên da non màu hồng nhạt, vệt nhựa quả đen nhánh bám chặt quanh các khóe móng tay không thể gột rửa, và chiếc cân đĩa sắt rỉ sét với chiếc kim chỉ đúng số cân thực tế của từng sọt nông sản. Từng đường nét chì điêu luyện khắc họa từng nếp nhăn, từng gân máu nổi cộm trên mu bàn tay người phụ nữ đang quỳ gối làm việc giữa giá rét.
Ở phần một phần ba phía dưới của trang giấy — theo đúng cấu trúc tỷ lệ vàng nan tre mà Yến đã thảo luận và thống nhất chặt chẽ với Vũ Minh An tại quán trà chợ Mỏ Keng — Yến nắn nót dùng bút mực ngòi kim ghi từng dòng dữ liệu kiểm chứng kỹ thuật chuẩn xác: *“Nông sản: Mận tam hoa vét vụ và thảo quả tươi lòng hồ Nà Pao. Thời điểm thu hoạch: Cuối vụ mùa đông, lịch vận chuyển đường thủy phụ thuộc nghiêm ngặt vào các đợt cấm tàu thuyền do lũ quét thượng nguồn. Quy trình sơ chế hiện trường: Phân loại thủ công bằng mắt và xúc giác bàn tay, loại bỏ triệt để quả nứt vỏ ngậm nước lũ; kiểm soát độ ẩm bề mặt nông sản trước khi đóng thùng xốp lót rơm khô thông khí. Hao hụt vận chuyển và phân loại: Tỷ lệ loại thải tại xưởng đạt 12–15% do thời tiết mưa dầm kéo dài làm úng quả; toàn bộ chi phí bao bì, rơm lót và lưu kho chờ xe tải do cơ sở sơ chế tự hạch toán độc lập.”*
Yến vẽ chăm chú, cẩn trọng trong từng nhịp thở nhẹ. Mỗi lần chấm chiếc cọ lông sóc vào lọ nước rửa màu nhỏ gọn, cô đều cẩn thận miết đáy cọ vào tấm khăn vải cotton trên đùi để thấm kiệt nước bẩn, tuyệt đối không để một giọt nước lem nào văng xuống nền xi măng hay bắn vào những nong mận của Hà.
Nhìn nhịp tay thoăn thoắt không ngừng nghỉ của người phụ nữ nông thôn trước mặt, trong lòng Yến dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc xen lẫn sự tỉnh ngộ cay đắng về chính nghề nghiệp của mình.
Trước đây, khi còn ngồi trong căn phòng làm việc máy lạnh mát rượi dưới các tòa nhà cao ốc ở Hà Nội để thiết kế bao bì cho các nhãn hàng nông sản sạch, Yến đã từng vẽ biết bao cô gái miền sơn cước má đỏ hây hây, miệng cười tươi tắn nhàn tản bên những gùi mận chín mọng trĩu quả như bước ra từ tranh cổ tích. Cô từng nghĩ sự tự chủ và độc lập của phụ nữ là những khẩu hiệu truyền cảm hứng hào nhoáng trên mạng xã hội hay các chiến dịch truyền thông bóng bẩy.
Nhưng hôm nay, tận mắt chứng kiến Hà quỳ gối bên nong tre suốt ba tiếng đồng hồ liền giữa giá rét căm căm, đôi bàn tay buốt cóng tấy đỏ vẫn phải liên tục miết từng quả mận ướt lạnh để lọc ra từng cân hàng đạt chuẩn loại một, chắt chiu từng đồng tiền lời ít ỏi để tích lũy vốn liếng mở xưởng riêng độc lập, Yến hiểu rằng sự tự chủ đích thực phải đánh đổi bằng từng giọt mồ hôi mặn chát, bằng những vết xước rướm máu của cật nứa và gánh nặng trách nhiệm tài chính trĩu oằn trên vai trước những biến động khôn lường của đất trời. Không có bất kỳ vẻ đẹp nhàn tản, thơ mộng nào có thể nuôi sống được con người qua mùa giáp hạt nơi đèo cao gió lộng này.
Gần mười hai giờ trưa, tiếng còi xe tải từ phía ngã ba đường liên xã rúc lên từng hồi dài trầm đục, báo hiệu đoạn đường sạt lở bùn đất đã được máy ủi của xã cào dọn xong và tạm thời thông xe trở lại.
Nguyễn Thu Hà thoăn thoắt đổ nốt sọt mận loại một cuối cùng vào chiếc thùng xốp thứ mười hai, đậy nắp kín mít, dùng cuộn băng dính bản to miết chặt từng mép thùng phát ra những tiếng xoèn xoẹt giòn giã. Xong xuôi đâu đấy, cô mới khẽ thở phào một hơi dài, đứng thẳng người dậy, hai tay vươn ra sau lưng xoa bóp vùng thắt lưng đang mỏi nhừ sau nhiều giờ cúi gập.
Yến cẩn thận gài chiếc cọ vẽ vào bao vải đựng chuyên dụng, thổi nhẹ một hơi cho se khô lớp màu nước cuối cùng trên trang giấy ép lạnh, rồi đứng dậy bước lại gần chiếc bàn cân đĩa:
— Chị Hà ơi, em đã vẽ xong bản ký họa rồi ạ. Em xin phép gửi chị xem lại bức vẽ và duyệt các dòng thông tin ghi chép kỹ thuật bên dưới.
Hà đón lấy cuốn sổ tay khổ lớn từ tay Yến. Cô cẩn thận lau sạch hai bàn tay còn dính nhựa quả đen thẫm vào mép chiếc tạp dề vải thô buộc quanh hông, rồi cúi đầu chăm chú xem xét tỉ mỉ từng chi tiết trên trang giấy.
Đôi mắt sắc sảo của Hà quét qua hình vẽ đôi bàn tay gân guốc đang thoăn thoắt phân loại mận, chiếc cân đĩa quen thuộc với từng vết rỉ sét chân thực, rồi dừng lại thật lâu ở khung nan tre chứa những dòng chú thích kỹ thuật bên dưới. Khuôn mặt vốn luôn nghiêm nghị, căng thẳng của Hà dần dần giãn ra. Khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười kín đáo, hiếm hoi:
— Cô vẽ đôi bàn tay tôi chuẩn đấy. Đúng là tay của người lao động bươn chải: gân guốc, đốt ngón tay to, móng tay thâm sì nhựa quả chứ không phải bàn tay búp măng trắng muốt của mấy cô người mẫu chụp ảnh sống ảo trên mạng. Cả cái tỷ lệ loại quả nứt mười lăm phần trăm cô ghi ở đây cũng rất đúng với thực tế hôm nay. Mưa lũ lớn thế này, quả mận ngậm đẫm nước mưa rất dễ nứt toác vỏ khi xe tải xóc qua ổ gà, nếu không phân loại kỹ và ghi rõ hao hụt thì thương lái dưới xuôi lại bảo tôi cân điêu cân thiếu.
Hà với tay lấy chiếc bút bi mà Yến đưa, ký một chữ ký dứt khoát, vuông vức và đậm nét vào góc dưới của tờ “Phiếu xác nhận kiểm chứng lao động” được kẹp cẩn thận sau trang tranh: *“Nguyễn Thu Hà — Cơ sở sơ chế nông sản Nà Pao — Xác nhận đúng thực tế.”*
Trao trả cuốn sổ lại cho Yến, thái độ của Hà đã trở nên cởi mở và thân thiện hơn hẳn. Cô quay người bước lại góc hiên, nhấc chiếc ấm tích ủ trong giành mây đun lá vối và chè xanh bốc khói nghi ngút trên chiếc kiềng sắt, rót ra một bát sứ hoa lam đầy sóng sánh rồi đưa cho Yến:
— Uống bát nước chè nóng cho ấm bụng đi cô. Đường đèo mùa này buốt thấu xương đấy. Tôi nói thêm cho mà biết để sau này có làm việc thì không bị động: mận vụ này hôm nay là vét sạch cây rồi, muốn vẽ mận nữa thì phải đợi sang tận tháng Năm năm sau. Còn sau trận lũ này, khi lòng hồ bắt đầu rút nước vào mùa cạn thì thuyền bè lại chạy tấp nập trở lại, lúc ấy xưởng tôi chuyển sang sơ chế măng le khô và củ mài rừng đào trên núi đá. Nếu các cô muốn viết thêm về đường đi của hàng hóa qua lòng hồ Nà Pao, thì phải nhớ lấy lịch chạy của thuyền máy mùa cạn: mỗi ngày chỉ có đúng hai chuyến cố định vào lúc bảy giờ sáng và ba giờ chiều cập bến Nà Pao thôi. Nhỡ hai chuyến ấy là phải nằm lại bến đò qua đêm.
— Em cảm ơn chị nhiều lắm ạ, em sẽ ghi nhớ thật kỹ lịch thuyền mùa cạn này vào sổ tay, — Yến hai tay đón lấy bát nước vối nóng hổi, nhấp từng ngụm nhỏ. Vị ngọt chát và hơi ấm nồng nàn của bát nước chè lan tỏa khắp lồng ngực, xua tan đi cái lạnh buốt đang ngấm vào da thịt sau một buổi sáng dầm mưa.
Quá trưa, chiếc xe tải chở hàng vượt qua đoạn sạt lở ghé vào bốc nốt mười hai thùng xốp mận của Hà để kịp xuôi đèo. Hà giữ Yến ở lại ăn bữa cơm trưa đạm bạc với niêu cá măng kho trám và bát canh chua, rồi hai chị em cùng thu dọn nong nia, hong khô các sọt tre dưới chái hiên trong lúc chờ trời tạnh ráo hẳn.
Mãi đến cuối chiều, khi mặt hồ Nà Pao bắt đầu bảng lảng sương mù và chuyến xe khách liên xã cuối ngày sắp qua dốc, chiếc điện thoại thông minh nằm trong túi áo khoác của Yến mới rung lên từng hồi dồn dập. Yến vội vàng bấm nút nghe. Từ đầu dây bên kia, giọng nói trong trẻo, nhẹ nhõm và tràn đầy sinh khí quen thuộc của Mai vang lên:
— Yến à! Tớ xử lý xong xuôi mọi việc dưới này rồi!
— Mai! Bác Lan thế nào rồi cậu? Lô nấm khô sao rồi? — Yến sốt sắng hỏi dồn dập, tim đập thình thịch trong lồng ngực.
— Mẹ tớ đỡ nhiều rồi cậu ạ! Bác Hưng hàng xóm sang từ sáng mua thuốc hạ sốt, rồi dìu mẹ sang trạm xá phường khám cẩn thận. Bác sĩ bảo mẹ chỉ bị cảm lạnh biến chứng viêm khớp do đợt gió mùa, tiêm thuốc và cho đơn về uống nghỉ ngơi là ổn, đến trưa đã cắt hẳn cơn sốt. Còn tớ về đến bến Giáp Bát lúc đầu giờ chiều, may sao xe chở hàng vừa cập bến. Ba mươi cân nấm khô lót nilon kỹ nên không bị ngấm nước mưa, tớ thuê xe ba gác chở thẳng về xưởng sấy quen gần nhà hút chân không đóng gói lại rồi giao kịp cho các mối buôn dưới chợ Hôm rồi! May mắn quá cậu ơi, không hỏng mất một lạng nào, tiền hàng thu đủ về tay rồi!
Nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm như trút được ngàn cân gánh nặng của bạn qua điện thoại, Yến cảm thấy sống mũi mình cay xè, khóe mắt ứa ra những giọt nước mắt xúc động:
— Tạ ơn trời đất… Cậu lo chăm sóc cho bác Lan chu đáo nhé. Việc ở xưởng Nà Pao tớ đã hoàn thành trọn vẹn rồi, chị Hà vừa trực tiếp kiểm tra và ký duyệt Bảng kiểm chứng lao động xong xuôi cho tớ rồi!
— Tớ biết mà! Tớ tin chắc chắn cậu sẽ làm được mà! — Giọng Mai tràn đầy niềm tin cậy và tự hào khôn xiết. — Giờ mẹ tớ đã ổn định, nấm giao xong xuôi, tối nay tớ sẽ bắt ngay chuyến xe khách giường nằm chạy xuyên đêm ngược lên tỉnh. Trưa mai tớ sẽ có mặt ở quán nước đầu chợ Khau Lếch đón cậu. Chúng mình sẽ cùng nhau ngồi lại rà soát toàn bộ mười hai trang tranh và gặp anh Vũ Minh An để bàn giao bộ lịch hoàn chỉnh trước khi đưa xuống xưởng in! Nhất định phải gặp nhau ở Khau Lếch nhé, Yến!
— Nhất định thế! Trưa mai gặp nhau ở Khau Lếch! — Yến mỉm cười rạng rỡ, hai má ửng hồng. Cô cúp máy mà lòng nhẹ bẫng như vừa bước qua một thử thách cam go nhất của chuyến hành trình.
Nguyễn Thu Hà đứng cạnh bên, nghe trọn vẹn từng câu chuyện qua chiếc loa thoại, khẽ gật đầu tán thưởng:
— Con bé Mai tháo vát và bản lĩnh đấy. Làm ăn buôn bán nơi đèo heo hút gió này, không cứng cỏi, không lo toan chu toàn cho gia đình từ những việc nhỏ nhất thì không bao giờ trụ nổi với nghề buôn đâu. Thôi, cô dọn dẹp đồ đạc vào ba lô đi, mưa ngớt hạt rồi, tôi dẫn cô ra ngã ba đón chuyến xe buýt liên xã lên đỉnh đèo.
Cơn mưa rào tầm tã cuối cùng cũng đã tạnh hẳn, chỉ còn lại những giọt nước mưa còn đọng trên các tán lá vầu thỉnh thoảng rơi tí tách xuống nền đất ẩm. Mặt hồ Nà Pao phía xa xa dưới chân đồi bắt đầu lắng bọt phù sa, để lộ những mảng nước phẳng lặng như gương phản chiếu bầu trời mùa đông xám bạc. Hà khoác thêm chiếc áo gió mỏng, nhanh nhẹn xách đỡ chiếc ba lô phụ đựng bảng vẽ của Yến, cùng cô rảo bước đi bộ ra trạm chờ xe buýt nằm cạnh ngã ba dốc Bản Đắp.
Gió lạnh từ lòng hồ thổi ngược lên đồi lồng lộng, mang theo cái rét ngọt ngào, se sắt đặc trưng của những ngày áp Tết vùng cao. Đứng bên chiếc cột mốc cây số lem luốc bùn đất ven đường lộ, Hà trao lại chiếc ba lô cho Yến, rồi nhìn thẳng vào mắt cô, căn dặn bằng chất giọng chân tình, dày dạn kinh nghiệm của một người phụ nữ buôn bán sành sỏi đường rừng:
— Cô lên Khau Lếch thì nhớ lấy điều này cho kỹ: phiên chợ Khau Lếch giáp Tết là phiên chợ cuối cùng của mùa đông toàn vùng này đấy. Chợ tan nhanh lắm, người ta dồn về bán vét nốt hàng hóa để còn kịp gom tiền về bản dọn dẹp nhà cửa, mổ lợn đón Tết. Nhiều tiểu thương quen mặt từ các phiên chợ xa xôi như Sín Mây, Khe Nọi hay Pả Lùng cũng đều dồn về đấy để bán nốt chuyến hàng cuối cùng trong năm, nhưng chỉ đến đầu giờ chiều là họ đã dọn sạp lục tục gùi hàng về bản rồi. Muốn gặp ai, muốn trả tranh hay hỏi han điều gì thì bảo bác tài xế cho xuống sớm, cuốc bộ leo đèo vào chợ ngay từ lúc mờ sáng. Chậm chân một tí là chợ tàn, người ta về hết, lán trại trống trơn, muốn tìm lại nhau thì phải đợi sang tận mùa xuân năm sau đấy.
— Em nhớ kỹ rồi ạ. Em cảm ơn chị Hà nhiều lắm! — Yến nắm chặt lấy bàn tay chai sần, thô ráp của Hà, cúi đầu chào tạm biệt người phụ nữ kiên cường của vùng hồ.
Đúng lúc đó, chiếc xe khách liên xã cũ kỹ sơn màu đỏ gạch từ từ trườn tới từ khúc quanh ngã ba dốc. Chiếc xe phanh kít lại bên lề đường đất, phát ra những tiếng xả hơi phì phì đục ngầu khói dầu cay xè. Bác tài xế trung niên ló đầu qua ô cửa kính vẫy tay bấm còi inh ỏi giục giã khách lên xe cho kịp giờ vượt đèo trước khi sương mù đóng băng mặt đường.
Yến bước nhanh thoăn thoắt lên bậc cửa xe, tìm một chỗ ngồi sát cạnh cửa kính ở dãy ghế giữa. Chiếc xe khách rùng mình chuyển bánh, động cơ gầm rú ầm ĩ rồi ì ạch bò từng mét một lên con dốc ngoằn ngoèo men theo sườn núi đá vôi dựng đứng, bỏ lại sau lưng vụng hồ Nà Pao đang dần chìm sâu vào màn sương khói mờ mịt của buổi chiều đông.
Ngồi trên chiếc ghế đệm rách bọc simili đã sờn rách, Yến ôm chặt chiếc ba lô to bản trước lồng ngực. Bên trong lớp vải bạt chống nước dày dặn ấy là tập hồ sơ chứa đựng mười một bản vẽ ký họa chân thực cùng mười một lá phiếu kiểm chứng lao động mang đầy đủ chữ ký, dấu mộc đỏ và những vết điểm chỉ muội than của những con người lam lũ, kiên cường suốt dọc dài những phiên chợ mùa đông vùng cao.
Ngoài cửa sổ xe, sương mù dày đặc và giá buốt bắt đầu bủa vây lấy những khúc cua tay áo hiểm trở. Từng luồng gió lạnh rít qua khe cửa kính hở, mang theo cái rét căm căm cắt da cắt thịt. Chiếc xe khách cuối ngày tiếp tục gầm gừ máy móc, kiên trì rẽ màn sương đặc quánh đưa Yến hướng thẳng về đỉnh đèo Khau Lếch trong cái lạnh thấu xương, nơi phiên chợ cuối cùng của mùa đông đang dần hé mở trong màn sương giá.