Hẹn Nhau Ở Bàn Số BảyCh.22 / 26
Chapter 22

Những cái tên dưới từng đầu việc

Tiếng bút bi bấm tách tách đều đặn trên mặt bàn số bảy khi Hà đặt hai bản thỏa thuận công việc bằng giấy trắng mực đen trước mặt cô Hạnh.

Buổi sáng mười lăm phút trước giờ mở hàng, quán cơm đường Vườn Me chưa đón đợt khách nào. Gian nhà hẹp và sâu chỉ thoảng mùi nước lau sàn hương sả vừa ráo trên nền gạch tàu loang lổ, quyện cùng mùi khói dầu ngai ngái từ mẻ sườn ram đầu tiên vừa bắt lửa trong bếp. Gió sớm từ con hẻm lùa qua khung cửa kéo bằng sắt, cuốn theo chút bụi khô của mặt đường nhựa chưa kịp lên hơi nóng. Mặt bàn gỗ ép quen thuộc nơi góc tường—chỗ chân bàn phía sau từng khập khiễng suốt mấy tháng trời khiến bao tô canh nghiêng đổ—vừa được Duy chêm lại bằng mẩu đệm cao su giảm chấn chắc nịch từ tuần trước. Giờ đây, khi Hà tì hai cùi chỏ xuống, mặt gỗ phẳng lì, vững chãi, không còn một độ vênh nhỏ nào dưới tay cô.

Cô Hạnh kéo cặp kính lão gọng nhựa màu đồi mồi xuống lưng chừng sống mũi. Đôi mắt kèm nhèm vì hàng chục năm chịu khói than và hơi ớt cay nheo lại. Ngón tay trỏ thô ráp, nứt nẻ và vàng ố vệt nghệ tươi—hậu quả của cả một đời ngâm nước rửa chén và băm chặt xương thịt—cẩn thận rà theo từng dòng mực in thẳng thớm trên mặt giấy A4 dày dặn. Tờ giấy phẳng phiu, thơm mùi mực photocopy mới lấy ngoài tiệm đầu ngõ về tối qua.

Hà ngồi đối diện, hai bàn tay đan lỏng vào nhau đặt ngay ngắn trên đùi. Cô không vội vã giục giã, không sốt ruột chêm lời như cái thói quen cũ mỗi khi sợ trễ giờ nhóm bếp. Cô ngồi im, lắng nghe tiếng quạt trần quay ro ro trên đỉnh đầu và tiếng xe rác đẩy cọt kẹt ngoài hẻm. Hà hiểu rất rõ rằng, sự sòng phẳng lúc này không phải là lạnh nhạt hay tính toán từng cắc, mà là tấm lưới an toàn duy nhất để giữ chân người làm, bảo vệ nhân phẩm của mẹ và duy trì sự tồn tại của quán cơm nhỏ này trước bờ vực đổ vỡ.

— Cô xem kỹ từng mục một giùm cháu, — Hà cất lời, giọng trầm, rành rọt và chậm rãi. — Cái gì trong sức mình thấy chưa kham nổi, hoặc câu chữ nào chưa hợp lý với nếp làm việc của cô, thì mình sửa liền trên giấy bữa nay. Đừng nể nang mà để bụng, rồi mai mốt vừa nấu vừa cắn răng chịu ấm ức là hỏng việc hết.

Cô Hạnh dừng ngón tay lại ở điều khoản thứ hai, nơi có dòng chữ in đậm rõ ràng. Bà gật gù, chiếc kính lão hơi trượt thêm một nấc:

— Lương bếp chính sáu triệu rưỡi một tháng. Tiền này cô thấy xứng với cái đầu và cái lưng của cô, không chê vô đâu được. Quán nhỏ trong hẻm mà trả được mức này, lại có bao ăn bữa trưa đàng hoàng là cô mừng rớt nước mắt rồi. Nhưng cái giờ làm việc... đúng rắp từ bảy giờ sáng tới mười bốn giờ ba mươi phải không Hà?

— Dạ đúng. Bảy giờ cô có mặt để nhận hàng chợ do anh Khải chở về, kiểm tra độ tươi của thực phẩm rồi bắt đầu nổi lửa cho ba món mặn chính. Bán hết hay còn thì đúng mười bốn giờ ba mươi cô tắt bếp, cởi tạp dề giao lại sàn cho cháu với thằng Duy. Ngày thứ Hai quán đóng cửa nghỉ trọn vẹn, cô được nghỉ nguyên ngày đó để lo việc nhà. Với lại, mục bốn phía dưới có ghi rất rõ: trong hai tiếng cao điểm trưa, từ mười một giờ đến mười ba giờ, quán bố trí người phụ rửa chén theo giờ và phụ bưng bê khay cơm, cô tuyệt đối không phải đụng tay vô thau chén dơ ngoài sân sau.

Cô Hạnh thở hắt ra một hơi dài. Bờ vai hơi so lại vì chứng thoái hóa khớp bỗng chùng xuống đầy nhẹ nhõm. Ánh mắt người đàn bà trung niên thoáng chút rung động khi nhìn chằm chằm vào dòng chữ cam kết giờ giấc được đóng khung vuông vức. Bà đưa tay sửa lại gọng kính, giọng hơi chùng:

— Mười bốn giờ ba mươi bước chân ra khỏi quán là cô kịp đón chuyến xe buýt số hai mươi sáu, chạy tót về Bình Thạnh thay tã với đút cháo cho ba cô cữ xế. Mấy bận trước làm bên quán cũ ngoài ngã tư, cứ trễ một tiếng là ông cụ ở nhà lần mò rồi té lên té xuống, cô đứng bên chảo mỡ đang sôi mà ruột gan nhảy đổng lên như có gai cào, chỉ sợ người ta gọi điện báo tin dữ. Giờ có người phụ hai tiếng trưa nữa thì cái lưng này mới sống thọ được vài năm, chứ mấy tháng trước cô tưởng đâu mình liệt luôn rồi.

— Việc ai nấy nhận, chịu trách nhiệm tới cùng, — Hà mỉm cười nhẹ, đẩy cây bút bi nắp xanh về phía cô Hạnh. — Cháu không muốn cô làm ở đây vì nể tình mẹ cháu hay thương cháu côi cút. Quán trả lương đúng công sức bỏ ra, cô nấu đúng định lượng và giữ đúng giờ giấc đã giao kết. Nếu tháng nào quán lố giờ của cô vì sự cố đột xuất ngoài ý muốn, cháu tính tiền phụ trội năm mươi ngàn một tiếng, ghi thẳng vào sổ cái thu chi hằng ngày, cuối tháng cộng dồn phát kèm tiền lương.

Cô Hạnh cầm bút. Bàn tay chai sần hơi run nhẹ một thoáng rồi ấn mạnh ngòi bút, ký cái rột xuống góc dưới của cả hai bản in. Chữ ký ngay ngắn, tròn trịa của một người từng đi học đàng hoàng hiện lên bên cạnh tên Trần Thị Hạnh viết hoa ngay ngắn. Hà giữ lại một bản kẹp vào tập bìa còng thu ngân đặt trên quầy, bản còn lại trao tận tay để cô cất cẩn thận vào ngăn kéo túi xách cá nhân.

Cánh cửa buồng phía trong khẽ cọt kẹt mở ra. Tiếng then gỗ cọ vào chốt nghe khô khốc trong gian nhà tĩnh mịch.

Bà Lan bước ra. Một bên đầu gối phải của bà vẫn còn bó chặt trong chiếc nẹp thun y tế màu xám tro, từng dải băng dán xé ôm sát lấy phần khớp sưng tròn. Dáng bà đi hơi khập khiễng, bàn tay bám vịn vào gờ tường gạch quét vôi bong tróc, từng bước chân đặt xuống nền nhà đều cẩn trọng và dè dặt. Dẫu vậy, nét mặt bà đã bớt đi vẻ nhăn nhó u ám, xám xịt của những ngày tràn dịch cấp tính phải nằm liệt giường tiêm thuốc giảm đau. Trên tay bà là một cuốn sổ tay nhỏ cỡ bàn tay, bìa bọc da nâu đã sờn rách bốn góc, mép giấy quăn queo và ngả sang màu vàng ố vì hơi dầu mỡ và khói bếp tích tụ suốt hơn một thập kỷ qua.

Bà bước chầm chậm lại mép bàn số bảy. Ánh mắt bà lướt qua hai bản hợp đồng vừa ký xong xuôi, nhìn vệt mực xanh còn chưa kịp khô hẳn, rồi lặng lẽ kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống cạnh cô Hạnh. Không khí trong quán chùng xuống một nhịp. Tiếng quạt trần bỗng như to hơn. Hà nhìn mẹ, lồng ngực khẽ thắt lại bởi một thoáng lo âu ngấm ngầm; cô sợ rằng cơn tiếc nuối quyền lực bếp núc quen thuộc—thứ quyền lực mà mẹ cô đã nắm giữ suốt nửa đời người đàn bà—có thể khiến bà đổi ý, buông ra một lời phản đối cay nghiệt vào phút chót.

Nhưng bà Lan chỉ đặt cuốn sổ da nâu xuống mặt bàn. Bằng lòng bàn tay nhăn nheo đầy những vết sẹo bỏng mỡ cũ kỹ li ti như hạt kê, bà vuốt phẳng mép bìa đã cong queo:

— Hạnh này, — bà Lan mở lời. Giọng bà khàn đặc vì chứng viêm họng hạt kinh niên của dân đứng bếp lửa than, nhưng âm lượng lại trầm và ấm một cách lạ thường. — Tao đứng cái bếp này từ hồi con Hà còn học lớp năm, thằng Khải còn đạp chiếc xe sườn ngang cọc cạch đi giao từng cặp lồng cơm men xanh cho mấy xưởng may. Công thức hai món sườn ram mặn với cá hú kho tộ của cái quán này, hồi trước tao nêm theo chừng, theo mắt, theo cái mũi ngửi mùi khói bốc lên từ vỉ sắt. Mấy bận tao kèm mày đứng bếp, tao cứ quen tật cũ, thấy mày nêm là tao sốt ruột đổ thêm vá nước mắm hay dằn thêm muỗng đường làm mày bực dọc. Tao biết mày tự ái. Chuyện đó... tao sai.

Cô Hạnh giật mình, hai vai hơi co lại, bàn tay xua vội trong không khí:

— Chị Lan, chuyện cũ mình bỏ qua đi chị. Bữa đó tại em cũng nóng tánh, trời trưa hầm hập rồi cự cãi bậy bạ...

— Không, sai là sai, có tuổi rồi chứ đâu phải con nít mà chối quanh, — bà Lan dứt khoát lắc đầu, ngón tay đẩy cuốn sổ sang sát mép tay cô Hạnh. — Trong cuốn sổ này, mấy tuần nằm trên giường nhức chân không ngủ được, tao đã nhờ con Hà ngồi bên cạnh ghi chép lại rành mạch từng lạng thịt ba rọi, từng muỗng canh nước mắm nhỉ loại bốn mươi độ đạm, bao nhiêu gram đường thốt nốt, với cả cữ lửa liu riu mấy phút thì thịt mới rút cạn nước mà lên màu cánh gián tự nhiên. Tao giao đứt cuốn sổ này cho mày. Từ hôm nay, mày là bếp chính. Nêm mặn nêm lạt, lửa to lửa nhỏ trong giờ nấu là quyền của mày định đoạt, tao tuyệt đối không thò tay vô chảo nữa.

Bà Lan dừng lại một nhịp dài, tựa lưng vào thành ghế gỗ, ánh mắt mệt mỏi nhưng thanh thản hướng ra vạt nắng sớm đang rọi xiên qua ngọn cây me ngoài hiên:

— Bác sĩ ở bệnh viện chấn thương chỉnh hình nói rồi, cái sụn khớp của tao mòn gần sát xương, dịch tràn lênh láng, đứng ráng thêm vài tháng nữa là chỉ có nước mổ thay khớp nhân tạo tốn mấy chục triệu bạc mà chưa chắc đi lại được như xưa. Tao biết phận tao rồi, tao lùi lại. Bữa nào khỏe khoắn, trời không trở lạnh, chân không nhức buốt thì tao ra trước quán ngồi lặt mớ ớt hiểm, tỉa mấy cọng hành hoa cho đẹp mắt, hoặc nếm giùm mày một muỗng nước kho sau khi mày đã tắt bếp ngoài giờ bán. Khách quen như ông Bình hay mấy chú thợ hồ ghé ăn, tao ra bàn số bảy này ngồi uống ly trà đá, nói vài ba câu chuyện xóm làng cho vui cửa vui nhà. Còn việc đứng bếp nấu nướng, tao trao trọn cho mày đó, Hạnh.

Cô Hạnh run run cầm cuốn sổ lên. Những trang giấy chép tay bằng mực tím nắn nót của Hà hiện ra, bên cạnh là những dòng chú thích nguệch ngoạc bằng bút bi đỏ của bà Lan ghi chú về độ dày của lát cá hay cách chọn cọng hành lá gốc to. Bàn tay người phụ bếp siết chặt mép bìa da sờn rách, một cái gật đầu chậm rãi nhưng chứa đựng sự cam kết chuyên nghiệp giữa hai người đàn bà đã nếm đủ cay đắng của nghề làm dâu trăm họ:

— Chị đã tin em tới mức này thì em giữ đúng cái vị mặn ngọt đậm đà xưa giờ của chị, không làm hư danh tiếng quán Cơm Nhà Bà Lan đâu. Chị cứ yên tâm ngồi ngoài mát mà dưỡng cái chân, đừng lo nghĩ lung tung nữa.

Đúng lúc đó, tiếng xích xe máy lạch cạch khô khốc vang lên từ đầu hẻm, kèm theo tiếng chân chống sắt quẹt mạnh xuống nền xi măng trước hiên nhà.

Khải bước vào quán. Hai tay anh xách hai giỏ nhựa lớn màu đỏ trĩu nặng rau củ tươi rói, chiếc áo sơ mi bộ đội bạc màu ướt đầm mồ hôi loang lổ sau lưng. Ngay sau gót anh, Duy cũng vừa dắt chiếc xe Dream cũ vào bãi đất trống bên hông quán. Duy mặc chiếc áo thun xám giản dị, vai đeo ba lô đựng sách vở kỹ thuật điện, tay cầm theo tập bìa kẹp hồ sơ màu xanh dương và một bọc nylon đựng xấp giấy in nhiệt dự phòng cho máy tính tiền.

Hà đứng dậy khỏi bàn số bảy, vỗ hai lòng bàn tay vào nhau giòn tan để thu hút sự chú ý của mọi người. Chiếc đồng hồ treo tường hiệu Kim Long cũ kỹ điểm đúng tám giờ mười lăm.

— Mọi người ngồi lại bàn số bảy năm phút đi. Mình chốt ranh giới công việc hôm nay luôn để lát nữa mười giờ mở cửa là chạy theo guồng, không ai giẫm chân lên việc của ai nữa.

Khải đặt hai giỏ rau nặng trịch xuống chân cột bê tông giữa nhà, đưa ống tay áo quẹt vội mồ hôi trán, kéo chiếc ghế đẩu nhựa ngồi xuống mé mép bàn:

— Chợ Vườn Me sáng nay tao lấy đủ năm ký sườn non với ba ký cá hú tươi bên sạp cô Vân rồi đó. Rau muống với cải ngọt tao đứng lựa từng bó, kiểm từng gốc, không dập một cọng nào. Cứ theo đúng danh mục thay thế hôm trước mày đưa mà làm, tao không mua bắp cải hay đồ xả kho cuối buổi nữa đâu mà mày nhìn tao chằm chằm như canh trộm vậy.

— Tốt, — Hà nhìn anh trai, ánh mắt bình thản nhưng nghiêm cẩn lạ thường. — Phần việc của anh Khải chia làm hai mảng cố định ngoài đường, ghi rõ trên giấy tờ: sáng sớm đi chợ theo đúng danh sách định lượng dán ở cửa tủ mát, chở về quán trước bảy giờ ba mươi để cô Hạnh kịp sơ chế; trưa từ mười một giờ đến mười ba giờ ba mươi, anh chạy giao các đơn cố định theo tuyến đường Vườn Me, tuyệt đối không nhận thêm đơn lẻ dọc đường, không nhận hẹn giờ miệng với bất kỳ ai quen biết. Bất kể ai gọi riêng cho anh, anh chỉ trả lời một câu duy nhất: gọi về số máy bàn của quán gặp con Hà. Anh đồng ý không?

Khải nhếch mép, hơi bực bội vì cảm thấy mình là anh lớn mà bị đứa em gái gò vào khuôn khổ hành chính, nhưng nghĩ lại vụ đền ba trăm sáu mươi ngàn tiền cơm hộp bị trễ cho bên công ty cô Thảo đợt trước—tiền trừ thẳng vào túi anh không thương tiếc—Khải nuốt khan một cái rồi gật đầu cái rụi:

— Rồi, hiểu rồi. Tao chỉ biết chạy xe với giao đồ, thu tiền mặt đem về nộp đủ cho mày kiểm, không hứa hẹn bậy bạ ngoài đường nữa. Mệt quá.

Hà quay sang Duy. Chàng trai trẻ ngồi thẳng lưng, ánh mắt điềm tĩnh và chiếc bút bi mực đen gài sẵn ở mép túi áo trước ngực:

— Duy phụ trách toàn bộ góc đóng gói bên ngoài quầy ngăn inox và phục vụ bàn. Trước mười một giờ, Duy kiểm tra toàn bộ hộp cơm, canh và đũa muỗng cho các đơn đặt trước dưới trần hai mươi tư suất cố định. Từ mười một giờ đến mười ba giờ, Duy vừa chạy bàn vừa tiếp ứng khâu phụ rửa chén và bưng khay đồ ăn cho cô Hạnh theo đúng thỏa thuận ban nãy. Mười bốn giờ, Duy cùng anh Khải lau dọn toàn bộ bàn ghế, quét sàn và đóng cửa cuốn. Mười bốn giờ ba mươi Duy có thể tan ca để chuẩn bị đi học lớp điện bên trường nghề.

— Tôi xác nhận, — Duy đáp ngắn gọn, ngón tay gõ nhẹ lên tập hồ sơ. — Khu vực bàn đóng gói dán băng dính vàng hai mươi phân sẽ chỉ để các phiếu in nhiệt đã kiểm đếm xong xuôi. Tôi không nhận can thiệp vào sổ sách tiền mặt hay thối tiền cho khách, việc đó thuộc quyền thu ngân.

— Còn phần cháu, — Hà nhìn quanh một lượt, hít sâu một hơi để giữ cho lồng ngực mình thật phẳng lặng. — Cháu giữ quầy thu ngân, trực điện thoại chốt đơn theo trần quy định, điều phối thứ tự phiếu in nhiệt và quản lý toàn bộ thu chi sổ sách. Không ai trong quán được tự ý mở ngăn kéo két ra thối tiền riêng hay ứng trước khi chưa có chữ ký vào sổ quỹ. Việc của ai người nấy làm cho trọn vẹn, không ai làm giùm phần người khác rồi ôm bực bội trong lòng sinh ra lục đục.

Nói đoạn, Hà rút chiếc điện thoại thông minh từ túi tạp dề ra, đặt ngay ngắn trên mặt bàn gỗ. Màn hình sáng lên giao diện ứng dụng nhắn tin Zalo.

— Còn một chuyện cực kỳ quan trọng, — Hà gằn giọng, ánh mắt chuyển từ Khải sang mẹ rồi dừng lại ở Duy. — Mấy tháng qua, quán mình loạn cào cào lên là vì tin nhắn việc quán với việc nhà cứ trộn chung một đống. Tin dặn mua thuốc khớp cho mẹ nằm chen giữa tin báo thiếu mắm, tin báo khách đổi món trôi tuột dưới lời cằn nhằn chuyện tiền trọ tháng này. Từ sáng nay, cháu xóa nhóm chat chung cũ. Cháu lập ra đúng hai nhóm riêng biệt trên máy.

Cô giơ màn hình cho mọi người thấy hai biểu tượng nhóm mới tinh:

— Nhóm thứ nhất tên là *'Việc Quán Vườn Me'*. Nhóm này gồm cháu, anh Khải, cô Hạnh và Duy. Chỉ trao đổi ba thứ: hình chụp phiếu đơn giao, danh sách thiếu hàng chợ và báo cáo doanh thu cuối ca. Tuyệt đối cấm nhắn chuyện gia đình, cấm than thở việc nhà, cấm gửi hình ảnh hay tin tức linh tinh.

— Còn nhóm thứ hai, — Hà nhìn thẳng vào Khải và bà Lan, giọng cô đanh lại, dứt khoát: — Tên là *'Gia Đình'*. Nhóm này chỉ có mẹ, anh Khải và cháu. Chỉ nói chuyện sức khỏe của mẹ, tiền nhà trọ, tiền ăn uống sinh hoạt trong gia đình. Đơn cơm hộp hay chuyện thịt cá của quán tuyệt đối không được hó hé một chữ trong nhóm này. Ai nhắn sai nhóm, người đó tự xóa tin và cháu sẽ không xử lý yêu cầu đó, coi như không thấy.

Khải nhìn em gái, bật cười khùng khục trong cổ họng:

— Mày làm như công ty đa quốc gia không bằng con Hà, bày đặt nhóm này nhóm kia cho rách việc. Nhà có mấy mống mà rườm rà.

— Không rách việc đâu anh, — Hà nhìn xoáy vào mắt anh trai, giọng không hề nao núng hay nhượng bộ một phân nào. — Chính vì anh cứ tiện tay nhắn 'tiện đường mua giùm hộp thuốc' vào nhóm quán cơm, xong cháu sót tin vì mải in phiếu, mẹ không có thuốc uống rồi cái chân sưng vù lên, anh lại quay sang trách cháu vô tâm, ích kỷ chỉ biết tiền. Cháu không nhận làm cái thùng rác chứa mọi thứ tiện tay của anh nữa. Từ nay việc nào ra việc đó.

Lời nói của Hà đanh gọn, không có vẻ hờn dỗi của đứa em gái quen nhường nhịn từ nhỏ, mà mang sức nặng của một người đang bảo vệ trật tự sống còn của cả gia đình. Khải khựng lại, nụ cười nửa miệng tắt ngấm trên môi. Anh gãi gãi gáy, nhìn xuống đôi dép tổ ong cũ mèm, lẩm bẩm:

— Thì làm... ai nói gì đâu mà mày làm căng dữ vậy.

— Chưa hết đâu, — Hà đứng dậy, với tay lấy một tờ giấy A4 bìa cứng được ép nhựa cẩn thận từ ngăn kéo quầy thu ngân. — Tối qua cháu đã lập xong cái này. Chút nữa tan ca trưa, cháu với anh Khải về nhà thuê dán thẳng lên cánh tủ lạnh bằng nam châm.

Tấm bìa có tựa đề viết hoa in đậm rõ ràng: *BẢNG PHÂN CÔNG CHĂM SÓC MẸ VÀ LỊCH Y TẾ ĐỊNH KỲ*.

Bà Lan tròn mắt nhìn con gái, bàn tay run run lần giở mép nhựa ép:

— Cái gì nữa vậy con Hà? Mẹ uống thuốc ngày hai cữ sau bữa ăn chứ có gì đâu mà mày làm bảng làm biểu dữ dằn vậy con? Người ta nhìn vô tưởng mẹ tàn phế không bằng.

— Mẹ để con nói hết, — Hà đặt nhẹ tay lên vai bà Lan, giọng mềm lại nhưng không mất đi sự kiên quyết. — Khớp gối của mẹ phải tái khám định kỳ hai tuần một lần tại phòng khám chuyên khoa ngoài đường Nguyễn Trãi, lấy thuốc bảo vệ dạ dày và thuốc kháng viêm mỗi tháng. Trước giờ, cứ hễ tới ngày tái khám là mặc định con phải bỏ việc quán, bỏ hẹn giao hàng, chạy đôn chạy đáo chở mẹ đi, còn anh Khải thì lấy cớ bận chạy ngoài đường để né tránh trách nhiệm. Bắt đầu từ tháng này, chia đôi sòng phẳng.

Cô chỉ ngón tay vào hai cột kẻ song song có đánh dấu ngày cụ thể trong tháng:

— Tuần chẵn, ngày thứ Ba: anh Khải có trách nhiệm chở mẹ đi khám lúc tám giờ sáng, ngồi chờ lấy số, nhận thuốc, đưa mẹ về nhà trọ và chia sẵn thuốc vào khay nhựa bảy ngày. Tuần lẻ, ngày thứ Ba: đến lượt con làm. Ai bận đột xuất việc bất khả kháng thì phải báo trước ít nhất hai mươi bốn tiếng để người kia sắp xếp, và người nhờ vả phải bù lại bằng một lượt đi khám kế tiếp, không có chuyện 'giúp giùm' rồi xóa nợ miệng như trước đây nữa.

Khải nhìn chằm chằm vào những ô vuông có tên *'Lê Minh Khải'* được in đậm, xen kẽ đều đặn từng tuần với tên *'Lê Thu Hà'*. Anh định mở miệng phân bua rằng chạy xe ngoài đường nắng nôi đầu tắt mặt tối, tiền xăng xe hao tốn, nhưng ánh mắt kiên định của Hà cùng sự hiện diện lặng lẽ, nghiêm cẩn của Duy bên cạnh khiến anh nuốt ngược những lời bao biện muôn thuở vào trong cổ họng. Chuyến cõng mẹ đi cấp cứu hút dịch khớp gối hồi tuần trước—khi mẹ đau đớn đến ngất lịm trên lưng anh, mùi dầu gió nồng nặc hòa lẫn mồ hôi chua chát—đã dạy cho Khải một bài học cay đắng: cầm sổ khám bệnh, nghe bác sĩ dặn liều lượng và nhìn mẹ run rẩy trên giường bệnh không phải là thiên chức riêng của phụ nữ. Một người đàn ông trưởng thành không thể chỉ quẳng vài đồng bạc lẻ vào góc bàn rồi coi như mình đã trọn đạo làm con.

— Được rồi, — Khải hắng giọng, ngón tay to bè gõ nhẹ lên ô tên mình ở tuần thứ hai. — Chiều thứ Tư tuần tới tái khám khớp gối đúng không? Để tao chở bả đi. Thuốc men tao biết coi toa rồi, không cần mày phải dặn đi dặn lại như dạy con nít đâu. Tao lo được.

Bà Lan nhìn hai đứa con, khóe mắt già nua hơi hoe đỏ. Bà không nói thêm lời nào, chỉ đưa bàn tay gầy guộc đầy gân xanh vỗ nhẹ lên mu bàn tay Hà, một cử chỉ đầu hàng đầy êm ả trước sự trưởng thành vượt bậc của đứa con gái vốn cả đời chỉ biết cúi đầu nói "dạ được" cho qua chuyện.

***

Mười giờ kém mười lăm trưa. Ca bán chính thức bắt đầu.

Không còn cảnh hỗn loạn, bát nháo của những ngày cũ—khi tiếng cãi cọ giữa mẹ và người làm át cả tiếng xe ngoài đường, khi khách giục cơm còn người giao thì nhầm lẫn lung tung—gian bếp nhỏ hôm nay vận hành với một nhịp điệu hoàn toàn mới.

Cô Hạnh đứng vững vàng trước hai bếp gas công nghiệp lớn, tay cầm chiếc vá cán dài đảo thoăn thoắt chảo sườn ram vàng óng ánh. Tiếng mỡ sôi xèo xèo vui tai, đôi mắt cô thi thoảng liếc nhìn tờ giấy ghi định lượng gia vị được ép nhựa dán ngang tầm mắt trên mảng tường ốp gạch men trắng. Nồi cá hú kho tộ sôi lục bục trên bếp bên cạnh, mùi tiêu sọ xay nồng nàn và nước màu dừa thơm ngào ngạt lan tỏa khắp không gian quán, bay ra tận đầu ngõ Vườn Me.

Bà Lan ngồi ở chiếc ghế dựa bằng gỗ mun kê sát cửa sổ bàn số bảy. Đôi chân bà duỗi thẳng thoải mái trên chiếc ghế con bọc nệm êm ái mà Duy đã chu đáo mang từ trong buồng ra. Tay bà chậm rãi, đều đặn tước xơ từng trái đậu que bỏ vào rổ nhựa màu xanh đặt trên đùi. Thỉnh thoảng, bà ngẩng đầu lên, mỉm cười gật đầu chào mấy người khách quen đi bộ ngang qua ngõ. Nét mặt bà tĩnh lặng như mặt hồ không gợn sóng, không còn vẻ căng thẳng như thể nếu thiếu bà thì cả cái quán này sẽ sụp đổ ngay tức khắc.

Ở góc đóng gói bên ngoài quầy ngăn inox, Duy đứng thẳng thắn, vững chãi. Đôi tay mang găng nylon trắng thoăn thoắt xới từng muỗng cơm trắng nóng hổi từ chiếc nồi cơm điện công nghiệp lớn, nén vừa vặn vào từng chiếc hộp làm bằng bã mía thân thiện với môi trường. Anh gắp từng miếng sườn ram óng ả, chan đúng một muỗng canh nước sốt đậm đà, xếp ngay ngắn vào từng ngăn. Cứ mỗi năm hộp cơm hoàn tất, Duy lại đối chiếu cẩn thận với tờ phiếu in nhiệt nhảy ra từ máy của Hà, dán một mảnh băng keo niêm phong màu đỏ có in logo quán ngang nắp hộp rồi xếp ngay ngắn, lớp lang vào chiếc thùng giữ nhiệt màu xanh gắn sau xe máy của Khải.

Đúng mười một giờ ba mươi, tiếng lách cách quen thuộc của chiếc xe đạp mini cọc cạch vang lên trước hiên. Ông Bình đẩy xe bước vào quán. Vết bầm tím trên gò má ông do vụ té ngã tuần trước đã tan hẳn, chỉ còn lại nụ cười tươi tắn để lộ hàm răng khuyết:

— Cho một phần cơm cá hú kho rục xương mềm như bữa trước nghen cô chủ nhỏ! Bữa nay tao lãnh lương phụ hồ rồi, trả luôn hai mươi ngàn nợ cũ với ba mươi lăm ngàn tiền cơm bữa nay, sòng phẳng một cắc không thiếu nghen!

Hà mỉm cười rạng rỡ, hai tay đón lấy hai tờ tiền phẳng phiu từ tay ông lão phụ hồ, ngón tay thoăn thoắt bấm máy in nhiệt kêu *rè... rè*:

— Dạ, của chú hết nợ cũ rồi nghen! Phiếu của chú đây ạ. Bàn số bảy hôm nay có mẹ cháu ngồi lặt rau mát lắm, chú lại trỏng ngồi chung nói chuyện với mẹ cháu cho vui cửa vui nhà.

Ông Bình cười hà hà, cầm lấy phiếu in nhiệt rồi bước lại bàn số bảy, kéo ghế ngồi đối diện bà Lan. Hai người già bắt đầu râm ran câu chuyện về giá gạo, giá mớ rau muống ngoài chợ sớm và chuyện mấy đứa cháu ngoại ở quê.

Ca trưa trôi qua nhanh như một cái chớp mắt, dứt khoát và trật tự đến kinh ngạc. Không có tiếng gắt gỏng từ trong bếp vọng ra, không có đơn hàng nào bị bỏ quên mỡ hành hay thiếu canh rau, và tuyệt nhiên không có một lời hứa miệng ngoài luồng nào bị phá vỡ. Khải chạy đúng tuyến, giao đúng giờ, trở về quán với cọc tiền lẻ được xếp ngay ngắn giao tận tay Hà để cô đối soát với cuống phiếu.

Đến đúng mười bốn giờ, toàn bộ ba khay thức ăn lớn bằng inox sáng loáng trong tủ kính đều sạch bóng. Nồi cơm chỉ còn sót lại một lớp cháy mỏng vừa vặn cho bữa xế của Khải và Duy.

Duy cầm khăn lau tẩm cồn lau sạch bóng từng mặt bàn ăn, phân loại rác hữu cơ và hộp xốp vào thùng kín có nắp đậy phía sau sân rồi rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng.

Đúng mười bốn giờ ba mươi, đồng hồ vừa điểm tiếng chuông báo, cô Hạnh cởi bỏ chiếc tạp dề màu xanh đen, giũ phẳng phiu rồi treo ngay ngắn lên chiếc móc sắt sau cánh cửa bếp. Cô khoác chiếc áo khoác gió vải dù, đội nón bảo hiểm, mỉm cười chào cả nhà:

— Chị Lan ở lại nghỉ ngơi cho cái chân mau lành, mấy đứa nhỏ dọn dẹp tiếp nghen. Tao chạy về với ông cụ bên Bình Thạnh đây, kẻo ổng trông.

— Dạ, cô về cẩn thận nghen cô Hạnh! — Hà vẫy tay tiễn cô Hạnh ra tận cửa, trong lòng trào dâng một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ bến. Lần đầu tiên sau bao năm phụ quán, cô mới nhìn thấy một người làm công bước ra khỏi cửa quán đúng giờ giấc với nét mặt thanh thản, không có sự níu kéo gượng gạo, không có những ánh mắt hậm hực vì bị bóc lột thêm từng phút từng giây.

***

Sau khi người khách cuối cùng rời đi và tấm cửa cuốn phía trước được Khải kéo xuống một nửa để chắn bớt cái nắng gắt buổi đầu giờ chiều, Khải và Duy cùng nhau bước ra khoảng sân hẹp trước cửa quán.

Khải xách theo chiếc hộp đồ nghề bằng sắt rỉ sét kêu lách cách bên trong kìm, búa, tua-vít và một nắm ốc vít nở mạ kẽm sáng loáng. Duy bưng tấm biển hiệu mới bằng tôn phẳng, khung sắt hộp sơn đen bóng mà Khải đã chở từ tiệm cơ khí của anh Tư hàn sắt về hồi chiều hôm trước. Tấm biển mới tinh, sơn nền trắng ngà nổi bật dòng chữ in hoa sắc nét bằng sơn đỏ và đen:

**CƠM NHÀ BÀ LAN** **PHỤC VỤ CƠM TRƯA: 10H00 – 15H00** *(NGHỈ THỨ HAI HÀNG TUẦN)*

— Nâng mé bên phải lên một phân nữa coi Duy, — Khải ngửa cổ nhìn lên giàn sắt cố định trên tường hiên, một tay vịn khung biển, tay kia cầm chiếc máy khoan pin siết ốc. — Để tao siết chặt con ốc góc này trước rồi mày hẵng buông tay ra, coi chừng nó sụp cạnh sắt vô trán bây giờ.

— Được rồi anh Khải, — Duy ghì chặt góc dưới của tấm biển vào bờ tường gạch, đôi mắt chăm chú căn chỉnh theo vạch phấn màu xanh đã đo đạc bằng thước thủy từ sáng sớm. — Góc này thăng bằng tuyệt đối rồi đó. Anh siết chặt ốc đi.

Tiếng máy khoan cầm tay kêu *rè... rè... roẹt* khô khốc, dứt khoát vang lên giữa con hẻm trưa vắng lặng. Từng vòng xoắn của con ốc vít nở mạ kẽm nghiến chặt vào lớp vữa bê tông, ghim chặt tấm biển hiệu mới vào khung sắt kiên cố của ngôi nhà thuê.

Mỗi tiếng roẹt của mũi khoan như một nhát búa đóng đinh một ranh giới mới mẻ, bất khả xâm phạm lên bộ mặt của quán ăn: nó chấm dứt vĩnh viễn những đêm đỏ lửa vô vọng đến chín mười giờ tối, chấm dứt những ca làm việc mòn mỏi thâu đêm suốt sáng chỉ để đổi lấy mười sáu ngàn đồng lãi ròng rẻ mạt trên từng đĩa cơm nguội ngắt. Nó khẳng định quán cơm này từ nay có giờ giấc, có nguyên tắc và có giá trị của riêng nó.

Bên trong quán, trên cây cột bê tông trung tâm đối diện thẳng với quầy thu ngân, Hà vừa dùng băng dính xốp hai mặt dán chặt lên một bảng mica trong suốt có kích thước bằng tờ báo lớn: *BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ CA LÀM VIỆC CỐ ĐỊNH*.

Phía dưới tiêu đề, từng cột việc được phân định rõ ràng bằng bút lông dầu màu xanh đen không thể xóa nhòa:

*Bếp chính: Trần Thị Hạnh (Đã ký nhận thỏa thuận)* *Giao hàng & Mua sỉ: Lê Minh Khải (Ký nhận)* *Đóng gói & Phục vụ: Phạm Duy (Ký nhận)* *Thu ngân & Điều phối: Lê Thu Hà (Ký nhận)*

Khải và Duy phủi bụi xi măng bám trên vai áo, bước vào quán. Không ai cần ai phải lên tiếng nhắc nhở, Khải cầm lấy cây bút lông dầu treo lủng lẳng bằng sợi dây dù bên cạnh bảng mica, vung tay ký một chữ ký to tướng, dứt khoát dưới tên mình. Duy mỉm cười kín đáo, đón lấy cây bút và ký một nét mực thanh mảnh, chính xác và dứt khoát dưới ô việc của anh.

Mọi thứ đã thực sự vào guồng. Ranh giới đã được dựng lên bằng giấy tờ pháp lý, bằng biển hiệu treo ngoài tường, bằng những cái tên chịu trách nhiệm cho từng công đoạn nhỏ nhất trong guồng máy vận hành.

Hà đứng tựa lưng vào quầy thu ngân bằng gỗ ép, nhìn căn quán nhỏ sạch sẽ, im ắng dưới ánh quạt trần phe phẩy từng làn gió nhẹ. Một cảm giác bình yên và kiểm soát được cuộc đời mình hiếm hoi len lỏi vào từng thớ thịt, làm dịu đi những cơn đau đầu dai dẳng suốt mấy tháng qua. Cô với tay lấy chiếc điện thoại bàn không dây của quán đặt trên mặt quầy để kiểm tra lại nhật ký cuộc gọi ca trưa.

Màn hình chiếc điện thoại di động thông minh đặt cạnh đó chợt nhấp nháy sáng bởi một tin nhắn SMS gửi đến số hotline của quán từ một đầu số lạ vào lúc mười ba giờ mười lăm phút.

Hà cầm máy lên, lướt ngón tay mở khóa màn hình.

Đó là một tin nhắn rất dài, gửi từ số điện thoại của Hoàng Quốc Hùng—người khách ăn mặc bảnh bao từng ném hộp cơm sườn bì chả xuống sàn nhà và lăng mạ cô thậm tệ hồi tuần trước, trước khi bị Khải trả lại tiền và xua đuổi thẳng cổ ra khỏi quán dưới sự chứng kiến của bao nhiêu người.

Những dòng chữ hiện lên rõ ràng trên nền kính cường lực:

*"Chào quán Cơm Nhà Bà Lan. Tôi là người khách hôm bữa làm ầm ĩ vụ hộp cơm sườn bì chả bị nguội mỡ hành. Mấy bữa nay đi làm ngang qua hẻm thấy quán sửa sang lại, đổi biển hiệu mới đàng hoàng, tôi muốn nhắn một lời xin lỗi cô bé thu ngân vì hôm đó tôi bực bội chuyện công ty bị trừ lương nên đã lỡ lời quá đáng với cô. Tôi biết mình cư xử như vậy là rất tệ và thiếu văn hóa. Chúc quán làm ăn phát đạt."*

Hà nhìn chăm chú vào từng chữ, từng dấu chấm câu ngay ngắn trong tin nhắn. Lồng ngực cô hơi thắt lại một nhịp, gợi nhớ lại cảm giác nhục nhã ê chề khi những hạt cơm văng tung tóe trúng vào ống quần mình hôm ấy, rồi từ từ, hơi thở cô giãn ra thật êm.

Cô không cảm thấy hả hê, cũng không còn một tia căm phẫn nào sót lại trong lòng. Lời xin lỗi này tuy đến muộn màng, nhưng nó là một bằng chứng đanh thép chứng minh rằng việc cô từ chối chịu đựng sự xúc phạm, việc cô dựng lên ranh giới tự trọng hôm ấy là hoàn toàn đúng đắn. Người ta chỉ tôn trọng mình khi mình biết tự tôn trọng chính mình và công việc của mình.

Hà bình thản đặt chiếc điện thoại xuống mặt quầy gỗ, không vội vã nhắn tin trả lời. Sự tử tế cần có ranh giới và thời gian thử thách. Việc tha thứ hay không, hồi đáp hay im lặng, giờ đây hoàn toàn là quyền tự do lựa chọn của cô, không phải là một nghĩa vụ phục vụ mù quáng mà cô phải thực hiện ngay tức khắc để làm vừa lòng bất kỳ ai.

***

Ngoài đường Vườn Me, bóng chiều bắt đầu ngả dài trên những mái tôn cũ kỹ. Gió chiều cuốn theo bụi đường và hơi nóng hầm hập của một ngày nắng gắt bắt đầu dịu bớt.

Lúc mười bảy giờ ba mươi, đúng vào cái khung giờ mà quán cơm cũ thường bắt đầu nổi lửa ca tối trong sự mệt mỏi rã rời, một vài chiếc xe máy của khách quen bắt đầu trờ tới trước cửa quán.

Họ là những người công nhân tan ca từ xưởng may gần đó, những cậu sinh viên thuê trọ trong ngõ, hay những người đàn ông độc thân lười nấu nướng. Nhìn thấy cánh cửa cuốn bằng tôn xanh đã đóng then cài then chốt im ỉm, bên trên là tấm biển hiệu mới tinh ghi rõ dòng chữ: *PHỤC VỤ CƠM TRƯA: 10H00 – 15H00 (NGHỈ THỨ HAI)*, họ ngơ ngác dừng xe lại giữa lòng hẻm.

Một người đàn ông trung niên mặc áo khoác gió sờn vai tắt máy xe, ngẩng cổ lên nhìn tấm biển hiệu một hồi lâu, dụi mắt như không tin vào những gì mình vừa đọc. Ông ta lắc đầu, lẩm bẩm vài câu cằn nhằn trong miệng về chuyện "quán cơm bày đặt giờ giấc như cơ quan nhà nước", rồi đá chân chống, quay đầu xe rời đi sang quán phở bò của bà Nga ở ngay đầu hẻm bên cạnh.

Hà ngồi lại một mình bên chiếc bàn số bảy, chiếc bàn quen thuộc giờ đây đã được chiếu sáng bởi ánh đèn tuýp trắng ngà gắn trên tường. Trước mặt cô là cuốn sổ cái bìa cứng kẻ caro mở rộng cùng chiếc máy tính bấm tay hiệu Casio đã mờ hết mấy phím số.

Bên ngoài, tiếng ve sầu mùa hè kêu ran trên những cành me cổ thụ. Tiếng cười nói của quán phở bà Nga vọng lại từng chặp qua khe cửa cuốn đóng kín.

Hà bắt đầu lật từng trang cuống phiếu in nhiệt của tuần đầu tiên áp dụng mô hình vận hành mới—chỉ bán duy nhất ca trưa, khống chế số lượng đơn giao hàng dưới mức trần hai mươi tư suất mỗi ngày, và cắt bỏ hoàn toàn ca bán tối lê thê. Đôi ngón tay thon thả của cô bấm thoăn thoắt trên bàn phím máy tính: *cạch... cạch... tạch...*

Từng con số doanh thu của thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm, thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ Nhật lần lượt hiện lên trên màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu. Cô cộng dồn toàn bộ tiền bán cơm tại bàn, tiền giao hàng tận nơi, rồi trừ đi các khoản chi phí cứng: tiền chợ sỉ của Khải, tiền lương theo ca của cô Hạnh, tiền phụ việc của Duy, tiền đá, tiền túi bã mía và tiền điện nước hao hụt.

Chiếc máy tính Casio kêu một tiếng *tít* khô khốc khi Hà nhấn phím dấu bằng cuối cùng.

Màn hình máy tính hiện lên một con số doanh thu thực tế kèm theo tỷ lệ đối soát so với kế hoạch kinh doanh mà cô đã vạch ra trên tờ giấy nháp hôm trước.

Hà nhìn chăm chú vào dãy số màu đen hiển thị trên màn hình. Đôi hàng lông mày lá liễu của cô khẽ nhíu lại một thoáng, nhưng ánh mắt kiên định phía sau hàng mi thì không hề dao động lấy một phân.

Số lượng khách hàng phục vụ và tổng doanh thu trong tuần đầu tiên chuyển đổi sang mô hình bán trưa đã sụt giảm đúng hai mươi phần trăm so với mức dự tính ban đầu của cô. Khách ca tối đã rụng gần hết, trong khi lượng khách văn phòng đặt cơm trưa mới chỉ đang ở giai đoạn tiếp cận dò xét.

Hà thở ra một hơi thật nhẹ, khép cuốn sổ cái lại, đặt chiếc bút bi nằm ngay ngắn trên gáy sổ.

Thử thách tám tuần sống còn và mức trần thâm hụt mười triệu đồng tối đa mà cô tự đặt ra cho chính bản thân mình giờ đây mới thực sự bắt đầu gõ cửa.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories