Cái bàn cũng cần chỗ đứng
Mùi canh chua bốc khói nghi ngút suýt nữa hắt thẳng vào bắp chân Duy khi anh lùi lại nửa bước để với lấy cọc nắp hộp nhựa trên giá, vừa vặn va phải khuỷu tay cô Hạnh đang bưng chiếc nồi quân dụng từ bệ nấu bước ra.
Tiếng kim loại va đập vào nhau vang lên một tiếng *choảng* khô khốc, sắc lẹm, chém toạc bầu không khí vốn đã oi nồng mùi khói dầu và mỡ cháy của gian bếp hẹp. Nước canh sôi sùng sục, đỏ rực váng cà chua và thơm xào, chao đảo dữ dội rồi sóng tràn qua mép miệng nồi. Mấy vệt nước nóng rực bắn trúng góc dưới tấm tạp dề vải thô màu chàm của cô Hạnh, nhỏ tong tòng xuống nền gạch tàu đỏ quạch đã ngả màu xám xịt vì năm tháng cọ rửa.
Duy giật nảy mình, vội nghiêng người né sang một bên theo phản xạ tự nhiên. Cạnh bả vai anh va khẽ vào góc tủ chén bằng nhôm kính cũ, làm những chồng đĩa sâu lòng bên trong run rẩy kêu lách cách. Anh giơ hai tay lên ngang ngực, bàn tay cầm chiếc kẹp gắp thịt bằng inox dài ngoẵng còn chưa kịp hạ xuống, đôi mắt sau cặp kính cận mở to, tròng mắt co rút lại trước hơi nóng phả rát rạt qua lớp vải quần tây.
— Úi chà chà! Đi đứng cái kiểu gì lạ lùng vậy hả trời! — Cô Hạnh giật thót, hai cánh tay gân guốc gồng cứng để ghìm chặt quai nồi, vội vã hạ chiếc nồi quân dụng nặng trịch xuống mặt bàn gần nhất. Đáy nồi miết trên mặt inox phát ra một tiếng ken két chói tai, rợn người.
Cô Hạnh xuýt xoa, vội vàng buông tay khỏi quai nồi còn hầm hập nhiệt, đưa mu bàn tay áo lên quẹt ngang vệt mồ hôi đang túa ra ròng ròng trên trán. Đôi mắt kèm nhèm, đỏ ngầu vì khói củi và hơi ớt băm nhìn Duy gườm gườm, hai cánh mũi phập phồng vì cơn giận lẫn hoảng hốt chưa kịp tan:
— Cậu Duy! Cậu có con mắt nào mọc sau ót không đấy hả? Nồi canh chua cá này vừa nhấc từ bếp lò đỏ rực ra, nước đang sôi ùng ục thế kia, nó mà trút cả vào chân tôi hay chân cậu thì phỏng rộp da lột thịt chứ chẳng chơi đâu! Có ngày mang tật vào thân!
— Tôi thành thật xin lỗi, tôi đang lùi lại để với thêm cọc nắp hộp dập ghim trên kệ, — Duy đáp ngay tắp lự. Giọng anh vẫn giữ âm sắc trầm, khô và chặt chẽ như một thói quen khó bỏ, nhưng lồng ngực phập phồng sau làn áo sơ mi màu tro cho thấy anh cũng vừa trải qua một phen thót tim. — Nhưng góc này khuất quá. Cô bước từ bồn rửa qua bệ bếp không hề phát ra tiếng động nào báo trước, tầm nhìn phía sau của tôi hoàn toàn bị cái tủ chén che mất.
— Tôi bưng cái nồi gang hai tay nặng trịch, mồm đâu ra mà bấm còi bim bim cho cậu dạt sang bên? — Cô Hạnh bực bội vặn lại, với tay giật phắt chiếc khăn lau bếp cáu bẩn trên móc để dằn mạnh xuống vệt nước canh đổ loang lổ trên bàn. — Bếp núc mấy chục năm nay của người ta luồng đi nước bước nó rành rành ra đấy. Người nấu nướng chính thì phải lướt qua lướt lại, cậu chen vào đây thì cậu phải nhìn trước ngó sau, liếc mắt mà liệu đường né chứ!
Hà đứng ở quầy thu ngân, cách mép cửa bếp chưa đầy ba bước chân, tim đập thình thịch như đánh trống trong lồng ngực. Nghe tiếng choảng sắc lạnh cùng tiếng la thất thanh, cô vội vã buông rơi tập hóa đơn đang bấm dở xuống mặt quầy, vồ lấy chiếc giẻ lau sàn sợi thô đặt góc cửa rồi chạy vội vào:
— Cô Hạnh có sao không cô? Nước có bắn vào mu bàn tay hay chân không cô? Duy nữa, chân anh có bị giọt nào ngấm qua vải quần không?
— May mà nó tạt trúng góc tạp dề dày cộp, mới ẩm vào lớp quần lụa bên trong chứ chưa thấu đến da thịt, — cô Hạnh thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo bà ba hoa sam bạc màu. Bà quắc mắt nhìn bãi chiến trường lộn xộn vừa bày ra trước mặt, giọng vẫn chưa nguôi bức xúc: — Nhưng mà cứ cái kiểu này thì có ngày đền mạng oan uổng con ơi! Bếp thì chật như cái mắt muỗi, người đứng xắt thịt luộc, người múc canh sôi, người lại cứ lăng xăng chen vào túm bọc xốp với dập màng nhựa. Cứ quay qua quay lại là đụng cùi chỏ, thụi vào hông nhau. Làm ăn kiểu này tổn thọ lắm, tim gan nhảy ra ngoài hết cả!
Hà ngồi thụp xuống sàn, hai đầu gối chạm sát mép gạch, dùng giẻ lau nhanh vũng nước canh váng mỡ và mấy lát thơm nát vụn trên nền nhà để tránh người khác giẫm phải trơn trượt. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt vắt giẻ vào chiếc xô sắt, nhưng trong lòng trĩu nặng một mối lo âu quen thuộc.
Cảnh tượng suýt xảy ra tai nạn này không phải là một sự cố ngẫu nhiên bộc phát do ai đó bất cẩn trong chốc lát. Nó là cái kết cục tất yếu đã được báo trước từ nhiều ngày nay. Kể từ khi quán bắt đầu nhận nhiều đơn mang về hơn theo quy trình phân loại và kiểm soát phiếu mới mà Duy áp dụng, căn bếp vốn đã tù túng, ẩm thấp của một ngôi nhà phố cũ nay lại càng bộc lộ sự quá tải đến cùng cực về mặt không gian vật lý.
Điểm nghẽn nằm trơ trọi ngay trước mắt ba người bọn họ: một chiếc bàn bằng inox dài vỏn vẹn một mét hai, rộng chừng sáu mươi phân, kê dọc sát vách tường gạch loang lổ vết ố vàng.
Chiếc bàn đơn độc này đang phải gánh vác cùng lúc ba nhiệm vụ hoàn toàn xung đột nhau, tạo nên một sự chồng chéo tai hại. Đầu bàn bên phải, sát lối đi dẫn ra bồn rửa chén ngoài sân sau, là nơi cô Hạnh đặt chiếc thớt gỗ nghiến dày cộp để xắt thịt luộc, tỉa dưa leo, sơ chế rau muống chẻ và các loại rau sống ăn kèm. Ở đoạn giữa bàn là dãy khay nhôm đựng thức ăn chín vừa nấu xong cần chia phần: khay sườn nướng óng ả màu mật ong, âu cá lóc kho tộ bốc khói cay nồng mùi tiêu sọ, rồi chảo trứng chiên xắt miếng vuông vức.
Còn mép bàn bên trái, một khoảng trống chật chội chưa đầy bốn mươi phân, lại là nơi Duy đặt chiếc máy dập màng bọc thực phẩm mini bằng sắt sơn tĩnh điện, cọc hộp xốp cao ngất ngưởng dễ đổ, những cuộn túi ni-lông bóng kính và một chiếc rổ nhựa cắm đầy muỗng đũa dùng một lần.
Mỗi lần Duy muốn vươn tay kéo màng bọc thực phẩm hay nghiêng người rút một chiếc nắp hộp nhựa, khuỷu tay anh lại chực chờ quét qua rổ rau sống vừa vẩy ráo nước của cô Hạnh. Ngược lại, mỗi khi cô Hạnh nhấc chiếc chảo xào nặng trịch hay bưng nồi nước dùng từ bếp gas công nghiệp sang bồn rửa để xả nước lạnh châm thêm, cô buộc phải lách nghiêng người qua một khoảng hẹp trơ trẽn chừng năm tấc giữa mép bàn inox và dãy kệ gia vị gắn tường—chính là chỗ Duy đang đứng cắm cúi đóng gói từng hộp cơm mang đi.
Họ không hề có xích mích cá nhân, cũng chẳng ai có ác ý muốn gây khó dễ cho người kia. Nhưng chính sự chật chội, tù túng và cách sắp đặt cẩu thả của không gian đang ép họ phải va vào nhau chan chát như những mảnh ghép cơ khí bị đặt lệch khớp nối, chỉ chực chờ gãy vỡ bất cứ lúc nào.
***
Sau sự cố suýt phỏng chân kinh hoàng ấy, Duy không vội vã quay lại làm việc ngay. Anh đứng sững bên cạnh mép bàn inox, im lặng nhìn chăm chú vào mặt bàn lộn xộn một lúc rất lâu. Trong lúc cô Hạnh lui lũi vào góc sâu để xả nước rửa lại chiếc muôi múc canh bằng nhôm bị méo góc, Duy lẳng lặng thò tay vào túi áo ngực lấy ra một cuốn sổ tay bìa bọc da nhỏ xíu và chiếc bút bi ngòi kim. Anh bấm bút *tách* một tiếng dứt khoát, bắt đầu nheo mắt ước lượng khoảng cách, đo đạc mặt bằng bằng mắt rồi vẽ ngoáy vài đường nét kỷ hà thô ráp lên trang giấy kẻ ô vuông.
Vẻ mặt anh nghiêm nghị đến mức lạnh lùng, đôi chân mày rậm nhíu chặt lại thành một đường thẳng thớm ngay ngắn trên sống mũi cao.
— Không thể tiếp tục để thế này được nữa, — Duy đột ngột lên tiếng, thanh âm rành rọt, dứt khoát cắt ngang tiếng nước chảy róc rách ở góc bồn rửa. — Góc đóng hộp và khu vực chia thức ăn chín bắt buộc phải tách rời nhau ra. Nếu cứ để chung một mặt bàn hẹp như hiện tại, rủi ro nhiễm khuẩn chéo từ rau sống sơ chế sang phần cơm hộp mang về là điều thứ nhất. Điều thứ hai, rủi ro va quệt chân tay gây đổ vỡ thực phẩm nóng và gây tai nạn lao động là điều chắc chắn sẽ lặp lại.
Cô Hạnh đang cầm chiếc giẻ cọ xoong bằng cước sắt kỳ cọ đáy bồn rửa, nghe Duy nói một tràng toàn những từ ngữ lạ tai liền ngoái cổ lại, khóe miệng trễ xuống với vẻ mỉa mai kín đáo:
— Cậu nói nghe chữ nghĩa sách vở ghê chưa kìa! Bếp cái quán cơm bình dân gia đình này có từ đời nảo đời nào rồi, chứ có phải nhà hàng khách sạn năm sao của Tây đâu mà đòi mỗi người một góc riêng, mỗi việc một cái phòng? Mặt bằng nó vỏn vẹn có bấy nhiêu mét vuông, cậu chê chật thì cậu đi mà dỡ phăng cái bức tường chịu lực kia ra để cơi nới à?
— Không cần phải dỡ tường hay tốn tiền cơi nới, — Duy bình thản đáp, giọng điệu điềm tĩnh như thể đã hoàn toàn miễn nhiễm với những lời bóng gió mỉa mai của người đầu bếp già. Anh giơ ngón tay trỏ dài và khẳng khiu chỉ thẳng về phía góc bên trái của gian bếp, nơi có một khung cửa sổ con con chấn song sắt han rỉ nhìn thông ra con hẻm nhỏ phía sau. — Chúng ta dời toàn bộ cọc hộp xốp, cuộn túi bóng ni-lông và cái máy dập màng bọc thực phẩm sang mép tường bên trái, ngay sát bệ cửa sổ kia. Kê một cái bàn phụ loại chân sắt gấp gọn vào đúng vị trí đó. Khi nào có đơn mang về đổ về quầy, tôi chỉ việc đứng gọn ở mép cửa sổ thao tác. Toàn bộ mặt bàn inox một mét hai này sẽ được trả lại trọn vẹn cho cô để sơ chế thịt rau và chia đồ ăn nóng. Như vậy là đường ai nấy đi, tuyệt đối không còn đụng chạm cùi chỏ vào nhau nữa.
Hà ngước mắt nhìn theo hướng ngón tay Duy vừa chỉ.
Góc cửa sổ con con đó trước giờ vốn là một góc khuất ẩm thấp, nơi cô Hạnh hay kê tạm chiếc xô nhựa màu xám đựng nước lau sàn cáu bẩn và xếp chồng mấy két vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh cũ bám đầy bụi mạng nhện. Xét trên lý thuyết hình học và sự phân chia cơ học của Duy, góc đó có chút ánh sáng trời hắt vào từ con hẻm, lại hoàn toàn biệt lập với dãy bếp gas công nghiệp, thoạt nhìn quả thực rất tiện lợi để một người đứng đóng gói liên tục mà không vướng víu vào chân tay của người đang đứng nấu nướng.
— Anh Duy thấy chuyển hẳn sang góc đó liệu có tiện thật không? — Hà ngập ngừng lên tiếng hỏi, ánh mắt cô vẫn lướt qua khoảng cách giữa góc cửa sổ và các khu vực xung quanh với một linh cảm mơ hồ.
— Tiện chứ, rất tối ưu là đằng khác, — Duy khẳng định một cách chắc nịch, không một chút do dự. — Tay phải tôi với nắp hộp nhựa, tay trái kéo màng bọc dập xuống, xong xuôi chỉ việc xoay người nửa vòng là đưa hộp cơm ra mép quầy cho cô Hà soát lại phiếu thanh toán. Toàn bộ luồng thao tác đóng gói sẽ chạy thành một đường thẳng tắp, không bị cắt khúc.
Tính Duy vốn là người nói đi đôi với làm, không thích dây dưa kéo dài. Ngay khi lượng khách ăn bữa trưa tạm thời lắng xuống vào khoảng mười một giờ bốn mươi lăm phút, trong lúc cô Hạnh còn đang cặm cụi múc thêm mấy đĩa dưa chua muối xổi để chuẩn bị cho đợt khách tiếp theo, Duy đã chủ động xắn cao tay áo sơ mi. Anh lẳng lặng khiêng mấy két vỏ chai thủy tinh nặng trịch dời ra góc hiên ngoài sân sau, dùng khăn ẩm lau sạch lớp bụi bám trên bệ xi măng sát khung cửa sổ, rồi lôi chiếc bàn sắt gấp dự phòng kê gọn ghẽ vào góc đó.
Anh cẩn thận dời cọc hộp xốp trắng tinh, cuộn màng bọc thực phẩm cùng chiếc máy dập sắt sang chiếc bàn mới. Mọi thứ được anh sắp xếp ngay ngắn, vuông vức, thẳng tắp như thể được căn chỉnh bằng thước kẻ cơ khí. Nhìn thành quả của mình, khóe môi Duy khẽ giãn ra, gương mặt lộ rõ vẻ tự tin và hài lòng của một người tin rằng mình vừa dùng tư duy tổ chức khoa học để giải quyết êm đẹp một bài toán hóc búa tồn tại bấy lâu.
Thế nhưng, thực tế vận hành đầy biến động của một gian bếp quán cơm bình dân vào giờ cao điểm chưa bao giờ vận hành trên một đường thẳng lý thuyết êm đềm như trên trang giấy kẻ ô.
Chỉ đúng mười phút sau, khi đồng hồ điểm mười hai giờ kém mười lăm, làn sóng khách ăn trưa đợt hai ùa vào như ong vỡ tổ. Tiếng xe máy rồ ga tấp vào lề đường, tiếng gọi món oang oang từ ngoài hiên vọng vào, hòa cùng tiếng chuông điện thoại bàn reo liên hồi báo đơn đặt cơm văn phòng dồn dập. Không khí trong quán lập tức nóng bừng lên. Và chính vào lúc này, tai họa tiềm ẩn từ cách sắp xếp mang tính "tối ưu đơn phương" của Duy mới thực sự bộc lộ một cách trần trụi và tàn nhẫn nhất.
Góc cửa sổ mà Duy chọn, đúng là rất thuận tiện cho riêng một mình anh đứng thao tác dập hộp và với tay lấy đồ, nhưng cái bệ xi măng cùng chiếc bàn gấp anh vừa kê thêm lại nằm chình ình ngay trên lối đi độc đạo hẹp nhất—nơi kết nối giữa bồn rửa rau củ quả phía sau và dãy bếp lò xào nấu chính ở phía trước.
— Tránh ra! Tránh ra giùm một cái coi nào! — Tiếng cô Hạnh gắt gỏng the the vang lên lần thứ ba chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi phút đồng hồ ngắn ngủi.
Cô Hạnh hai tay đang phải bưng một rổ cải ngọt vừa rửa xong ướt sũng nước, nặng trĩu, từng giọt nước lạnh rỏ tong tòng xuống sàn nhà theo từng bước chân vội vã. Để đi từ bồn rửa đến bên cạnh chiếc chảo xào đang bốc khói nghi ngút mỡ sôi trên bếp gas, cô bắt buộc phải luồn qua cái nút cổ chai hẹp té mà Duy đang đứng chiếm trọn.
Nhưng Duy, với chiều cao gần một mét tám, bờ vai rộng và sải tay dài, khi đứng tập trung kéo màng bọc thực phẩm và cúi người dập chốt sắt, đã choán gần như toàn bộ khoảng không gian lọt lòng của lối đi. Mỗi lần cô Hạnh muốn lách qua, bà phải nghiêng hẳn một bên sườn, hai tay giơ cao rổ rau ướt sũng qua đầu Duy để tránh làm nước bẩn rớt vào các hộp cơm trắng tinh anh đang đóng gói dở dang.
— Cậu Duy! Cậu đứng chình ình như cái cột đình thế này thì bảo tôi mọc cánh bay qua đầu cậu hay sao hả? — Cuối cùng, không thể chịu nổi thêm một giây nào nữa, cô Hạnh đập mạnh rổ rau ướt lên góc bàn bếp khiến nước bắn tung tóe. Gương mặt người phụ nữ lớn tuổi đỏ bừng lên vì vừa ngột ngạt vì hơi nóng của lửa, vừa ức chế đến nghẹn ứ nơi cổ họng.
— Tôi đã nép sát người vào góc tường rồi mà cô, — Duy ngoái đầu lại, hai tay vẫn đang cố giữ chặt mép màng bọc ni-lông mỏng dính để kéo xuống lưỡi dao cắt, giọng anh bắt đầu gợn lên sự bực bội vì liên tục bị gián đoạn công việc. — Lối đi vẫn còn một khoảng trống, cô chỉ cần nghiêng người lách nhẹ qua một chút là được, đâu đến mức không đi nổi.
— Nghiêng cái đầu cậu ấy mà nghiêng! — Cơn thịnh nộ kìm nén suốt cả buổi sáng của người phụ nữ làm bếp lâu năm bùng nổ dữ dội, không còn kiêng dè bất kỳ điều gì nữa. Đôi mắt cô Hạnh long lên, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào chiếc bàn gấp: — Người ta nấu cái bếp dầu sôi lửa bỏng này là chân tay phải thoăn thoắt, chảo nóng hừng hực, lửa bốc ngùn ngụt đến chân mày, hơi sức đâu mà mỗi bước đi phải nín thở, rón rén luồn lách như quân đi ăn trộm thế hả? Cậu dời cái của nợ ấy sang góc đấy thì sướng cái thân cậu rồi! Cậu với cái tay cho tiện, cậu quay cái mặt cho mát, nhưng cậu bịt cụt tiệt cái đường tiếp tế thực phẩm của tôi! Người trẻ có ăn có học các cậu bây giờ hay ho lắm cơ! Học hành cho lắm bằng cấp vào rồi chỉ biết nghĩ cho sự tiện lợi của một cái thân mình, chẳng biết cái thớ việc, cái nhịp thở làm bếp của người khác nó tròn méo ra làm sao cả!
Những lời chỉ trích gay gắt, cay nghiệt ấy như một gáo nước đá tạt thẳng vào lòng tự trọng và sự tự tin về tư duy logic vốn có của Duy.
Bàn tay đang giữ cuộn màng bọc thực phẩm của anh bỗng khựng lại sững sờ giữa không trung. Các đốt ngón tay anh siết chặt lấy mép bàn bằng sắt đến mức trắng bệch ra, không còn một giọt máu. Duy không mở miệng cãi lại một câu nào, nhưng toàn bộ cơ thể anh cứng đờ lại như một khúc gỗ. Khuôn mặt anh đanh lại, đôi môi mỏng mím chặt thành một đường chỉ thẳng băng lạnh ngắt, ánh mắt sau tròng kính lóe lên sự tổn thương và tự ái sâu sắc của một người vừa cố tâm đem hết khả năng ra để sắp xếp, cải tiến công việc nhưng lại bị quy chụp là kẻ ích kỷ, hẹp hòi chỉ biết nghĩ cho bản thân.
Bầu không khí bên trong gian bếp bỗng chốc trở nên ngột ngạt, căng thẳng hơn cả những lúc dầu mỡ bị cháy khét lẹt trên chảo than. Tiếng dầu sôi xèo xèo, tiếng lửa gas phụt lên từng chập dưới đáy chảo dường như cũng mang theo sự hằn học, tức tối ngấm ngầm. Cô Hạnh bặm môi, cầm con dao phay băm thịt côm cốp xuống mặt thớt gỗ như muốn trút hết mọi cơn giận dữ xuống từng thớ thịt heo luộc, còn Duy thì lẳng lặng quay lưng lại, tiếp tục đóng từng hộp cơm trưa với những động tác máy móc, cứng nhắc đến mức phát ra những tiếng *bốp, chát* nặng nề mỗi khi anh dập nắp hộp xuống rãnh nhựa.
Hà đứng ở quầy thu ngân, nhìn thấy toàn bộ tấn bi kịch nhỏ ấy diễn ra từ đầu đến cuối qua khung cửa thông gió.
Cô nhìn rõ từng chuyển động cơ thể, từng cái nhíu mày, từng tiếng thở dài nén lại của cả hai con người. Duy hoàn toàn không có ác ý muốn tranh giành lối đi hay lấn át ai, anh chỉ đơn thuần giải quyết bài toán vận hành theo góc nhìn hạn hẹp của một mắt xích đóng gói độc lập. Còn cô Hạnh cũng không hề vô lý hay cố tình gây sự bắt nạt người mới, bởi vì nhịp điệu thao tác của một đầu bếp quán ăn bình dân đòi hỏi một sự thông suốt tuyệt đối về mặt lộ trình di chuyển; bất kỳ một chướng ngại vật nào án ngữ trên con đường huyết mạch nối giữa nước và lửa đều là một hiểm họa tiềm tàng cho sự an toàn tính mạng.
Cuộc xung đột nảy lửa này không hề bắt nguồn từ việc ai tốt ai xấu, ai có đạo đức hay ai thiếu thiện chí. Nó hoàn toàn bắt nguồn từ một lỗi thiết kế không gian tồi tệ và thiếu sự thấu hiểu toàn diện về dòng chảy công việc.
Nếu là Hà của những tháng ngày trước đây—cô gái luôn sợ hãi những xung đột to tiếng, luôn cuống cuồng tìm cách hòa hoãn bằng mọi giá—cô sẽ vội vã chạy vào bếp, cúi đầu nhận hết mọi lỗi lầm về mình, buông ra những lời xoa dịu vô thưởng vô phạt rồi tự mình lăn xả vào bưng bê rổ rau ướt hộ cô Hạnh, dọn dẹp phụ cọc hộp xốp cho Duy để hai bên bớt lời qua tiếng lại. Cô sẽ lại tự biến bản thân mình thành một thứ chất bôi trơn tạm bợ, cam chịu để cho cỗ máy cơ khí cọc cạch, sai lệch kết cấu này tiếp tục nghiến răng ken két chạy qua ngày đoạn tháng.
Nhưng giờ đây, khi đưa mắt nhìn lên tấm bảng theo dõi công việc bằng bìa cứng được dán ngay ngắn trên cây cột bê tông giữa quán, và nhớ lại những bài học xương máu đắt giá vừa trải qua từ sự cố của khách hàng trước đó, Hà hiểu sâu sắc rằng: sự nhẫn nhịn cam chịu của một cá nhân sẽ không bao giờ có thể sửa chữa được một chiếc bàn đang bị đặt sai vị trí.
***
Đúng một giờ ba mươi phút chiều, đợt khách ăn trưa ồn ào cuối cùng cũng vãn hẳn. Những chồng bát đĩa dính đầy dầu mỡ đã được dọn sạch khỏi các mặt bàn gỗ, chuyển toàn bộ về phía bồn rửa ngoài sân sau. Quán cơm chìm dần vào một bầu không khí tĩnh lặng, uể oải đặc trưng của buổi xế trưa oi ả, chỉ còn lại tiếng chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt cũ kỹ quay vù vù trên trần nhà cao, phả xuống từng luồng gió hanh hao, mang theo hơi nóng từ mặt đường nhựa hắt vào.
Bà Lan, với chiếc nẹp đầu gối y tế bằng vải thun màu đen quấn chặt cứng quanh khớp chân phải, đang ngồi tựa lưng nghỉ ngơi trên chiếc ghế nhựa có lưng dựa ở góc bàn số một, tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy nhè nhẹ để xua bớt lũ ruồi vo ve.
Trông thấy cô Hạnh đang cởi chiếc tạp dề hoa sam vắt lên thành ghế, chuẩn bị dắt chiếc xe máy số cà tàng ra về, còn Duy thì đang lẳng lặng thu dọn tập tài liệu và đồ nghề cá nhân nhét vào chiếc ba lô đen với gương mặt lạnh tanh như tiền, Hà hít một hơi thật sâu để lấy lại sự bình tĩnh rồi bước nhanh ra, đứng chắn nhẹ trước lối đi dẫn ra cửa quán:
— Cô Hạnh ơi, Duy ơi, hai người nán lại cho cháu xin đúng mười lăm phút thôi được không ạ?
Cô Hạnh nhíu chặt đôi mày xám tro, đưa cổ tay áo lên xem chiếc đồng hồ mặt vuông đã cũ mèm, giọng lộ rõ vẻ uể oải và chán chường:
— Lại chuyện gì nữa vậy con Hà? Trưa nay buôn bán mệt muốn đứt cả hơi tai rồi. Cái lưng già này của cô đang mỏi nhừ ra như bị ai dần đây, chỉ muốn về ngả lưng một lát thôi.
— Cháu biết trưa nay mọi người đều rất mệt, ai cũng phải gồng mình lên làm việc quá sức, — Hà nói, thanh âm của cô giữ được sự bình tĩnh, rõ ràng và rành mạch, hoàn toàn không còn chút âm sắc nài nỉ hay van xin tội nghiệp như những lần trước. — Nhưng nếu trưa nay chúng ta cứ thế này mà đi về, không cùng nhau giải quyết dứt điểm cái vị trí đứng trong gian bếp, thì trưa ngày mai cô Hạnh lại suýt phỏng chân vì nước sôi, Duy lại bị vướng cùi chỏ không đóng hộp được, rồi hai người lại tích tụ bực bội, khó chịu với nhau suốt cả ca làm. Cháu đứng ở ngoài quan sát từ sáng đến giờ, cháu thấy cả cô Hạnh lẫn Duy đều không có lỗi gì trong chuyện này cả. Cái lỗi duy nhất là do cái bếp nhà mình quá hẹp mà đồ đạc lại đang kê chắn ngang đường đi nước bước của nhau. Chúng ta cùng bỏ ra đúng mười lăm phút, đo đạc lại mặt bằng một lần cho cẩn thận rồi xê dịch lại bàn ghế cho thật thông thoáng. Ngày mai đi làm, chân tay thoải mái thì đầu óc ai cũng sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều.
Duy dừng hẳn động tác kéo phéc-mơ-tuya của chiếc ba lô. Anh ngước mắt lên nhìn thẳng vào gương mặt cương nghị của Hà, rồi quay đầu nhìn vào khoảng không gian bếp lộn xộn phía sau cánh cửa lùa. Là một người vốn tôn thờ sự quy củ, ngăn nắp và tính hiệu quả của hệ thống, lời đề nghị trực diện nhắm thẳng vào việc loại bỏ nguyên nhân gốc rễ của Hà lập tức đánh trúng vào mạch suy nghĩ logic bên trong anh.
— Tôi đồng ý ở lại, — Duy lên tiếng, giọng nói ngắn gọn, dứt khoát. — Nếu chúng ta cứ tiếp tục vận hành với các luồng di chuyển cắt ngang nhau như sáng nay, năng suất đóng gói chắc chắn sẽ tụt giảm ít nhất ba mươi phần trăm và rủi ro tai nạn lao động là cực kỳ lớn.
Cô Hạnh đưa mắt nhìn Duy, rồi lại nhìn sang ánh mắt kiên định, chân thành nhưng không hề né tránh của Hà. Bà Lan từ chiếc bàn số một ở góc xa cũng chống tay lên đầu gối, cất giọng khàn khàn nói với vào:
— Thím Hạnh nán lại một tí đi thím. Con Hà nó nói chí lý đấy thím à. Cứ để cái bếp chướng tai gai mắt như cái bãi chiến trường thế kia, tôi ngồi ngoài này ngó vào mà ruột gan cứ thắt lại từng cơn. Mấy đứa tụi nó chịu ngồi lại bàn bạc để tìm cách sắp xếp cho thím đi đứng đỡ vấp váp cái chân đau, thế là mừng rồi. Ráng thêm mười lăm phút đi thím.
Cô Hạnh thở dài thườn thượt một tiếng, chậm rãi đặt chiếc nón lá rách vành xuống mặt bàn số bảy bên cạnh:
— Thôi được rồi, nể lời bà Lan với con Hà đấy nhé. Kê lại kiểu gì thì kê, nhưng tôi nói trước một điều dứt khoát: từ cái bồn rửa chén bước sang dãy bếp gas công nghiệp, tôi phải bước thẳng một mạch như đi trên đường nhựa, không có vòng vèo cua quẹo hay né tránh bất kỳ cái bóng người nào hết đấy!
Cả ba người cùng bước vào khoảng sân bếp ngột ngạt. Hà cầm theo một cuộn thước dây bọc kim loại màu vàng cam mà cô vừa rút ra từ ngăn kéo bàn thu ngân.
— Nào, bây giờ chúng ta hãy cùng nhìn lại toàn bộ mặt bằng gian bếp này một cách khách quan nhất, — Hà mở lời, cô đứng vào chính giữa khoảng sàn gạch tàu, hai tay giang ra để bao quát không gian. — Bếp của quán mình có hình chữ nhật dài và hẹp. Cửa thông ra quầy thu ngân nằm ở đầu này, bồn rửa chén và cửa hậu nằm ở đầu kia, còn toàn bộ dãy bếp lò công nghiệp nằm áp sát vào bức tường chịu lực bên tay phải.
— Sáng nay tôi đề xuất kê chiếc bàn đóng gói phụ áp sát vào bệ cửa sổ bên trái là vì muốn tận dụng triệt để góc chết không gian, — Duy lên tiếng giải thích. Giọng anh lúc này đã hoàn toàn rũ bỏ vẻ phòng thủ căng thẳng, thay vào đó là một thái độ lắng nghe và cầu thị rõ nét. — Tôi chỉ tập trung tính toán cự ly thao tác của riêng khâu đóng gói mà không lường hết được tần suất cô Hạnh phải bưng bê thực phẩm ướt từ bồn rửa sang bếp chính. Khoảng không gian sát cửa sổ đó, tuy là góc chết đối với người ngoài nhìn vào, nhưng thực chất lại chính là hành lang di chuyển huyết mạch của toàn bộ gian bếp.
Cô Hạnh nghe người thanh niên trẻ tuổi thẳng thắn thừa nhận thiếu sót trong tính toán của mình mà không hề tìm cách bao biện hay đổ lỗi, vẻ mặt khó đằng đằng sát khí của bà bỗng chốc dịu hẳn đi. Bà khoanh hai tay trước ngực, tựa lưng vào mép tủ kệ đựng hũ gia vị, khẽ gật đầu:
— Cậu nhận ra được cái chỗ đó là cậu có mắt nhìn việc rồi đấy. Người nấu bếp cần nhất là cái đường đi thẳng thớm, thông suốt. Tay đang bưng cái nồi canh sôi sùng sục nặng cả chục ký, chân bước thoăn thoắt mà cứ bắt người ta phải lách nghiêng cái hông qua một cái khe hẹp chưa đầy nửa mét thì bố ai mà dám bước? Sơ sểnh một cái là thịt nát xương tan chứ chẳng đùa!
— Cháu có một ý này, — Hà dùng mũi giày vải vạch một đường thẳng vô hình chạy ngang qua nền gạch tàu đỏ. — Chiếc bàn inox dài một mét hai này, từ nhiều năm nay nhà mình vẫn quen kê dọc theo chiều dài của bức tường bên trái. Kê dọc như thế, thoạt nhìn thì ai cũng tưởng là tiết kiệm diện tích và nép gọn vào tường, nhưng thực chất nó lại biến toàn bộ gian bếp thành một đường hầm vừa sâu vừa hẹp, khiến mọi hoạt động sơ chế, nấu nướng và đóng gói đều bị ép chung vào một dải đất chật chội rộng chưa đầy sáu tấc. Bây giờ, tại sao chúng ta không thử xoay ngang chiếc bàn inox này lại?
Cả Duy và cô Hạnh đều thoáng ngỡ ngàng, đồng loạt đưa mắt nhìn chăm chú vào chiếc bàn inox dài ngoẵng.
— Xoay ngang chiếc bàn lại sao? — Duy lẩm bẩm trong miệng, ánh mắt anh lập tức chuyển động qua lại giữa các góc tường, bộ não vốn quen với các bản vẽ kỹ thuật bắt đầu tái cấu trúc lại không gian ba chiều.
— Đúng vậy, — Hà bước nhanh tới, đặt hai bàn tay lên mép bàn inox sáng bóng. — Chúng ta kê chiếc bàn này quay ngang một góc chín mươi độ, chặn ngang một nửa khoảng trống từ quầy thu ngân bước vào bếp. Khi đặt như thế, chiếc bàn sẽ vô tình đóng vai trò như một chiếc quầy bar ngăn cách tự nhiên giữa không gian làm việc bên trong của người nấu bếp và không gian tiếp nhận bên ngoài của người phục vụ.
Hà vừa dứt lời liền cúi người làm mẫu để nhấc một đầu bàn lên. Thấy vậy, Duy lập tức bước nhanh tới, đưa đôi tay rắn rỏi nắm chặt lấy khung chân bàn bằng ống thép chịu lực để hỗ trợ cô. Hai người cùng nhau dùng sức nâng chiếc bàn inox nặng trịch, xoay chuyển nó một cách nhịp nhàng. Chân bàn bọc cao su miết trên nền gạch phát ra tiếng rít trầm đục rồi dừng lại ngay ngắn.
Chiếc bàn inox dài một mét hai giờ đây nằm vắt ngang một cách hoàn hảo giữa ranh giới vô hình của khu vực lòng bếp và lối đi dẫn ra quầy thu ngân.
— Mọi người nhìn thử xem, — Hà hào hứng chỉ tay, đôi mắt cô sáng bừng lên niềm vui khi thấy ý tưởng trong đầu mình bắt đầu thành hình cụ thể. — Khi chiếc bàn được quay ngang ra như thế này, toàn bộ khoảng không gian nằm ở phía bên trong—tức là toàn bộ lòng bếp phía sau chiếc bàn—hoàn toàn thuộc về quyền kiểm soát và sử dụng của cô Hạnh! Từ bồn rửa chén phía sau lưng bước thẳng một mạch sang dãy ba bếp gas công nghiệp là một khoảng trống thênh thang, rộng gần một mét, thẳng tắp như kẻ chỉ. Sẽ không còn bất kỳ cái bàn gấp, cái cọc hộp xốp hay cái bóng người nào chắn ngang tầm mắt và lối đi của cô nữa. Cô có thể bưng nồi canh sôi, rổ rau ướt hay chảo thịt nóng đi lại một cách an toàn tuyệt đối.
Cô Hạnh bước thử ba bước dài từ bồn rửa sang bếp chính. Khoảng trống mênh mông mở ra trước mặt, hai bên sườn hoàn toàn thông thoáng, không còn cảm giác bị gò bó hay chực chờ va quệt. Nét mặt căng thẳng, nhăn nhó của người đầu bếp già giãn ra thấy rõ, một nụ cười móm mém hiếm hoi nở trên môi bà:
— Ừ nhỉ... khéo thật đấy con bé này! Thế này thì tôi bước một lèo từ bồn rửa sang bếp, hai tay bưng đồ thoải mái mà chẳng sợ vướng cái mép tạp dề hay đụng cái cùi chỏ vào nách ai nữa cả. Rộng rãi hẳn ra!
— Còn đối với Duy, — Hà quay sang nhìn Duy, người vẫn đang đứng im lặng, chăm chú quan sát cách bố trí phân luồng mới với vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ. — Anh sẽ đứng làm việc ở phía bên ngoài của chiếc bàn xoay ngang này. Tức là anh đứng quay mặt nhìn thẳng vào trong lòng bếp, còn lưng anh thì hướng trọn vẹn ra phía quầy thu ngân bên ngoài. Mặt bàn inox một mét hai này sẽ được chia đôi theo chiều dọc. Nửa bên trong—hướng về phía lòng bếp của cô Hạnh—sẽ là nơi cô Hạnh đặt các khay nhôm đựng thức ăn chín vừa nấu xong. Còn nửa bên ngoài—hướng về phía anh—sẽ là nơi anh đặt máy dập màng bọc thực phẩm, cọc hộp xốp và các loại túi bóng. Khi cô Hạnh múc thức ăn vào đĩa hay âu xong, cô chỉ cần đẩy nhẹ chiếc đĩa từ nửa bàn bên trong sang nửa bàn bên ngoài cho anh. Duy nhận lấy đồ ăn, đóng hộp, dập màng bọc xong xuôi thì chỉ việc xoay nhẹ nửa thân người sang bên trái là đặt ngay hộp cơm lên mặt quầy soát vé cho em.
Duy lập tức bước tới, đứng thử vào đúng vị trí làm việc mới mà Hà vừa phân tích.
Anh đưa hai tay ra phía trước làm động tác với hộp xốp, kéo cuộn màng bọc ni-lông xuống bàn, rồi xoay hông một góc bốn mươi lăm độ sang hướng quầy thu ngân. Một nụ cười kín đáo, nhẹ nhõm và vô cùng hiếm hoi xuất hiện nơi khóe môi của người thanh niên ít nói:
— Rất hợp lý và chuẩn xác. Các luồng di chuyển không còn bị cắt chéo vào nhau ở bất kỳ điểm nào nữa. Cô Hạnh di chuyển hoàn toàn theo trục dọc ở phía bên trong lòng bếp, tôi thao tác xử lý đóng gói theo trục ngang ngay tại đường biên ranh giới, còn cô Hà thì tiếp nhận sản phẩm đầu ra ở trục ngoài cùng. Cách sắp đặt này đã tạo ra ba vùng không gian làm việc hoàn toàn độc lập về mặt vật lý nhưng lại kết nối với nhau vô cùng liền mạch theo một quy trình khép kín.
— Vẫn chưa hết đâu nhé, — Hà mỉm cười rạng rỡ, cô tiến lại gần mép phải của chiếc bàn inox, sát vách tường gạch. Cô rút trong túi tạp dề ra một cuộn băng dính màu vàng tươi, xé một đoạn dán viền thành một ô vuông vức có kích thước khoảng hai mươi phân trên mặt bàn. — Em sẽ dành riêng một góc cố định này ở đây, dán viền màu vàng nổi bật để làm mốc. Đây sẽ là góc chuyên để phiếu đơn hàng đã được đối soát. Phiếu nào đã kiểm tra đủ món, Duy cứ kẹp chặt vào hộp cơm rồi đặt đúng vào cái ô màu vàng này. Em đứng từ ngoài quầy thu ngân ngó mắt nhìn vào là thấy ngay tắp lự, không ai phải với tay qua đầu ai, cũng không ai phải lớn tiếng hỏi xem hộp cơm này là của bàn nào hay của khách nào nữa.
Cô Hạnh đưa bàn tay thô ráp sờ nắn mặt bàn inox vừa được kê ngay ngắn, rồi nhìn sang gương mặt rạng rỡ, đầy sức sống của Hà và nét mặt thán phục của Duy. Bà thở phào ra một hơi dài nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được một tảng đá đè nặng trong lòng suốt cả buổi trưa, đưa tay vỗ vỗ mấy cái *bôm bốp* lên mặt kim loại:
— Công nhận... con bé Hà này nhìn việc sắc sảo và chu đáo thật đấy. Kê lại có một cái bàn mà trông cái bếp nó sáng sủa, thoáng đãng, ra dáng cái quán ăn hẳn hoi ra. Thế mà từ sáng đến giờ cứ hai già một trẻ hục hặc, cãi qua cọ lại cho nó mệt xác, tổn hao tâm trí!
***
Sau khi cả ba người đã hoàn toàn thống nhất với cách phân chia mặt bằng mới, họ cùng nhau bắt tay vào công đoạn dọn dẹp và làm vệ sinh sạch sẽ toàn bộ khu vực. Cô Hạnh dùng chiếc khăn lau tẩm nước tẩy rửa chuyên dụng lau sạch bong từng vết dầu mỡ bám trên mặt bàn inox, trong khi Duy nhanh nhẹn thu dọn chiếc bàn gấp, chuyển máy dập màng bọc thực phẩm và các khay đựng hộp xốp về đúng góc bàn mới đã được phân định rõ ràng.
Công việc sắp xếp hoàn tất vừa vặn trong vòng mười lăm phút ngắn ngủi. Cô Hạnh cởi bỏ chiếc nón lá, chào tạm biệt hai người rồi vội vã dắt chiếc xe máy cũ ra về để kịp giờ chuẩn bị bữa cơm trưa muộn cho người cha già đang nằm liệt giường ở nhà.
Gian bếp của quán ăn lúc này chỉ còn lại Hà và Duy.
Tiếng kim giây của chiếc đồng hồ treo tường bằng nhựa trên vách phát ra những tiếng *tích, tắc* đều đặn, kim dài đã chỉ vào con số mười một—tức là một giờ năm mươi lăm phút chiều. Duy vẫn còn đúng mười lăm phút nghỉ ngơi trước khi kết thúc ca làm việc buổi trưa của mình để chuẩn bị đạp xe sang trường trung cấp nghề theo học lớp kỹ thuật điện dân dụng buổi chiều.
Duy cầm một chiếc khăn vải khô cúi người lau lại những giọt nước còn đọng dưới chân bàn inox. Động tác của anh lúc này có phần chậm rãi, ngập ngừng hơn rất nhiều so với tác phong nhanh nhẹn, chuẩn xác như một chiếc đồng hồ thường ngày. Hà đang cặm cụi gom mấy mẩu bìa carton vụn và những đoạn màng bọc hỏng bỏ vào sọt rác dưới chân tường, chợt nghe thấy tiếng Duy cất lên phía sau lưng mình. Giọng anh trầm xuống, có chút ngập ngừng rất lạ:
— Cô Hà này.
Hà dừng tay, ngẩng đầu lên nhìn anh:
— Dạ? Có chuyện gì thế anh Duy?
Duy từ từ đứng thẳng người dậy. Hai bàn tay anh vẫn đang nắm chặt chiếc khăn lau bếp bằng vải thô, ánh mắt anh nhìn chăm chú xuống một vệt nước vừa khô vệt trên nền gạch tàu chứ không nhìn thẳng vào mắt Hà như mọi khi. Đó là một dáng vẻ lúng túng, bối rối vô cùng hiếm thấy ở một người thanh niên lúc nào cũng tỏ ra lạnh lùng, nguyên tắc và luôn chuẩn xác trong từng lời ăn tiếng nói như anh.
— Về chuyện... mấy ngày đầu tiên tôi mới nhận việc vào làm ở quán này ấy mà, — Duy hắng giọng một tiếng khẽ khàng trong cổ họng, dường như anh đang phải cố gắng lựa chọn và sắp xếp từng từ ngữ một cách vô cùng cẩn trọng trong đầu. — Tôi biết tính khí và giọng điệu của bản thân có phần cộc lốc, khô khan và quá mức cứng nhắc. Cách tôi liên tục đặt câu hỏi dồn dập về quy trình làm việc, về việc bắt buộc phải lưu lại các cuống phiếu hủy, rồi chuyện soát từng món ăn... có lẽ đã khiến cho cô cảm thấy rất khó chịu và nặng nề. Cảm giác giống như tôi đang đứng ở vị thế một người giám sát đến để thẩm vấn, hạch sách hay bắt bẻ năng lực chuyên môn của cô vậy.
Hà thoáng chút ngỡ ngàng. Đôi lông mày thanh tú của cô khẽ giướng lên. Cô hoàn toàn không ngờ một người có cá tính mạnh mẽ, khép kín và có phần tự kiêu về kiến thức bài bản như Duy lại chủ động mở lời nhắc lại chuyện cũ vào một buổi trưa yên ắng như thế này, ngay sau khi hai người vừa cùng nhau giải quyết xong bài toán chiếc bàn bếp.
Thấy Hà vẫn giữ im lặng, Duy hít một hơi thật sâu rồi nói tiếp, giọng điệu của anh trở nên chân thành và mộc mạc hơn bao giờ hết:
— Thực ra bản tính của tôi từ trước đến nay vốn dĩ đã như vậy rồi. Ở xưởng sửa chữa cơ khí và chỗ làm trước đây, tôi quen làm việc với các bản vẽ thiết kế, các thông số kỹ thuật chính xác và những quy chuẩn vận hành được định lượng rõ ràng. Nhưng một quán ăn gia đình bình dân như thế này lại có những đặc thù riêng biệt, những mối quan hệ tình cảm và cái nhịp điệu sinh hoạt truyền thống mà tôi chưa thể hiểu hết được. Tôi muốn gửi lời xin lỗi cô vì sự thiếu khéo léo, vụng về trong cách giao tiếp ban đầu của mình đã vô tình tạo ra những áp lực tâm lý không đáng có cho cô suốt những ngày qua.
Hà chăm chú nhìn người thanh niên đang đứng trước mặt mình. Ánh nắng chiều xiên qua khung cửa sổ nhỏ hắt những vệt sáng vàng nhạt lên vạt áo sơ mi màu tro của Duy, làm lộ rõ vài vệt bụi than đen nhẻm bám vào lớp vải thô trong lúc anh phụ cô khiêng chiếc bàn sắt.
Tất cả những cảm giác ấm ức, tủi thân, những nỗi tự ái ngấm ngầm từng trào dâng trong lòng cô vào cái buổi sáng đầu tiên khi anh liên tục chất vấn cô về chuyện nhớ đơn bằng miệng... bỗng chốc tan biến sạch trơn không còn một dấu vết, nhẹ bẫng đi như một làn khói mỏng vừa bay qua khung cửa sổ.
Hà khẽ lắc đầu, trên môi cô nở một nụ cười nhẹ nhõm, cởi mở và vô cùng thẳng thắn:
— Anh Duy đừng nói thế, không có gì đâu anh. Thực ra... chính bản thân em hôm nay cũng phải thành thật thú nhận với anh một điều này. Mấy ngày đầu anh mới đến quán, em sợ những câu hỏi vặn vẹo của anh đến mức có lần em làm nhầm đơn của khách, em đã cố tình giấu nhẹm đi, không dám ghi vào sổ. Lúc đó em chỉ sợ bị anh chỉ trích, sợ bị anh đánh giá rằng em làm việc tùy tiện, cẩu thả và thiếu bài bản.
Duy ngước mắt lên nhìn cô, trong ánh mắt anh thoáng hiện lên một tia ngạc nhiên tò mò:
— Cô đã từng giấu lỗi sai của đơn hàng sao?
— Vâng, đúng thế đấy anh, — Hà bật cười tự trào, hai gò má cô hơi ửng hồng lên vì chút ngượng ngùng thật thà. — Tính em từ trước đến giờ vốn quen thói cả nể, sợ làm phật lòng người khác, lại sợ bị người ta đánh giá mình dở dở ương ương không làm nên trò trống gì. Cứ mỗi lần trong quán có chuyện gì trục trặc, nhầm lẫn là em lại vội vàng nhận hết lỗi về phần mình, rồi tự móc tiền túi ra đền bù cho khách cho êm chuyện, cốt sao để không ai trong quán phải to tiếng hay mất lòng nhau. Nhưng rồi từ hôm xảy ra vụ đơn hàng của chị Thảo bên công ty may, rồi đến việc anh kiên quyết lập cái bảng theo dõi công việc dán trên cây cột kia, và nhất là vụ người khách đập bàn quát tháo trưa nay... em mới thực sự vỡ lẽ ra nhiều điều. Giấu giếm sai sót không bao giờ làm cho quán ăn tốt lên được, nó chỉ làm cho cái sai lầm ấy lún sâu hơn và tích tụ thành những hậu quả lớn hơn mà thôi. Cách anh hỏi rõ ràng, rành mạch từng chi tiết lúc đầu tuy có làm em hơi chói tai và tự ái thật, nhưng ngẫm lại thì anh hoàn toàn đúng. Nhờ có sự kiên quyết của anh chặn lại, em mới nhìn rõ cái thói quen làm việc dựa dẫm hoàn toàn vào trí nhớ tạm bợ của mình nó tai hại và nguy hiểm đến mức nào.
Duy im lặng nhìn Hà thật kỹ.
Ánh mắt anh lúc này không còn là ánh mắt dò xét, phân tích nghiệp vụ khô khốc của một người kỹ thuật viên đang đi tìm lỗi hỏng trong một cỗ máy, mà thay vào đó là một sự tôn trọng thực sự—thứ tôn trọng chân thành dành cho một người đồng nghiệp dám dũng cảm nhìn thẳng vào những khuyết điểm, giới hạn của bản thân mình để cùng nhau sửa đổi.
— Việc dũng cảm thừa nhận sai sót của bản thân chưa bao giờ là một điều dễ dàng đối với bất kỳ ai, — Duy nói chậm rãi, từng lời từng chữ như được chắt lọc từ chính những trải nghiệm của bản thân anh. — Ngay cả bản thân tôi cũng vậy thôi. Sáng nay tôi cứ đinh ninh rằng việc mình dời chiếc bàn đóng gói sang góc cửa sổ là một giải pháp cực kỳ thông minh, là tối ưu hóa quy trình. Nhưng hóa ra tôi chỉ đang tối ưu cho cái góc nhỏ hẹp của riêng bản thân mình mà vô tình phá hỏng toàn bộ dòng chảy công việc của cô Hạnh. Nếu trưa nay cô không tinh ý chỉ ra và kiên quyết kéo cả ba người ngồi lại đo đạc mặt bằng, có lẽ tôi vẫn sẽ tiếp tục nghĩ rằng mình là người luôn luôn đúng, còn cô Hạnh chỉ là một người già khó tính, vô lý.
— Cả hai chúng ta đều đang phải học hỏi mỗi ngày mà anh, — Hà nói, cô cảm thấy lồng ngực mình bỗng trở nên nhẹ nhõm và thanh thản đến kỳ lạ.
Một bức tường ngăn cách vô hình bấy lâu nay tồn tại giữa hai con người—giữa một cô gái trẻ có thói quen nhẫn nhịn, cam chịu để dĩ hòa vi quý và một chàng trai cứng nhắc, lạnh lùng luôn bám chặt vào các nguyên tắc khô khan—dường như vừa sụp đổ một mảng lớn trong buổi trưa hôm nay. Thay vào đó, một sự thấu hiểu, tôn trọng và tin cậy mộc mạc của những người cộng sự thực thụ đang dần dần bén rễ giữa hai người bọn họ.
***
— À, suýt nữa thì quên mất chiếc bàn này, — Hà chợt sực nhớ ra một chuyện, cô đưa tay chỉ về phía góc cuối cùng của gian phòng ăn bên ngoài. — Chiếc bàn số bảy.
Duy nhìn theo hướng ngón tay cô chỉ. Chiếc bàn gỗ bốn chỗ ngồi nằm nép mình bên cạnh khung cửa sổ lớn nhìn ra khoảng sân nhỏ rợp bóng mát, nơi có một chậu cây húng quế xanh mướt đang tỏa hương thơm ngai ngái trong nắng chiều. Đó là chiếc bàn vô cùng quen thuộc—nơi trưa nay cả quán vừa ngồi lại cùng nhau để thống nhất quy trình ba bước giải quyết khiếu nại của khách hàng, và cũng chính là nơi từng chứng kiến cuộc đối chất căng thẳng đến nghẹt thở giữa Hà, Khải và chị Thảo cách đây mấy hôm.
— Sao thế cô Hà? Bàn số bảy lại gặp trục trặc gì à? — Duy hỏi, chân mày khẽ nhướn lên.
— Cái chân bàn phía sau của nó hình như lại bị khập khiễng nữa rồi thì phải, — Hà bước nhanh lại gần chiếc bàn, đưa một bàn tay ấn nhẹ lên mặt gỗ thông màu cánh gián. Chiếc bàn lập tức chao đảo nhẹ, phát ra những tiếng kêu *cục cịch, cục cịch* quen thuộc trên nền gạch hoa. — Khách ngồi ăn cơm hễ cứ tỳ mạnh cùi chỏ lên mép bàn là bát canh bên trên lại sóng sánh nước ra ngoài. Miếng nhựa cứng màu cam anh chêm tạm hôm trước hình như bị mòn vẹt hoặc trượt hẳn ra ngoài rồi.
Duy lập tức bước tới, đặt chiếc ba lô đen lên một chiếc ghế đẩu gần đó. Anh ngồi thụp một bên đầu gối xuống nền nhà, lật nhẹ mép khăn trải bàn bằng nhựa hoa văn lên để kiểm tra kỹ lưỡng phần kết cấu của bốn chiếc chân sắt sơn tĩnh điện màu đen:
— Miếng đệm cao su nguyên bản ở chân sau bên trái này đã bị lão hóa và vỡ nát từ lâu rồi. Bữa trước tôi có nhặt tạm một mảnh nhựa cứng màu cam chêm vào dưới đáy, nhưng vì góc tiếp xúc giữa chân sắt và mặt gạch bị nghiêng một góc nhỏ nên lực tỳ của khách ngồi ăn đã đẩy miếng nhựa trượt dần ra ngoài.
— Hay là để em chạy ra ngoài sân sau tìm tạm một mẩu bìa carton dày rồi gấp lại làm tư để chêm vào nhé? — Hà đề xuất theo đúng thói quen chắp vá, tạm bợ vốn đã ăn sâu vào nếp sinh hoạt của quán cơm từ nhiều năm qua.
— Tuyệt đối đừng bao giờ dùng bìa carton để kê chân bàn, — Duy lắc đầu ngay lập tức, giọng anh lại trở về với vẻ quả quyết, dứt khoát đầy tính chuyên môn kỹ thuật. — Bìa carton bản chất là bột giấy ép, hằng ngày nhân viên lau sàn xả nước ẩm ướt vào, chỉ cần ngấm nước vài ba hôm là lớp giấy sẽ mủn nát, rữa ra như bùn. Chiếc bàn sẽ lập tức bập bênh trở lại như cũ, vừa mất vệ sinh vì ẩm mốc tích tụ vi khuẩn, lại vừa không thể nào chịu lực lâu bền được. Đợi tôi đúng một phút thôi.
Nói rồi, Duy với tay kéo khóa ngăn phụ của chiếc ba lô đen. Anh lục lọi bên trong một lát rồi lôi ra một chiếc hộp nhựa nhỏ trong suốt đựng đầy các loại ốc vít, bu-lông và phụ tùng cơ khí lặt vặt. Từ trong đáy hộp, anh cẩn thận rút ra một miếng đệm cao su tổng hợp màu đen tuyền, dày chừng một phân rẽ, bề mặt có đúc nổi các đường rãnh chống trượt hình mắt lưới đan chéo nhau rất tinh xảo. Cùng lúc đó, anh rút thêm một con dao rọc giấy cán thép nhỏ từ túi dắt bút.
— Anh đi làm mà lúc nào cũng mang theo sẵn cả những thứ này trong người à? — Hà ngạc nhiên thốt lên, cô cũng ngồi xổm xuống bên cạnh anh để quan sát.
— Tôi đang theo học lớp trung cấp sửa chữa điện và cơ khí dân dụng, mấy miếng đệm cao su giảm chấn chống rung này lúc nào cũng phải có sẵn vài miếng trong túi đồ nghề thực hành, — Duy giải thích, khóe mắt anh khẽ cong lên một nét cười hài hước kín đáo và hiếm hoi. — Thực ra việc kê chân một chiếc bàn ăn thì nguyên lý cơ học của nó cũng chẳng khác gì việc cân chỉnh chân đế của một chiếc máy bơm nước hay một cái máy giặt cả. Vật liệu đệm bắt buộc phải có độ dày chuẩn xác, có tính đàn hồi cao để triệt tiêu dao động, và quan trọng nhất là phải chịu được tải trọng ép thẳng đứng liên tục thì kết cấu nó mới có thể đứng vững chãi, lâu dài được.
Duy vừa nói vừa thoăn thoắt đưa lưỡi dao rọc giấy sắc lẹm gọt bớt một góc cạnh của miếng đệm cao su màu đen sao cho kích thước của nó vừa khít tuyệt đối với tiết diện hình tròn của ống sắt chân bàn. Bàn tay anh to bản, các ngón tay thon dài, cứng cáp nhưng khi thao tác cắt gọt lại vô cùng khéo léo, dứt khoát và chuẩn xác đến từng mi-li-mét.
— Nào, cô Hà giúp tôi dùng hai tay nâng nhẹ góc bàn này lên khỏi mặt đất khoảng hai phân nhé.
Hà vội vã đưa hai tay bám chặt vào mép bàn gỗ, dùng sức nâng nhẹ góc chân sắt phía sau lên. Duy nhanh nhẹn luồn miếng đệm cao su đã được cắt gọt cẩn thận vào bên dưới, căn chỉnh cho chiếc chân sắt cắm phập vào đúng phần rãnh mắt lưới chống trượt.
— Được rồi đấy, cô Hà hạ tay xuống từ từ xem sao.
Hà từ từ hạ mép bàn gỗ xuống. Chiếc chân sắt đen cắm sâu, khít khao vào lớp cao su đàn hồi mới toanh, không hề có một kẽ hở nào.
Hà đứng thẳng dậy. Cô đặt cả hai lòng bàn tay lên mặt bàn gỗ, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể tỳ mạnh xuống bốn góc bàn, rồi lắc mạnh sang hai bên nhiều lần để kiểm tra độ cân bằng.
Mặt bàn gỗ thông phẳng lặng như tờ, vững chãi như một tảng đá tảng ngàn năm, hoàn toàn không còn một tiếng kêu *cục cịch* lách cách nào, cũng không còn một chút bập bênh hay rung lắc dù chỉ là nửa mi-li-mét.
— Vững thật rồi này anh Duy ơi! — Hà reo lên khe khẽ, trong đáy mắt cô ánh lên một niềm vui sướng và thán phục trẻ thơ. — Không còn lắc lư hay nghiêng ngả một ly nào nữa luôn! Cứng cáp như đúc liền vào sàn nhà vậy!
Duy cũng chậm rãi đứng dậy, đưa tay phủi nhẹ lớp bụi gạch bám ở đầu gối chiếc quần tây xám. Anh đứng khoanh tay, ngắm nhìn chiếc bàn số bảy giờ đây đã đứng thẳng thớm, ngay ngắn và cân bằng tuyệt đối trên bốn chiếc chân vững chãi của nó dưới ánh nắng ban chiều.
— Chiếc bàn ăn này... suy cho cùng nó cũng giống hệt như một con người vậy thôi, — Duy nhìn chăm chú vào mặt bàn gỗ, buông ra một câu nhận xét với giọng điệu tỉnh queo, khô khan đặc trưng nhưng lại chứa đựng một tầng ẩn ý sâu xa. — Muốn người khác khi ngồi vào bàn mà cảm thấy yên tâm, thấy vững chãi để có thể ăn một bữa cơm ngon miệng hay nói chuyện cho đàng hoàng, tử tế, thì trước hết bản thân cái bàn đó cần phải tự tìm cho mình một chỗ đứng thật chắc chắn trên mặt đất, chứ không thể cứ nghiêng ngả, chao đảo theo từng cơn gió hay từng cái tỳ tay của người ngoài được.
Hà sững sờ nhìn Duy, rồi lại đưa mắt nhìn xuống chiếc bàn số bảy đang tắm mình trong dải nắng vàng ấm áp bên khung cửa sổ ngập tràn hương húng quế.
Câu nói tưởng chừng như khô khốc, đậm chất kỹ thuật của người thợ cơ khí ấy bỗng nhiên chạm thẳng vào một góc sâu kín, run rẩy nhất trong tâm hồn cô.
Đúng vậy. Chiếc bàn ăn muốn nâng đỡ được bát cơm, chén canh nóng thì bản thân nó phải có một chỗ đứng vững vàng, không khập khiễng. Căn bếp muốn nấu ra được những bữa ăn an toàn, ngon lành thì dòng chảy không gian bên trong nó phải thông suốt, mạch lạc, không bị chồng chéo, cản trở. Và chính bản thân cô—Lê Thu Hà—suốt bao nhiêu năm tháng sống trong sự cam chịu, nhẫn nhịn và sợ hãi mất lòng người khác, cũng đang từng bước, từng ngày học cách tìm lại một chỗ đứng ngay ngắn, đàng hoàng cho chính bản thân mình: một chỗ đứng có ranh giới rõ ràng, có sự tôn trọng đúng mực từ người khác, chứ không phải là một chỗ đứng tạm bợ bằng cách cứ phải cúi mình nhẫn nhục, tự bẻ cong bản thân để làm vừa lòng tất cả mọi người xung quanh.
Duy bất giác liếc nhìn mặt chiếc đồng hồ đeo tay, anh giật mình thốt lên:
— Thôi chết rồi, hai giờ mười lăm phút rồi! Tôi phải lấy xe chạy vội sang trường nghề cho kịp giờ điểm danh đầu giờ chiều đây.
— Dạ, anh đi học cẩn thận nhé! — Hà cười tươi, bước chân thoăn thoắt đi theo anh ra tận bậc thềm trước cửa quán. — Cảm ơn anh Duy rất nhiều vì đã kê lại gian bếp... và cả miếng cao su đệm chân bàn này nữa nhé.
Duy khẽ gật đầu chào cô một cái thay cho lời đáp. Anh sải bước nhanh nhẹn ra chiếc xe máy số đã cũ mòn dựng bên gốc cây bàng trước hiên. Tiếng động cơ xe nổ giòn giã vang lên một hồi rồi hòa nhanh vào dòng xe cộ tấp nập, hối hả đang ngược xuôi trên trục đường Vườn Me rợp bóng cây xanh.
Hà đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ, lặng lẽ dõi mắt nhìn theo bóng lưng thẳng tắp, cương nghị của người thanh niên cho đến khi chiếc xe khuất hẳn sau khúc quanh ngã ba đầu phố. Một cảm giác ấm áp, bình yên và tràn đầy niềm tin tưởng vào tương lai bỗng dâng lên ngập tràn trong lồng ngực cô gái trẻ.
***
Quán cơm gia đình lại một lần nữa trở về với nhịp điệu tĩnh lặng, êm đềm cố hữu của một buổi chiều tà muộn.
Bà Lan, sau khi uống xong liều thuốc giảm đau và chống viêm cho khớp gối theo đúng đơn thuốc của trạm xá, đã ngủ say sưa trong căn phòng nhỏ ngăn bằng vách ván ép ở góc nhà sau. Tiếng thở đều đặn của người phụ nữ lớn tuổi hòa cùng tiếng quạt trần quay lờ đờ tạo nên một không gian yên bình đến lạ kỳ.
Hà thong thả quay trở lại phía quầy thu ngân. Cô rút chiếc khăn bông ẩm sạch sẽ từ trên giá, cẩn thận lau lại từng góc cạnh trên mặt kính của chiếc tủ trưng bày thức ăn chín, rồi lấy phấn trắng nắn nót viết lại các món ăn sẽ được phục vụ cho ca bán hàng chiều muộn lên tấm bảng đen nhỏ treo trước cửa.
Chợt, tiếng dép lê lẹt xẹt quen thuộc trên nền xi măng vỉa hè vang lên đều đặn từ ngoài ngõ nhỏ dẫn vào.
Hà dừng tay phấn, ngẩng đầu nhìn ra cửa.
Một bóng người đàn ông gầy gò, lưng hơi còng xuống trong chiếc áo sơ mi cộc tay màu cháo lòng đã bạc phếch vì dính đầy những vệt dầu luyn đen nhánh đang chậm rãi bước từng bước nặng nề vào trong quán. Đó chính là ông Bình—người thợ vá xe đạp, sửa xe máy quen thuộc bao nhiêu năm nay ở ngay góc ngã ba đầu hẻm.
Nhưng hoàn toàn khác hẳn với vẻ xởi lởi, hay cười đùa hào sảng và thích trêu chọc mọi người mỗi khi ghé quán ăn cơm như mọi ngày, chiều nay ông Bình bước đi có phần uể oải, rệu rã. Một bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của ông đang áp chặt lấy bên má trái sưng vù, bước chân ngập ngừng, gương mặt buồn thiu khi đưa đôi mắt mệt mỏi nhìn vào tấm bảng thực đơn hôm nay.