Người Chết Còn Thiếu Một Chữ Ký
Mùi bùn sông ngấm vào chiếc chiếu rách bó thi thể không át nổi mùi giấy mực ẩm mốc bốc ra từ sảnh Quầy Công Thưởng nha môn Vọng Giang, nơi Tạ Vô Danh đang kiên nhẫn chờ lĩnh tiền công giao nộp người báo án.
Buổi xế chiều ở trấn Vọng Giang luôn mang theo cái oi ả nặng trịch của một vùng ngã ba sông. Gió từ mặt nước bốc lên, thổi qua những dãy nhà kho dựng bằng gỗ thông ám khói của khu thương cảng, lùa thẳng vào khoảng sân lát gạch xanh của phủ nha. Gạch ở đây đã lát từ thời trước, qua hàng chục năm chịu đựng bước chân dậm dọa của đám nha dịch, đế giày cỏ của lũ tội nhân và những chiếc xe kéo chở phạm nhân từ bến đò lên, mặt đá đã mòn vẹt, nứt toác thành những đường rãnh ngoằn ngoèo bám đầy rêu chết. Những vệt bùn khô kết thành từng mảng xám xịt trên bậc thềm tam cấp, xen lẫn với tàn nhang muội đen rơi rớt từ chiếc lư đồng thau đặt trước bức bình phong vẽ hình hổ dữ xuống núi.
Cổ tay phải của Tạ Vô Danh nhói lên từng cơn âm ỉ. Cơn đau không dữ dội như dao cắt, mà dai dẳng, nhức buốt sâu tận màng xương, tựa hồ có một mũi kim gỉ sét đang chầm chậm xoay tròn bên trong ổ khớp mỗi khi cơ bắp phải chịu lực. Mỗi lần hắn khẽ siết ngón tay để ghì chặt mép chiếu rách, khớp xương lại phát ra tiếng râm ran khó chịu — vết thương cũ từ một trận giao đấu biểu diễn hai năm trước chưa bao giờ thực sự lành lặn. Trận đấu đó diễn ra trên võ đài của một tửu lâu lớn ngoài bờ cống, nơi người ta trả mười lượng bạc để xem hai kiếm khách vô danh đâm chém nhau cho đám phú thương mua vui bên bàn tiệc. Hắn thắng trận, giữ được mạng, nhưng đối phương trước khi gục xuống đã kịp dùng đoản côn bẻ gập cổ tay hắn qua mép bàn đá. Mười lượng bạc năm ấy chỉ đủ trả tiền thuốc thang của ba tiệm bốc thuốc bắc và nửa năm tiền thuê căn gác xép dột nát gần bến than.
Với một kiếm khách lưu lạc, thương tật ở tay cầm kiếm giống như một án treo vô hình: không làm người ta chết ngay, nhưng nhắc nhở chủ nhân của nó rằng mỗi ngày trôi qua, khoảng cách giữa việc làm một hiệp khách phong trần và một kẻ ăn mày bến đò đang ngắn dần lại. Mỗi lần vung kiếm chậm hơn nửa nhịp là một lần đến gần hơn với lưỡi đao của kẻ thù; mỗi lần cổ tay co rút vì ẩm ướt là một bước thụt lùi vào bóng tối của những kẻ sống nhờ vào chút tiền còm cõi mà nha môn bố thí cho việc vớt xác và dẫn giải trộm cắp vặt.
Hắn thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực khẽ phập phồng dưới lớp áo vải thô màu chàm đã bạc thếch qua bao mùa mưa nắng. Tạ Vô Danh từ từ hạ chiếc đòn gánh tre xuống nền gạch xanh nứt nẻ. Đầu đòn gánh bóng nhẫy mồ hôi cọ vào lớp da vai chai sạn phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc. Thi thể bọc trong chiếc chiếu cuộn tròn va nhẹ vào mép bục đá cẩm thạch xám xịt đặt giữa sảnh — nơi thường ngày dùng để đối chiếu tội phạm có thưởng hoặc bày biện những đầu lâu ngâm vôi chở từ các huyện biên về cho dân chúng nhận diện.
Một dòng nước phù sa đùng đục, sền sệt rỉ ra từ kẽ cói mục nát của chiếc chiếu, chảy ngoằn ngoèo qua rãnh thoát nước khô cạn khoét dọc mép bục đá. Dòng nước mang theo chất nhầy của bèo tấm rữa nát, bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc của rêu ươn, xác tôm cá thối rữa và cái tanh lạnh đặc trưng của nước đáy sông tầng sâu. Mấy con ruồi xanh to bằng hạt đỗ từ ngoài sân lập tức đánh hơi thấy mùi lạ, bay vo ve quanh những sợi dây thừng xơ xác đang trói chặt hai đầu thi thể.
Tạ Vô Danh kéo vạt áo chàm qua vai để lau bớt mồ hôi đang chảy ròng ròng bên thái dương, cẩn thận đặt hai bàn tay thô ráp lên đầu bao kiếm bằng gỗ sồi sứt sẹo. Hắn đứng thẳng lưng trước khung lưới sắt của quầy thụ lý công thưởng. Khung lưới làm bằng những thanh sắt vuông to bản đan chéo mắt cáo, hoen gỉ ở các khớp nối nhưng vẫn chắc chắn như song sắt nhà lao, chia cắt không gian u tối của sảnh nha môn thành hai thế giới riêng biệt: một bên là giang hồ lam lũ, sặc mùi bùn đất và chết chóc; bên kia là bộ máy hành chính cồng kềnh đang thở phì phò trong buổi chiều oi bức của trấn Vọng Giang.
Đằng sau tấm lưới mắt cáo ấy, bóng tối của căn phòng lưu trữ hồ sơ dường như nuốt chửng cả ánh sáng ban ngày. Hàng trăm giá gỗ cao ngất ngưởng dựng sát tường, chất đầy những tập công văn giấy dó ố vàng, những hòm gỗ sồi khóa đồng đựng sổ sách thu chi từ ba triều đại trước, và mùi khói đèn dầu lạc hòa lẫn với mùi ẩm mốc của keo dán giấy tạo nên một thứ bầu không khí ngột ngạt, bức bối.
"Bẩm dịch quan," Tạ Vô Danh cất giọng.
Âm sắc của hắn trầm, đều đặn, không thừa một chữ, không mang theo chút giận dữ hay nịnh nọt nào của phường giang hồ cậy võ khi đối diện với cửa quan. Đó là giọng điệu của một kẻ đã quá quen với những thủ tục rườm rà nơi công đường, biết rõ rằng một tia cảm xúc bộc lộ ra ngoài cũng có thể bị biến thành cái cớ để đám lại dịch hạch sách, giam tiền.
"Người này họ Trần, tên Hữu Sổ, vốn làm nghề chép sổ tự do tại dãy phố buôn Bến Hạ Thủy. Thi thể được phát hiện lúc đầu giờ Thân, mắc kẹt trong đám lau sậy dưới chân cọc neo thuyền số ba mươi hai. Tôi đi tuần ven bờ, thấy xác trôi dạt vào bãi cạn nên trục vớt, thuê thuyền chở thẳng tới nha môn theo đúng thông tri an dân ban hành hồi đầu tháng."
Hắn dừng lại nửa nhịp, mắt đảo qua tấm cáo thị dán chằng chịt các gương mặt hung hãn vẽ bằng mực tàu lem luốc trên bức tường vôi lở lói bên cạnh. Những vết mực son đỏ chót đóng dấu "Đã bắt" hay "Đã đền mạng" đè lên nhau như những vết sẹo cũ của trấn thành. Hắn nói tiếp một cách rành mạch, rành rọt từng tiếng:
"Tôi xin nói rõ: Trần Hữu Sổ không phải tội phạm bị truy nã, trên người không mang lệnh tầm nã của phủ hay triều đình. Tôi chỉ làm bổn phận của một người tìm thấy thi thể vô danh có lai lịch khả nghi, trình báo để nha môn xác minh danh tánh và xin lĩnh ba đồng tiền dầu đèn cùng nửa lượng bạc công trục vớt theo quy chế tuần tra dân sự."
Sự rõ ràng và mạch lạc ấy không đổi lại được sự sốt sắng. Đằng sau tấm lưới sắt hoen gỉ, một cánh tay tròn lẳn, béo múp míp khẽ vươn ra khỏi bóng tối. Ống tay áo bằng sa tanh đen viền lụa bóng lộn khẽ đưa lên, phẩy nhẹ chiếc quạt xếp bằng nan trúc đồi mồi tạo ra những luồng gió lười biếng.
Thư lại Hà Công Bút không thèm ngẩng đầu.
Gã chừng ngoài bốn mươi tuổi, thân hình đẫy đà nhồi nhét trong chiếc áo dài gấm thêu hoa chìm màu tím sẫm. Mặt gã tròn và trắng bệch như chiếc bánh bò ủ quá men, hai má phúng phính chảy xệ xuống cằm, che khuất gần hết chiếc cổ ngắn ngủn. Hai hàng ria mép của gã được tỉa tót kỹ lưỡng đến từng sợi, vuốt sáp bóng lộn vểnh lên hai bên như đuôi tôm. Gã ngồi bẹp trên chiếc ghế bành bọc đệm cỏ êm ái, lưng tựa vào gối nhung, bàn chân đi giày lụa thêu hoa gác hờ lên chiếc đôn gỗ con.
Bàn làm việc của gã là một pháo đài thu nhỏ dựng bằng các chồng sổ chi tiêu, công văn niêm phong sáp đỏ cao ngất và một nghiên mực bằng đá đen nhánh to như chiếc bát tô. Một chiếc bàn tính bằng gỗ mun với những hạt tính tròn trơn bóng nằm ngay bên tay phải, sẵn sàng gõ lách cách để tính toán từng đồng tiền thuế, tiền phạt, và tiền trích thưởng của lê dân bá tánh.
Hà Công Bút đủng đỉnh nhấc chiếc chén trà bằng sứ hoa lam vẽ tích "Đạp tuyết tầm mai", dùng nắp chén gạt nhẹ lớp bọt váng và mấy lá trà trôi nổi trên mặt nước. Gã kề môi thổi khẽ, húp một ngụm nhỏ đầy vẻ hưởng thụ, để mặc cho tiếng rít nước chè vang lên trơ trẽn giữa sảnh đường vắng lặng. Nuốt xong ngụm trà, gã nhắm nghiền mắt lại trong vài giây như để dư vị ngòn ngọt thấm vào cuống họng, rồi mới lười biếng mở nửa tròng mắt, đưa ánh nhìn đùng đục qua khe mắt cáo của tấm lưới sắt.
Ánh mắt gã lướt qua chiếc chiếu rách bốc mùi nồng nặc trên bục đá, khẽ nhíu mũi lại vì ghê tởm, rồi quét từ đôi giày cỏ rách mũi để lộ ngón chân cái thâm tím vì ngâm nước của Tạ Vô Danh, ngược lên chiếc áo chàm bạc phếch, dừng lại ở chiếc bao kiếm trơ trọi làm bằng gỗ sồi thô, không gắn ngọc bội, không có tua rua chỉ ngũ sắc của các đệ tử danh môn chính phái.
Một nụ cười nhạt, mang đầy tính chuyên nghiệp và sự trịch thượng của kẻ nắm giữ thủ tục công quyền nơi cửa nha môn, từ từ nở ra nơi khóe môi mỏng dính của gã.
"Kiếm khách họ Tạ đúng không?" Hà Công Bút cất giọng kim the thé, âm điệu cao và rỗng như tiếng phèng la nứt. Chiếc bút lông kẹp giữa hai ngón tay tròn lẳn của gã xoay tròn một vòng điệu nghệ trước khi đầu lông chấm nhẹ vào nghiên mực đá. "Ngươi nói ngươi vừa vớt được ai? Trần Hữu Sổ? Phu chép sổ ở Bến Hạ Thủy?"
"Đúng vậy," Tạ Vô Danh đáp, hai chân vẫn đứng vững chãi như chôn chặt xuống nền đá, ánh mắt không hề dao động.
"Ngươi chắc chứ?" Hà Công Bút nhướng một bên lông mày mỏng dính lên, giọng điệu mang vẻ mỉa mai kín đáo.
"Người này từng chép khế ước thuê nhà cho vài tiêu cục quen mặt ở bến. Tôi từng gặp ba lần, vết sẹo hình móng ngựa sau tai trái và nốt ruồi son dưới cằm không thể nhầm lẫn."
Hà Công Bút khẽ 'ồ' lên một tiếng thật dài. Âm điệu của gã trượt dài từ cao xuống thấp, ngân nga như một nốt nhạc trớ trêu trong một vở tuồng chèo rẻ tiền. Gã không vội ghi chép, cũng chẳng buồn cất tiếng gọi đám nha dịch đang gà gật ngoài hành lang ra khiêng xác vào nhà xác, mà ung dung vươn tay, kéo tập sổ chi công thưởng dày cộp dán nhãn 'Bính Thân' màu đỏ tươi về phía mình.
Gã đưa ngón tay cái to bè, ướt đẫm mồ hôi lên miệng khẽ liếm một cái, rồi lật từng trang giấy dó dày cộp. Tiếng giấy cọ vào nhau phát ra những âm thanh xoàn xoạt khô khốc, vang vọng rõ mồn một trong sảnh đường tĩnh mịch.
"Tạ thiếu hiệp này," Hà Công Bút vừa lật sổ vừa chậm rãi lên giọng, từng lời thốt ra đều mang theo cái uy thế ngầm của kẻ ngồi trong bóng mát ban phát ân huệ cho kẻ ngoài nắng. "Người giang hồ các ngươi khi hành tẩu thường hay tự hào là mắt sáng như đuốc, tai thông bốn phương, nhìn xa trông rộng hơn kẻ phàm trần. Nhưng nha môn chúng ta làm việc bằng giấy trắng mực đen, bằng triện son và chữ ký, chứ không làm việc bằng ánh mắt giang hồ hay cảm tính của kẻ đi tuần ven sông."
Ngón tay của Hà Công Bút đột ngột dừng lại ở một trang giấy nằm ở giữa tập sổ. Trang giấy này phẳng phiu, mép giấy còn phẳng lỳ và phảng phất mùi hồ dán vỏ cây mới quét. Gã rút ra một tờ biên nhận thanh toán bằng giấy hoa tiên mỏng manh màu hồng nhạt vốn chỉ dùng cho các khoản chi tức thời của phòng tài vụ. Gã kẹp tờ giấy vào giữa hai đầu ngón tay trỏ và ngón giữa, rồi đủng đỉnh đưa qua khe lưới sắt, đẩy thẳng về phía mặt Tạ Vô Danh.
"Tự mình mở to mắt ra mà xem cho rõ."
Tạ Vô Danh vươn tay đón lấy tờ giấy. Đầu ngón tay hắn chạm vào mặt giấy hoa tiên mịn màng, lập tức cảm nhận được một luồng hơi ẩm còn vương lại trên bề mặt sợi giấy. Đó không phải là cái ẩm mốc của xấp hồ sơ lưu trữ lâu năm trong kho, mà là độ ẩm của một trang giấy mới được lấy ra từ tráp niêm phong, thậm chí còn vương chút mùi hương bài thoang thoảng của loại mực tàu thượng hạng dùng cho quan viên.
Đó là một tờ 'Biên Nhận Chi Tiền Báo Tin Truy Nã' của nha môn Vọng Giang.
Từng dòng chữ trên biên nhận được viết bằng lối chữ chân phương ngay ngắn, mực đen rành mạch: *Đương sự Trần Hữu Sổ, ba mươi lăm tuổi, cư ngụ tại xóm thợ chép Bến Hạ Thủy, trình báo tin tức xác thực về hành tung của một vụ đào phạm tiêu cục mang trọng án cướp tiêu ngân, lĩnh trọn ba mươi lượng bạc trắng từ Quầy Công Thưởng phủ Vọng Giang.*
Ba mươi lượng bạc trắng. Đối với một phu chép sổ kiếm từng đồng trinh bằng việc viết thuê thư từ và lập khế ước cá tươi ngoài bến đò, đó là một gia tài khổng lồ, đủ để mua một căn nhà ngói ba gian ở ngoại trấn và mở một sạp hàng khô buôn bán suốt nửa đời còn lại.
Nhưng điểm khiến chân mày Tạ Vô Danh khẽ giật giật, đồng tử hơi co rút lại, lại nằm ở góc dưới bên phải của tờ giấy hoa tiên.
Nơi đó có chữ ký tên 'Trần Hữu Sổ' viết bằng nét bút phóng khoáng, dứt khoát, kèm theo một dấu điểm chỉ bằng mực đỏ tươi rói in rõ từng đường vân tay xoắn ốc. Đáng nói hơn cả, nét mực tàu đen nhánh của chữ ký ấy dưới ánh hoàng hôn hắt nghiêng qua khung cửa vẫn còn ánh lên một lớp dầu bóng loáng.
Mực tàu chưa hề khô kiệt hoàn toàn. Khi Tạ Vô Danh khẽ lướt ngón tay cách bề mặt chữ ký nửa phân, hắn vẫn ngửi thấy mùi muội than thông và xạ hương nồng đượm của nước mực mới mài chưa đầy một tuần trà.
Góc dưới cùng của biên nhận ghi rõ thời khắc lĩnh bạc: *Giờ Thân một khắc.*
"Thấy chưa?" Hà Công Bút ngả hẳn tấm lưng đẫy đà ra sau thành ghế bành, chiếc quạt nan đồi mồi lại bắt đầu phẩy nhè nhẹ, tạo ra những tiếng gió vù vù đắc thắng. Gã nhấp thêm một ngụm trà nữa, giọng điệu mang vẻ trêu ngươi không hề che giấu. "Cách đây chưa đầy nửa canh giờ, Trần Hữu Sổ bằng xương bằng thịt, hai chân đi đứng đàng hoàng, mặc chiếc áo dài vải thô màu xám tro sạch sẽ, tự tay cầm cây bút lông thỏ này ký vào tờ biên nhận. Hắn tự tay đếm đủ ba mươi thỏi bạc vụn của nha môn, nhét cẩn thận vào hầu bao vải bố đeo bên hông rồi ung dung chắp tay chào ta, bước chân sáo ra khỏi cổng lớn của phủ nha."
Hà Công Bút chồm người về phía trước, hai mắt ti hí trừng trừng nhìn xuyên qua mắt cáo của tấm lưới sắt, ngón tay béo múp gõ côm cốp xuống mặt bàn tính:
"Thế mà nửa canh giờ sau, ngươi — một kẻ kiếm khách rách rưới không có lấy một tấm thông hành chính ngạch — lại vác một cái xác sũng nước phù sa, bảo rằng đó là Trần Hữu Sổ đã chết đuối ven sông từ đời nào, đòi lĩnh ba đồng tiền dầu đèn cùng nửa lượng bạc công trục vớt? Ngươi tưởng nha môn Vọng Giang này là cái chợ trời bán cá, hay coi bản quan là kẻ mù lòa không phân biệt nổi người sống với ma chết?"
Tạ Vô Danh cúi đầu nhìn tờ biên nhận hoa tiên trên tay, rồi từ từ quay đầu nhìn sang chiếc chiếu rách đang rỉ từng giọt nước đùng đục xuống bục đá.
Trong suốt mười năm phiêu bạt giang hồ, từ vùng núi non hiểm trở đất Tây Bắc cho đến các bến đò sầm uất chốn Giang Nam, hắn đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu chuyện kỳ quặc nơi đầu đường xó chợ. Hắn từng thấy những kẻ tự xưng là chưởng môn phái lớn sẵn sàng trộm gà bắt chó quỵt tiền bát mì sợi; từng thấy những trận quyết đấu sinh tử được quảng bá rầm rộ khắp ba tỉnh nhưng thực chất hai bên đã bí mật chia nhau tiền bán vé vào cửa từ đêm hôm trước; thậm chí từng thấy quan lại địa phương cấu kết với thổ phỉ để tự cướp xe lương của triều đình rồi đổ tội cho thiên tai. Nhưng tình cảnh trớ trêu đang diễn ra trước mắt này quả thực đã bước qua ranh giới của sự lố bịch thông thường, trượt thẳng vào một hố sâu phi lý đầy mùi tử khí.
"Ý dịch quan là," Tạ Vô Danh nhàn nhạt hỏi, giọng nói vẫn giữ nguyên độ phẳng lặng như mặt hồ không gió, "Trần Hữu Sổ vừa lĩnh ba mươi lượng bạc ở đây, sau đó mọc cánh bay thẳng ra Bến Hạ Thủy cách đây ba dặm đường trong chớp mắt? Hắn bay đến nơi, tự trói mình vào đám lau sậy dưới chân cọc số ba mươi hai, dầm nước cho cơ thể trương phềnh lên, cho rêu sông bám đầy vào tai vào mắt, rồi kiên nhẫn đợi tôi chèo thuyền qua vớt xác mang ngược về đây nộp cho ngài?"
"Đó là chuyện của ngươi và cái xác!" Hà Công Bút đập mạnh chiếc quạt nan xuống mặt bàn gỗ đánh 'chát' một tiếng, nét mặt tươi cười giả lả vụt biến mất, thay vào đó là bộ mặt đanh thép, lạnh lùng bắt đầu phô diễn uy quyền của kẻ nắm luật lệ. "Nha môn coi trọng quy trình, làm việc theo sổ sách! Tiền đã xuất khỏi kho bạc phủ, sổ cái đã vào dòng chi rành mạch, chữ ký của người lĩnh còn ướt mực trên giấy hoa tiên. Một con người bằng xương bằng thịt không thể vừa đứng đây đếm ba mươi thỏi bạc, lại vừa nằm trương phềnh thối rữa ngoài bến sông cách đó ba dặm đường cùng một thời khắc!"
Gã đứng bật dậy, chiếc bụng phệ đội tung mép bàn làm việc, ngón tay chĩa thẳng qua khung sắt vào mặt Tạ Vô Danh:
"Tạ Vô Danh, ngươi to gan lắm! Cậy có chút võ nghệ mèo cào của phường thảo mãng, dám mạo nhận nhân thân người báo tin, đem xác chết vô thừa nhận ngoài sông đến làm loạn chốn công đường! Ngươi toan mưu đồ gì? Muốn trục lợi công quỹ của triều đình, hay là đồng bọn của quân gian phi muốn đến đây thăm dò sổ sách cơ mật của phủ nha?"
"Nếu muốn trục lợi," Tạ Vô Danh đáp tỉnh bơ, ánh mắt không hề chớp lấy một lần trước ngón tay đang run rẩy vì giận dữ của gã thư lại, "tôi đã báo hắn là đại đạo giang hồ có giá năm trăm lượng bạc, mang đầu hắn đến nộp để đổi lấy một túi kim ngân, chứ chẳng ai rảnh rỗi vác một cái xác ướt sũng nặng hơn trăm cân đi bộ suốt nửa dặm đường bùn lầy chỉ để đòi ba đồng tiền dầu đèn và nửa lượng bạc vụn."
Cổ tay phải của hắn lại giật lên một cơn đau buốt nhói. Tạ Vô Danh khẽ xoay cổ tay một góc nhỏ, các khớp xương dưới lớp bao cổ tay bằng da thuộc sờn rách kêu lách cách như những mảnh sành va vào nhau. Cơn đau nhắc nhở hắn rằng sức kiên nhẫn của cơ thể con người luôn có giới hạn, nhưng sự ngang ngược của chốn công môn thì dường như vô tận.
"Đủ rồi."
Một giọng nói lạnh lùng, dứt khoát cắt ngang màn đôi co đang dần biến thành một cuộc cãi vã chợ búa.
Giọng nói không lớn, âm lượng vừa đủ nghe nhưng mang theo độ sắc sảo và băng giá tựa như một lưỡi dao cạo bằng thép nguội vừa được rút ra khỏi bao da. Âm thanh ấy vang lên từ phía cuối hành lang tối tăm dẫn ra sân sau — nơi đặt Tĩnh Thi Phòng của nha môn Vọng Giang.
Tấm rèm vải thô dày cộp ngâm nước vôi ngăn cách hành lang khẽ lay động, phát ra tiếng sột soạt nặng nề. Một nữ tử trẻ tuổi từ từ bước ra sảnh.
Nàng mặc bộ y phục thợ khám nghiệm màu xám tro bó sát vào người, gọn gàng và không có lấy một nếp vải thừa thãi. Hai ống tay áo được nẹp chặt bằng những dải đai da thuộc màu nâu sẫm, quấn chặt từ cổ tay lên tận cùi chỏ để tránh vướng víu khi thao tác. Phía trước ngực nàng đeo một chiếc tạp dề lớn làm bằng vải gai thô dày, bên ngoài quét một lớp sáp ong chống thấm loang lổ những vệt ố màu vàng nhạt và xám đen — dấu vết tích tụ qua hàng trăm lần tiếp xúc với dịch thể, giấm thanh và rượu gừng tẩy uế.
Mái tóc đen nhánh của nàng được chải mượt mà, búi gọn gàng và nâng cao hẳn ra sau gáy, cố định chắc chắn bằng một chiếc trâm gỗ trơn nhẵn không hề chạm trổ hoa văn. Cách phục sức đơn giản đến mức khắc nghiệt ấy làm lộ rõ toàn bộ khuôn mặt thanh tú: nước da trắng xanh xao vì quanh năm làm việc trong phòng kín thiếu ánh sáng mặt trời, sống mũi cao thẳng như sống kiếm, và đôi môi mỏng khẽ mím lại. Nhưng điểm nổi bật nhất trên gương mặt ấy chính là đôi mắt — đôi mắt đen sâu thẳm, phẳng lặng đến rợn người, tựa như mặt nước của một miệng giếng cổ ngàn năm không bao giờ gợn sóng trước bất kỳ cảnh tượng ghê rợn nào của nhân gian.
Đỗ Thanh — nữ kiểm thi theo khế ước của nha môn Vọng Giang.
Trong cái chốn công quyền toàn đàn ông và những quy tắc hủ lậu này, sự hiện diện của nàng là một ngoại lệ kỳ quặc. Nàng không có phẩm hàm triều đình, không nằm trong biên chế chính thức, mà làm việc dựa trên một bản khế ước chuyên môn được ký kết riêng với Phủ nha: nàng bán sự hiểu biết rùng rợn của mình về da thịt, xương cốt và cái chết để đổi lấy quyền được mổ xẻ những bí mật mà người sống muốn chôn vùi.
Nàng không thèm nhìn Hà Công Bút lấy một cái, cũng chẳng buồn liếc mắt về phía thanh kiếm gỗ sồi của Tạ Vô Danh. Đôi giày vải đế da của nàng bước đi không một tiếng động trên nền gạch ẩm, tiến thẳng tới bục đá cẩm thạch xám xịt đặt giữa sảnh.
Chiếc hòm gỗ mun dài chừng hai thước đựng đồ nghề kiểm thi được nàng đặt cẩn thận xuống góc bàn đá. Tiếng va chạm giữa chân hòm bọc đồng và mặt đá phát ra một âm thanh 'cạch' dứt khoát, khô khốc, tựa như tiếng gõ búa của một phán quan vô hình.
"Ai cho phép các người đem tử thi để rỉ nước phù sa bừa bãi ra sàn gạch sảnh công vụ thế này?" Đỗ Thanh mở lời. Giọng nàng đều đều, không chứa đựng bất kỳ sắc thái biểu cảm nào, như thể đang đọc một điều khoản phạt tiền trong khế ước hành chính. "Chưa có phiếu giao nhận có chữ ký của dịch đinh Tĩnh Thi Phòng, ai cho phép tháo dây buộc đòn khiêng đặt xác xuống bục đối chiếu?"
Hà Công Bút ngồi thụp xuống ghế, vẻ trịch thượng ban nãy thoáng chốc thu lại đôi chút trước sự xuất hiện của nữ kiểm thi, nhưng hai hàng ria mép của gã vẫn giật giật đầy vẻ bực bội:
"Đỗ kiểm thi, cô ra thật đúng lúc! Tên du hiệp giang hồ này vác một cái xác vô thừa nhận không rõ lai lịch từ ngoài sông đến, khăng khăng bảo đây là Trần Hữu Sổ ở Bến Hạ Thủy. Nhưng Trần Hữu Sổ bằng xương bằng thịt vừa ký sổ lĩnh trọn ba mươi lượng bạc của Quầy Công Thưởng cách đây chưa đầy nửa canh giờ! Cô mau đuổi hắn ra ngoài để ta còn khóa sổ..."
"Tôi không nghe lời khai của người sống," Đỗ Thanh lạnh lùng ngắt lời gã thư lại, ngón tay đã bắt đầu mở chốt đồng của chiếc hòm gỗ mà không thèm quay đầu lại. "Tôi chỉ nghe người chết."
Nàng rút từ trong ngăn kéo nhỏ của hòm ra một đôi găng tay dệt bằng sợi gai mịn đã ngâm qua dầu trẩu sấy khô — thứ găng tay chuyên dụng giúp cách ly da tay với độc chất và tử khí của xác chết. Nàng xỏ từng ngón tay vào găng một cách thuần thục, kéo căng mép găng qua cổ tay, miết chặt các đường chỉ may. Động tác của nàng chuẩn xác, nhịp nhàng và mang tính cơ học tuyệt đối, không hề có một cử chỉ thừa thãi hay ngập ngừng.
Sau khi mang găng xong, bàn tay mảnh khảnh của nàng vươn ra, dứt khoát gạt phăng lớp chiếu rách mục nát đang quấn quanh phần thân trên của tử thi sang hai bên.
Dưới ánh hoàng hôn lờ nhờ hắt qua cửa sảnh, khuôn mặt của người chết hiện ra trọn vẹn.
Đó là một người đàn ông trung niên trạc ba mươi lăm tuổi, khuôn mặt gầy gò khắc khổ, hai má hóp sâu. Làn da của nạn nhân tái mét một màu trắng bệch như sáp ong ngâm nước, môi thâm tím ngả sang màu chì, khóe mắt mở trừng trừng trũng sâu đầy những tia máu vỡ li ti. Đúng như những gì Tạ Vô Danh đã miêu tả, ngay sau vành tai trái của cái xác, một vết sẹo lồi hình móng ngựa dài chừng hai đốt ngón tay hiện lên rõ mồn một dưới lớp bùn sông đã bắt đầu khô bết lại. Dưới cằm, sát mép hàm dưới bên phải, một nốt ruồi son to bằng hạt tấm nổi bật trên nền da tử thi trắng bệch.
Đỗ Thanh cúi gập người xuống, mặt nàng chỉ cách khuôn mặt người chết chừng một gang tay, dường như hoàn toàn miễn nhiễm với mùi xú uế đang bốc lên nồng nặc. Nàng đưa hai ngón tay trỏ và ngón cái mang găng ấn nhẹ lên vùng cơ hàm dưới của nạn nhân, nơi tiếp giáp giữa xương quai hàm và khớp thái dương.
Nàng dùng một lực khá mạnh đẩy thử quai hàm sang hai bên, rồi cố gắng ấn cằm xuống để mở khoang miệng nạn nhân. Nhưng quai hàm của cái xác cứng đờ như một khối đá tảng, hai hàm răng cắn chặt vào nhau ken két, không hề nhúc nhích dù chỉ nửa phân.
Tiếp đó, nàng lần lượt nâng hai cánh tay của nạn nhân lên khỏi mặt chiếu. Nàng nắm lấy cổ tay, dùng lực gập thử khớp khuỷu tay, rồi lần lượt nắn bóp từng đốt ngón tay co quắp. Tất cả đều đông cứng trong một tư thế co quắp tự nhiên của người chết đuối: các ngón tay gập chặt vào lòng bàn tay như đang cố bấu víu lấy một vật vô hình, các khớp khuỷu tay và khớp vai cứng ngắc đến mức nếu nàng dùng thêm lực bẻ cong, các thớ cơ và gân khô khốc bên trong chắc chắn sẽ đứt gãy phát ra tiếng rách toạc.
"Độ co cứng tử thi đã phát triển hoàn toàn và đạt đỉnh điểm," Đỗ Thanh cất giọng đều đều, thanh âm trầm tĩnh vang lên trong không gian nồng nặc tử khí như tiếng một bản án định sẵn. "Hiện tượng co cứng bắt đầu từ các nhóm cơ nhỏ như cơ mi mắt, cơ mặt, sau đó lan xuống cơ nhai, cơ hàm, rồi lan tỏa toàn bộ cơ gáy và các khớp lớn ở chi trên, chi dưới. Để các khối cơ lớn của một người đàn ông trưởng thành đông cứng hoàn toàn đến mức này dưới điều kiện thời tiết đầu thu oi bức của Vọng Giang, thời gian tử vong sinh học ít nhất phải từ hai đến ba canh giờ trước, thậm chí có thể lâu hơn nếu nạn nhân bị dìm trong môi trường nước lạnh."
Nàng lật mu bàn tay lại, áp phần da mu bàn tay vào vùng da dưới xương sườn và hông của người chết — nơi nội tạng giữ nhiệt độ lâu nhất của cơ thể con người.
Đôi lông mày thanh tú, sắc sảo của nàng khẽ nhíu lại trong một thoáng cực ngắn. Đó là một biến đổi biểu cảm vô cùng hiếm hoi trên gương mặt vốn phẳng lặng như tờ giấy trắng của nữ kiểm thi.
"Nhiệt độ bề mặt da hạ rất sâu," nàng nói thêm, giọng nàng như chìm xuống một tầng sâu hơn. "Đây không phải là cái lạnh tự nhiên của nước sông vùng này vào mùa thu. Nước sông Vọng Giang mùa này nhiều phù sa, dòng chảy chậm, nhiệt độ nước ở vùng nước nông không thể làm thân nhiệt một người trưởng thành giảm nhanh và sâu đến mức độ này."
Hà Công Bút ngồi trong quầy bắt đầu biến sắc. Hai con mắt ti hí của gã đảo quanh như chuột nhắt bị dồn vào chân tường, mồ hôi trên trán rịn ra làm nhòe cả lớp phấn sáp mỏng dính thoa trên mặt. Gã hắng giọng một tiếng thật to để lấy lại uy thế, chiếc quạt nan trên tay đập liên hồi xuống bàn:
"Đỗ kiểm thi! Cô chớ có ở đó mà nói càn, nói bậy làm lung lạc lòng người! Sổ sách Quầy Công Thưởng ghi rõ ràng rành mạch, chữ ký còn tươi roi rói, hắn vừa ký tên nhận bạc cách đây chưa đầy nửa canh giờ! Cô bảo hắn chết cách đây mấy canh giờ, chẳng lẽ nha môn đường đường chính chính này ban ngày ban mặt lại tiếp ma vào lĩnh tiền hay sao? Cô có biết viết một câu sai lệch vào biên bản giám định pháp y sẽ ảnh hưởng thế nào đến đợt thanh tra công thưởng sắp tới của Kinh lộ không? Chiếc ghế của quan Tri phủ còn chưa vững, cô muốn làm loạn cái nha môn này lên à?"
Đỗ Thanh hoàn toàn phớt lờ những lời đe dọa mang tính thủ tục hành chính và chính trị chốn quan trường của gã thư lại. Đối với nàng, những lời ấy chẳng có giá trị hơn tiếng ếch nhái kêu ngoài bờ ruộng sau cơn mưa rào.
Tầm mắt của nàng hạ thấp xuống, dừng lại ở phần ngực áo của người chết.
Tử thi mặc một chiếc áo ngắn bằng vải thô màu nâu xám, kiểu trang phục rẻ tiền điển hình của giới phu phen, phu khuân vác và những người làm thuê nghèo khổ ven bến tàu. Nhưng khi nàng đưa tay vạch nhẹ vạt áo, một chi tiết bất thường lập tức đập vào mắt.
Ở phần cổ áo bên phải, lớp vải gai dày đã bị rách toạc một đường dài chừng ba tấc. Mép vải sờn rách nham nhở, để lộ những sợi chỉ đay đứt tung tóe, tưa ra như bị giằng kéo bởi một lực giật rất mạnh, rất đột ngột và vội vã từ phía sau. Chiếc cúc áo làm bằng gỗ thông tiện thô ở sát cổ họng đã biến mất hoàn toàn, chỉ còn trơ lại một đoạn chỉ dù xoắn tít bị kéo đứt chân chỉ, để lại một lỗ thủng rách toạc trên nền vải gai.
Đỗ Thanh cúi sát hơn nữa. Nàng đưa ngón tay trỏ mang găng quẹt nhẹ dọc theo đường viền mép cổ áo bị sờn rách.
Dưới lớp bùn sông ráp ráp đã khô cứng, đầu ngón tay nàng cảm nhận được một lớp gợn lạo xạo bất thường. Nàng đưa ngón tay lên sát mắt, cẩn thận xoay tròn dưới ánh hoàng hôn đỏ quạch đang rọi nghiêng qua khung cửa gỗ.
Những hạt tinh thể li ti màu trắng đục, hơi óng ánh dưới ánh sáng yếu ớt, bám chặt vào từng thớ vải gai ẩm ướt. Chúng không tan chảy ngay dưới nhiệt độ oi nồng của buổi chiều, cũng không giống với cát sông Vọng Giang — thứ cát mịn màng, hạt tròn và có màu vàng nâu của phù sa cổ. Những hạt tinh thể này có cạnh sắc, dạng phiến mỏng, và khi nàng khẽ đưa lên gần mũi, một mùi tanh nồng ngai ngái xen lẫn mùi hóa chất bảo quản xác sực lên nhè nhẹ.
"Y phục này từng bị giật mạnh từ phía sau, hoặc bị thay đổi một cách vội vã khi cơ thể nạn nhân đã bắt đầu cứng lại, mất đi khả năng cử động mềm mại của người sống," Đỗ Thanh lẩm bẩm, thanh âm của nàng khô khốc nhưng mỗi từ thốt ra đều nặng như chì. "Và mép vải này... ngấm thứ gì đó không thuộc về dòng nước tự nhiên ngoài con sông kia."
"Đỗ Thanh!"
Hà Công Bút đập bàn đánh 'rầm' một cái thật mạnh, khiến chiếc nghiên mực đá trên bàn nảy lên, bắn ra vài giọt mực đen nhánh lên mép cuốn sổ chi tiêu 'Bính Thân'. Lần này gã thực sự mất kiên nhẫn, nỗi sợ hãi mơ hồ bị bóc trần biến thành cơn thịnh nộ dữ dội của kẻ nắm giữ quyền lực hành chính.
"Cô chỉ là một thợ kiểm thi theo khế ước do phủ nha bỏ tiền ra thuê về để phụ việc! Bổn phận của cô là xác định trên da thịt nạn nhân có vết đao chém, búa bổ hay vết siết cổ hay không để định tội hình, chứ không phải ngồi đó săm soi từng sợi chỉ, cái cúc áo rách rồi suy diễn linh tinh làm rối loạn kỷ cương phép nước! Ta nhắc lại cho cô nhớ lần cuối: sổ cái Quầy Công Thưởng có tên Trần Hữu Sổ, biên nhận chi tiền có chữ ký tươi và dấu điểm chỉ đỏ chót! Chuyện đó là sự thật hành chính bất di bất dịch!"
"Sự thật hành chính của dịch quan," một giọng nói trầm thấp, đều đặn vang lên cắt đứt tràng gầm thét của Hà Công Bút, "hình như bị đóng nhầm con dấu thì phải."
Người lên tiếng là Tạ Vô Danh.
Hà Công Bút giật thót người, ánh mắt giận dữ lập tức quét mạnh sang phía Tạ Vô Danh như muốn phóng ra hai ngọn lửa thiêu rụi tên kiếm khách áo rách: "Ngươi nói cái quái gì? Ngươi là cái thớ gì mà dám bàn luận về con dấu của quan nha?"
Tạ Vô Danh vẫn cầm tờ biên nhận hoa tiên mỏng manh trên tay trái. Hắn bước lên nửa bước, tiến sát lại gần khung lưới sắt. Ngón tay trỏ thô ráp, đầy những vết chai sần vì quanh năm cầm chuôi kiếm của hắn đưa lên, chỉ thẳng vào vết mộc triện hình vuông màu đỏ tươi nằm chễm chệ ngay bên cạnh chữ ký còn bóng dầu của cái tên 'Trần Hữu Sổ'.
Là một kẻ sống bằng nghề săn tiền thưởng, chuyên nhận những bản cáo thị truy nã hiểm hóc nhất và dẫn giải những tên đào phạm hung bạo từ rừng sâu núi thẳm về quy án, Tạ Vô Danh có thể không biết ngâm thơ vịnh nguyệt, không biết cách viết những bài văn biền ngẫu hoa mỹ của giới văn nhân. Nhưng những con dấu hành chính, những tờ công văn, trát đòi và biên nhận tài chính của nha môn Vọng Giang thì hắn đã nhìn thấy, đã cầm trên tay nhiều hơn bất kỳ một môn sinh nào đang dùi mài kinh sử trong Quốc Tử Giám.
Hắn biết rõ từng vết mẻ li ti trên viền con dấu đồng của phủ nha, biết rõ độ đậm nhạt của từng loại chu sa ngâm dầu thầu dầu dùng làm mực dấu, và quan trọng hơn cả, hắn nắm rõ từng nét khắc hoa văn biểu thị cho các ca trực khác nhau trong một ngày — một cơ chế phòng ngừa gian lận tài chính tinh vi mà triều đình đặt ra cho các quầy bạc công, nhưng chính đám lại dịch địa phương vì lười biếng và quen thói cửa quyền thường xuyên bỏ qua hoặc xem nhẹ.
"Con dấu vuông của Quầy Công Thưởng phủ Vọng Giang," Tạ Vô Danh chậm rãi nói, từng lời thốt ra rõ ràng, đĩnh đạc và bình thản đến mức mang tính châm biếm sâu cay, "ở góc dưới bên trái của khung viền ngoài có khắc thêm một chấm tròn nhỏ xíu bằng đầu hạt kê. Đó là triện ký bảo mật của ca trực buổi sớm, bắt đầu từ giờ Mão cho đến hết giờ Tỵ. Đến đầu giờ Ngọ, khi hai ban lại dịch tiến hành đổi ca gác, kiểm kê hòm bạc và bàn giao sổ quỹ giữa ngày, nha môn sẽ cất con dấu có chấm tròn vào tráp khóa lại, chuyển sang dùng con dấu triện trơn không có chấm tròn để tiện cho việc đối chiếu xuất nhập kho bạc vào cuối ngày."
Hắn từ từ nâng tờ giấy hoa tiên lên ngang tầm mắt của Hà Công Bút qua khe hở của khung lưới sắt, ngón tay gõ nhẹ vào vết son đỏ:
"Tờ biên nhận này của ngài ghi rõ thời khắc lĩnh bạc là 'giờ Thân một khắc' — tức là ca chiều hiện thời do chính Hà dịch quan phụ trách ký phát. Nhưng con dấu son đỏ chót này, nếu ngài chịu khó ghé mắt nhìn kỹ, lại mang rõ ràng mộc triện có chấm tròn của ca sáng. Chẳng lẽ Trần Hữu Sổ này không những biết thuật hoàn hồn sau khi chết đuối dưới đáy sông, mà còn có bản lĩnh mượn được cả con dấu của ca trực sáng đã bị niêm phong cất vào tráp từ ba canh giờ trước để tự hợp thức hóa ba mươi lượng bạc trắng của mình?"
Sảnh Quầy Công Thưởng bỗng chốc rơi vào một khoảng im lặng chết chóc.
Không gian như bị đông cứng lại trong khoảnh khắc. Tiếng quạt thông gió bằng gỗ thông trên trần nhà kẽo kẹt quay từng vòng chậm chạp. Tiếng nước phù sa từ mép chiếc chiếu rách rỉ tong tỏng xuống rãnh đá cẩm thạch nghe rõ mồn một, từng giọt, từng giọt gõ vào sự tĩnh lặng ngột ngạt như tiếng đếm ngược của một chiếc đồng hồ cát.
Khuôn mặt trắng bệch như bánh bò của Hà Công Bút trong nháy mắt chuyển từ đỏ au vì giận dữ sang trắng bệch như xác chết, rồi rất nhanh chóng sầm lại thành một màu gan heo tím tái. Hai mắt gã trợn trừng nhìn chằm chằm vào chấm tròn đỏ li ti ở góc con dấu trên tờ giấy hoa tiên — một chi tiết nhỏ đến mức mắt thường nếu không để ý kỹ sẽ tuyệt đối không thể nào nhận ra.
Những ngón tay đang cầm chiếc quạt nan đồi mồi của gã khẽ run lên bần bật.
Một tên kiếm khách áo rách rưới, một kẻ hành tẩu giang hồ chuyên làm những công việc tay chân dơ bẩn ngoài bến sông, lại có thể thuộc làu quy chế bảo mật nội bộ và quy tắc đóng dấu của nha môn còn tường tận hơn cả một viên lại mục tập sự ba năm kinh nghiệm. Đây không đơn thuần chỉ là một cái tát trời giáng vào thể diện của gã, mà là một sự đe dọa trực diện, một nguy cơ hủy diệt có thể lột phăng chiếc áo gấm và tống gã thẳng vào nhà lao nếu đợt thanh tra của Kinh lộ phát hiện ra sự việc này.
Cú lừa đã lộ ra một kẽ hở thô thiển đến nực cười — một lỗi lầm ngớ ngẩn mà chỉ những kẻ quá tự tin vào sự bao che của hệ thống, quá quen thói lộng hành và coi thường dân chúng mới có thể phạm phải trong lúc vội vã làm giả giấy tờ.
Nhưng ở cái chốn nha môn cửa sâu như biển này, quy tắc sinh tồn tối thượng của đám lại dịch chưa bao giờ là cúi đầu nhận sai, mà là biến kẻ vạch trần cái sai thành kẻ có tội.
Hà Công Bút hít một hơi thật sâu, cố nén cơn chấn động đang cuộn trào trong lồng ngực xuống tận đáy mắt. Khi gã từ từ ngẩng đầu lên, vẻ lúng túng, hoảng loạn ban nãy đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là bộ mặt lạnh lùng, hiểm độc và tàn nhẫn của một viên quan lại dày dạn kinh nghiệm đối phó với những biến cố chốn công đường.
"Hảo cho một tên Tạ Vô Danh!" Hà Công Bút cười gằn, giọng the thé rít qua kẽ răng nghe rợn người như tiếng móng tay cào vào mặt bảng đá. "Ngươi quan sát tỉ mỉ như vậy, hiểu rõ quy chế nội bộ của nha môn như vậy, xem ra chuyến này ngươi đến đây không đơn thuần chỉ là tình cờ vớt được xác chết trôi sông! Ngươi biết rõ hành trình của Trần Hữu Sổ, biết rõ cả việc hắn có liên quan mật thiết đến một khoản tiền thưởng ba mươi lượng bạc của nha môn!"
Gã chộp lấy chiếc bút lông trên nghiên mực, giật phắt một tờ giấy thụ lý màu vàng nhạt dùng để lập án đặc biệt, ngòi bút thoăn thoắt viết xuống những dòng chữ sắc nhọn đầy sát khí:
"Theo điều lệ trị an và bảo vệ công quỹ phủ Vọng Giang ban hành năm Gia Bình thứ sáu: khi xuất hiện mâu thuẫn trọng đại giữa chứng từ tài chính công và hiện trạng thi thể người báo án, đương sự trình báo có dấu hiệu can dự sâu vào việc làm sai lệch hiện trường, trộm cắp ấn tín hoặc thông đồng với kẻ gian mưu hại người có công báo tin để đoạt tiền thưởng! Nay lập biên bản khẩn cấp, lưu giữ kiếm khách Tạ Vô Danh tại sảnh chờ Quầy Công Thưởng để phối hợp đối chiếu, chờ Tri phủ đại nhân và bộ khoái đến thẩm tra chéo!"
Gã dằn mạnh chiếc nghiên mực đá xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng 'rầm' chấn động, ngón tay béo múp dính đầy vết mực đen chĩa thẳng qua khung lưới sắt, gầm lên một tiếng thất thanh:
"Người đâu! Bỏ kiếm của hắn xuống! Tước vũ khí! Cho đến khi làm rõ tại sao con dấu ca sáng lại nằm trên giấy nhận bạc của ca chiều, và tại sao ngươi lại có mặt đúng lúc, đúng chỗ để vớt được cái xác này, ngươi không được bước nửa bước ra khỏi cửa nha môn!"
"Rầm!"
Tiếng bước chân rầm rập lập tức vang lên từ hai bên hành lang. Bốn tên nha dịch to béo, mặt mày bặm trợn mặc áo nẹp đỏ viền đen, tay siết chặt những cây nha trượng bằng gỗ nghiến bịt sắt hai đầu, đồng loạt bước dồn lên nửa bước. Chúng nhanh chóng tản ra, hình thành một thế bao vây hình bán nguyệt khóa chặt mọi đường lui của Tạ Vô Danh về phía cửa sảnh lớn. Những chiếc đầu gậy bịt sắt gõ côm cốp xuống nền gạch xanh, ánh mắt đám nha dịch nhìn Tạ Vô Danh đầy vẻ cảnh giác, căng thẳng và thèm khát máu huyết — tư thế sẵn sàng cho một màn ẩu đả đổ máu quen thuộc với phường thảo mãng giang hồ dám làm loạn cửa quan.
Tạ Vô Danh không rút kiếm.
Bàn tay phải với cổ tay đang đau nhức của hắn vẫn đặt hờ hững trên đầu bao kiếm bằng gỗ sồi sứt sẹo. Những thớ cơ trên lưng hắn căng nhẹ dưới lớp áo vải chàm bạc phếch, nhưng đôi chân hắn vẫn đứng yên tại chỗ, không hề có một động tác chuẩn bị xuất chiêu hay phát kình.
Hắn biết rõ quy tắc đao kiếm của giang hồ, nhưng hắn càng hiểu rõ hơn sự tàn độc của quy tắc chốn công quyền: một khi mũi kiếm của một kẻ lưu lạc tuốt ra khỏi vỏ trong sảnh đường phủ nha, hắn sẽ lập tức bị gán cho tội danh 'phản nghịch công quyền', 'toan mưu sát quan sai'. Khi đó, cung nỏ trong kho sẽ được mang ra, bộ khoái sẽ phong tỏa toàn trấn, và hắn sẽ bị băm vằn thành trăm mảnh dưới danh nghĩa bảo vệ phép nước. Đó chính xác là chiếc bẫy thao túng tâm lý mà Hà Công Bút đang cố tình giăng ra — biến một vụ gian lận giấy tờ và biển thủ công quỹ thành một vụ bạo loạn giang hồ để dễ bề dùng đao kiếm xóa sạch mọi dấu vết cùng những kẻ biết quá nhiều.
"Ta không trốn," Tạ Vô Danh nói chậm rãi, giọng điệu bình thản đến mức khiến đám nha dịch đang lăm lăm gậy sắt phải ngỡ ngàng.
Hắn từ từ đưa tay trái tháo dải dây da buộc bao kiếm quanh thắt lưng ra. Động tác của hắn cẩn trọng, chậm rãi và minh bạch đến mức tuyệt đối không để lộ ra bất kỳ dấu hiệu tấn công nào. Hắn nâng cả thanh kiếm lẫn bao gỗ bằng hai tay, đặt nằm ngang lên mép bục đá cẩm thạch xám xịt, ngay bên cạnh đôi bàn chân đã đông cứng của tử thi.
"Nhưng biên bản của dịch quan nhớ ghi cho thật rõ ràng từng chữ: ta là người giao nộp xác chết theo đúng thông tri an dân, không phải là người thụ hưởng ba mươi lượng bạc trắng kia. Và con dấu ca sáng đó không phải do ta mang từ ngoài sông vào."
"Chuyện đó để quan trên phán xét!" Hà Công Bút hừ lạnh một tiếng đầy vẻ đắc thắng, vươn cánh tay béo múp qua khe hở của tấm lưới sắt, năm ngón tay xòe ra toan giật phắt lại tờ biên nhận hoa tiên có đóng dấu son ca sáng từ tay Tạ Vô Danh để tiêu hủy vật chứng.
Nhưng một bàn tay mang găng gai mịn đã nhanh hơn gã một bước.
Bàn tay của Đỗ Thanh lướt qua khoảng không giữa hai người nhanh như một bóng chim cắt. Những ngón tay bọc sợi gai mịn kẹp chặt lấy mép tờ giấy hoa tiên mỏng manh, kéo ngược một đường dứt khoát về phía bục đá trước khi những đầu ngón tay dính mực của Hà Công Bút kịp chạm vào mép giấy.
"Đỗ Thanh! Cô làm cái trò gì đấy?" Hà Công Bút đập bàn gầm lên, hai mắt đỏ ngầu vì tức tối.
"Niêm phong vật chứng," Đỗ Thanh đáp gọn lỏn, thanh âm lạnh tanh không chứa một giọt cảm xúc.
Nàng nhanh chóng mở nắp chiếc hòm gỗ mun, rút ra từ ngăn dưới một chiếc hộp dẹt làm bằng sắt tây không gỉ và một dải giấy niêm phong màu vàng có in sẵn triện son hình chiếc cân công lý của Tĩnh Thi Phòng.
"Theo khế ước kiểm thi số mười bốn ký kết giữa tôi và Phủ nha Vọng Giang hồi đầu năm: mọi thi thể có dấu hiệu tử vong bất thường gắn liền với các tranh chấp tài phán công vụ hoặc có dấu hiệu mờ ám về thời gian sinh học phải được bảo quản nguyên trạng cùng toàn bộ đồ tùy thân và các chứng từ liên quan trực tiếp đến hiện trường. Tờ biên nhận này có liên hệ trực tiếp đến mốc thời gian tử vong sinh học của nạn nhân Trần Hữu Sổ. Nó là một phần không thể tách rời của hồ sơ nghiệm thi ban đầu."
Nàng đặt tờ giấy hoa tiên phẳng phiu vào lòng chiếc hộp sắt dẹt, đậy nắp lại đánh 'tách' một tiếng, rồi dùng hồ dán quét nhanh dải giấy niêm phong đè chặt lên khe nắp hộp. Nàng rút chiếc bút lông nhỏ từ bao đồ nghề, thoăn thoắt ký tên mình lên mép dải giấy niêm phong bằng một nét chữ sắc sảo, dứt khoát như một nhát dao rạch da.
Làm xong mọi việc, nàng mới từ từ ngước đôi mắt đen sâu thẳm, phẳng lặng như mặt giếng cổ lên nhìn thẳng vào khuôn mặt đang co giật vì thịnh nộ của Hà Công Bút:
"Thi thể này lập tức được chuyển vào kho lạnh tạm thời của Tĩnh Thi Phòng để chờ mổ khám nghiệm sâu khoang ngực và dạ dày. Chiếc hộp sắt chứa giấy tờ này do tôi trực tiếp giữ bản sao niêm phong để chuẩn bị báo cáo kiểm tra chéo trước đoàn thanh tra của Kinh lộ sẽ tới vào ngày mai. Bất kỳ ai muốn hủy hoại, sửa chữa, đánh tráo hay thay thế tờ giấy này..."
Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như thép nguội quét qua mặt gã thư lại:
"... xin mời bước qua Tĩnh Thi Phòng lấy chữ ký của tôi."
Hà Công Bút sững sờ. Đôi môi mỏng dính của gã mím chặt lại thành một đường chỉ trắng bệch, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo gấm tím sẫm. Ánh mắt gã nhìn Đỗ Thanh tóe lên những tia lửa độc địa, hằn học nhưng bất lực. Gã nhận ra mình vừa bị kẹp chặt giữa hai kẻ cứng đầu và nguy hiểm nhất mà một viên lại dịch có thể gặp phải trong đời: một tên kiếm khách giang hồ nghèo rớt mồng tơi nhưng hiểu rõ luật lệ và quy chế công môn hơn cả quan tòa, và một nữ thợ kiểm thi quái đản coi trọng quy trình giải phẫu xác chết hơn cả mạng sống của chính mình.
Gã không thể xông ra giật lại chiếc hộp sắt trước mặt đám nha dịch mà không tự biến mình thành kẻ cướp tang vật, càng không thể ra lệnh cho nha dịch đánh chết một nữ kiểm thi có hợp đồng bảo hộ trực tiếp từ quan Tri phủ ngay giữa ban ngày ban mặt.
Tạ Vô Danh lùi lại nửa bước, tựa lưng vào cây cột đá hoa cương to lớn của sảnh chờ.
Cổ tay phải của hắn vẫn nhức nhối từng cơn theo nhịp tim đập, nhưng khóe môi hắn khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo, lạnh lẽo. Dưới lớp tro tàn của sự im lặng, trong đầu hắn, những mảnh ghép rời rạc của vụ việc bắt đầu va đập vào nhau, tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh và rùng rợn.
Trần Hữu Sổ đã chết từ nhiều canh giờ trước — có lẽ là từ lúc sương sớm còn chưa tan trên mặt sông Vọng Giang.
Một kẻ nào đó — một kẻ có quyền lực, có chìa khóa mở tráp ấn tín, hoặc có tay trong đắc lực ngay bên trong Quầy Công Thưởng này — đã dùng chính cái tên của người phu chép sổ khốn khổ ấy. Hắn đã mượn con dấu của ca trực sáng để ký khống vào một tờ biên nhận hoa tiên, ung dung rút ba mươi lượng bạc trắng nguyên chất ra khỏi kho bạc phủ ngay giữa ban ngày ban mặt.
Rồi để bịt đầu mối, hoặc để hoàn tất một kế hoạch đen tối đã được tính toán kỹ lưỡng, kẻ đó đã ném cái xác thật của Trần Hữu Sổ xuống dòng nước lạnh, neo chặt vào đám lau sậy dưới chân cọc số ba mươi hai ở Bến Hạ Thủy.
Một vụ án mạng tàn nhẫn được bọc cẩn thận bên trong một vụ biển thủ công quỹ tinh vi. Và kẻ giật dây trong bóng tối dường như đã quá tin tưởng vào sự thối rữa nhanh chóng của bùn sông, tin chắc rằng dòng nước xiết của sông Vọng Giang sẽ kịp xóa sạch mọi dấu vết trên da thịt người chết trước khi lớp mực tàu trên tờ giấy biên nhận kịp khô đi.
Nhưng người chết thì không bao giờ biết nói dối, và tờ giấy biên nhận hoa tiên kia thì vẫn còn mang chữ ký ướt mực của một kẻ mà trái tim đã ngừng đập từ rất lâu.