Đèn Lồng Phố HộiCh.1 / 3
Chapter 1

Đêm Rằm Cứu Người

Sông Hoài đêm rằm tháng Giêng năm Mậu Tý (1768) dập dềnh hàng ngàn ánh hoa đăng, tỏa bóng lung linh lên những dãy nhà gỗ mái ngói âm dương của phố Hội phồn hoa.

Gió xuân từ phía Cửa Đại thổi ngược vào lòng sông, mang theo vị mặn mòi nồng đượm của biển khơi hòa quyện cùng mùi nhang trầm nghi ngút tỏa ra từ các hội quán, miếu vũ dọc theo hai bờ. Dưới mặt nước phẳng lặng như gương, muôn vàn đóa hoa đăng bằng giấy ngũ sắc chở theo những ngọn nến le lói trôi xuôi, dập dềnh theo từng đợt sóng con vỗ nhẹ vào mạn thuyền, vẽ nên một dải ngân hà rực rỡ lay động giữa chốn trần gian. Trên bờ, cầu ván ken dày thuyền buôn san sát, từ những chiếc thuyền bầu xứ Đàng Trong lặc lè chở cau khô, hồ tiêu, đường cát, cho đến những chiến hải thuyền to lớn của thương nhân Phúc Kiến, Triều Châu sơn son thiếp vàng, chạm trổ hình mắt cá thao láo nơi mũi thuyền để xua đuổi thủy quái. Tiếng gõ phách lách cách từ những chiếc thuyền chài neo dưới rặng dừa nước xen lẫn tiếng cười nói xôn xao của khách trẩy hội du xuân, tiếng rao hàng quà bánh rộn rã bằng cả tiếng Việt, tiếng Hoa và thứ âm ngữ lơ lớ, nặng trịch của những thương nhân Tây Dương tóc xoăn mắt biếc vừa cập bến sau chuyến hải hành đằng đẵng từ phương xa.

Tô Mộc Lan đứng bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát mép nước, đôi tay thoăn thoắt xếp lại những chiếc đèn lồng lụa hình quả trám và hoa sen vừa bồi xong. Từng thớ lụa dâu tằm dán chặt vào nan tre già chuốt mỏng, lớp hồ nếp quết đều tay căng bóng như da thịt thiếu nữ, đón lấy ánh sáng vàng dịu từ chiếc đèn lồng treo trên cọc tre hắt xuống gương mặt nàng. Ánh nến làm nổi bật đôi mày thanh tú như nét vẽ mực tàu, sống mũi thon gọn và đôi mắt sáng ngời, sâu thẳm phẳng lặng như làn nước đêm rằm. Tấm áo dài vải thô màu hoa hiên đã ngả màu sương gió, chiếc yếm đào bạc phếch nơi cổ áo cài khuy đồng cũ kỹ không giấu nổi nét thanh xuân kín đáo, đoan trang của người con gái vừa tròn mười chín tuổi. Nàng làm việc không ngơi tay, ngón tay thon dài thoạt nhìn yếu ớt nhưng khi miết lên cật tre hay vuốt phẳng mép giấy bồi lại mang một sự dẻo dai, chuẩn xác đến lạ lùng.

"Lan à... Khách đông thế này, con coi chừng kẻ gian chen lấn..."

Một tiếng ho khan ngắt quãng, nặng nề vang lên từ phía sau tấm mành nứa. Tô Văn Sâm, cha nàng, ngồi co ro trên chiếc chõng tre kê sát mép hiên xưởng đèn. Ông cụ chừng ngoài ngũ tuần nhưng lưng đã còng rạp xuống như một thân tre uốn cong quá độ, mái tóc hoa râm xơ xác búi lỏng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ trắc trơn nhẵn. Hai bàn tay ông thô ráp, chai sần, chằng chịt những vết sẹo cứa sâu hoắm của cật tre qua hàng chục năm theo nghề vót nan dán đèn, những đốt ngón tay sưng to vì ngâm nước phù sa quá lâu thuở còn trai trẻ. Mỗi cơn gió lùa từ sông vào lại khiến lồng ngực gầy guộc của ông thắt lại từng cơn, tiếng thở khò khè kéo dài đau đớn, nghe như tiếng dũa rỉ sét cào qua thanh sắt nguội.

Lan vội buông chiếc đèn lụa màu cánh sen xuống mặt bàn, bước nhanh lại gần chiếc chõng tre. Nàng với lấy chiếc khăn rằn vắt trên đầu cột, choàng thêm lên đôi vai run rẩy của cha, rồi ngồi ghé xuống mép chõng, dịu dàng đưa bàn tay ấm áp xoa nhẹ sống lưng ông:

"Gió độc lắm cha, con đã bảo cha cứ vào trong buồng nằm nghỉ, ngoài này có mình con quán xuyến được mà. Thuốc sắc lúc chiều con ủ trong ấm đất bên bếp than, còn ấm lắm, cha uống một ngụm cho ấm giọng đi kẻo lại lên cơn hen."

Ông Sâm run rẩy xua xua tay, ánh mắt đục mờ vì sương khói cuộc đời đượm vẻ xót xa nhìn đứa con gái côi cút:

"Cha nằm một mình trong đó sốt ruột lắm. Rằm tháng Giêng là phiên chợ lớn nhất mùa gió chướng, tàu bè khắp nơi đổ về cập bến tấp nập, hàng phố mở cửa thâu đêm suốt sáng. Bán được nhiều đèn đêm nay thì mới mong gom đủ tiền mua thêm mấy thang thuốc tễ và trả bớt món nợ mua nan tre, hồ nếp tháng trước cho nhà họ Mã bên phố Khách... Khổ thân con, tuổi này con gái nhà người ta xúng xính xiêm y mớ ba mớ bảy đi hội quán dâng hương, ngắm hoa thưởng nguyệt, còn con thì quanh năm suốt tháng vùi đầu vào nồi hồ nếp với đống cật tre mục nát này."

"Được cùng cha giữ lấy xưởng đèn của mẹ để lại là con mãn nguyện rồi, hội hè có là bao đâu cha." Lan khẽ cười, nụ cười phảng phất nét trầm buồn nhưng kiên định như hoa mai nở muộn giữa ngày đông. "Mẹ ngày xưa từng dạy, làm ra chiếc đèn soi sáng cho người ta đi đêm, thắp lên ngọn lửa ấm cúng nơi hiên nhà kẻ khác, cũng là một cái phúc đức ở đời. Con không thấy khổ đâu."

Nàng cẩn thận đỡ lấy chén nước thuốc màu nâu sẫm từ tay nải, đưa tận môi cha, chờ ông nhấp từng ngụm nhỏ rồi lấy khăn lau sạch khóe miệng cho ông. Khi ông Sâm đã tựa lưng vào vách nứa thở đều hơn, Lan mới quay trở lại mép sông, tiếp tục công việc của mình.

Nàng châm lửa vào những đài hoa bằng giấy bồi giao cho khách thả đăng cầu an. Bàn tay nàng mềm mại lướt qua từng cánh sen giấy ngũ sắc, ngón tay thoăn thoắt gảy nhẹ tim bấc, ngọn lửa bùng lên ấm áp soi tỏ những dòng chữ Hán chân phương, nắn nót do chính tay nàng chép trên cánh hoa: *Phong điều vũ thuận, gia đạo bình an*. Những nét thảo thanh thoát, phóng khoáng ẩn chứa cốt cách thanh cao, khác xa thứ chữ vụng về của những kẻ viết thuê đầu chợ.

Ít ai trong đám phu bến lấm lem hay bạn hàng quanh chợ biết rằng con gái của một lão thợ đèn nghèo kiết xác bên bờ sông Hoài lại thông thạo mặt chữ, có thể đọc vanh vách các văn tự giao thương bằng chữ Nho và chữ Nôm phức tạp. Đó là bí mật mà hai cha con đã gìn giữ suốt hơn mười năm qua, kể từ sau cái chết oan khiên, đầy uẩn khúc của mẹ nàng. Thuở trước, người mẹ quá cố từng để lại vài cuốn sách cũ cùng những nét chữ dở dang trước khi nhắm mắt xuôi tay trong một đêm mưa gió mù mịt. Sau biến cố đau thương ấy, chính ông Tô Văn Sâm đã âm thầm, nhẫn nại chong ngọn đèn dầu lén dạy chữ cho Lan sau cánh cửa liếp cài chặt mỗi đêm khuya, đem từng con chữ và bí quyết nghề đèn truyền lại cho đứa con gái côi cút. Ông luôn nghiêm khắc dặn dò nàng phải chôn chặt sở học ấy tận đáy lòng, tuyệt đối không được để lộ cho người ngoài biết, vừa để bảo toàn mạng sống vừa tránh khuấy động lại nỗi oan khuất chưa tỏ năm xưa.

Trong lúc trao chiếc hoa đăng hình đóa sen trắng cho một gia đình Hoa kiều giàu có, ánh mắt sắc sảo của Lan chợt khựng lại nơi khoảng tối phía hạ lưu.

Cách bến ván chừng hai mươi bước chân, bóng tối rậm rạp của rặng dừa nước che khuất một toán người mặc áo chẽn đen bằng vải thô nhuộm củ nâu, ống quần xắn cao, ngang hông giắt đoản đao bọc vải bố cẩn thận. Dẫn đầu bọn chúng là một gã đàn ông vạm vỡ có bờ vai rộng như phản thịt, khuôn mặt vuông vức dữ tợn với một vết thẹo dài chạy dọc từ thái dương xuống tận gò má trái — Võ Bá, quản sự khét tiếng tàn bạo của mạng lưới kho bến dưới trướng các thương nhân quyền thế phố Hội. Đôi mắt ti hí một mí của gã như mắt chim cắt trong đêm, quét qua từng chiếc thuyền buôn đang neo đậu san sát, chốc chốc lại giơ bàn tay hộ pháp ra hiệu cho đám lâu la tản ra các ngả hẻm nhỏ ngoằn ngoèo thông lên chợ phố.

Bến sông Hoài đêm nay ngoài vẻ náo nhiệt, phồn hoa của hội hoa đăng, dường như đang ngầm sôi sục một luồng sát khí buốt giá đến gai người. Đám tay sai của Võ Bá không giống như đang đi tuần tiễu thu tiền hoa chi bến bãi thông thường; bước chân chúng dồn dập, gấp gáp, mắt gườm gườm sục sạo vào từng gánh hàng rong, soi đuốc đỏ lòm vào cả những khoang thuyền chở gốm sứ đang chờ bốc dỡ của khách buôn. Lan siết nhẹ mép vạt áo thô, lồng ngực khẽ phập phồng. Linh tính nhạy bén của một người lớn lên giữa chốn giao thương phức tạp mách bảo nàng rằng nơi bến cảng tấp nập này sắp sửa nổi cơn sóng dữ.

***

Cách đó ba con ngõ sâu hút, sát mé bờ thành của kho hàng Trường Mộc nằm lặng lẽ trong bóng tối, một bóng đen mảnh khảnh đang dán chặt mình vào bờ tường gạch rêu phong tróc lở.

Nguyễn Hữu Thành nín thở, lắng nghe tiếng bước chân rầm rập của toán lính tuần tiễu vừa lướt qua đầu ngõ. Dưới ánh trăng rằm vằng vặc chen lấn cùng ánh đèn lồng từ dãy phố chính hắt sang, diện mạo của chàng lộ ra dưới lớp cải trang vô cùng cẩn thận: manh áo vải gai thô màu nâu sồng đã sờn rách ở mép tay, ống quần lấm lem bùn đất sình lầy của vùng cửa sông, chiếc khăn chít đầu bằng vải thô sẫm màu quấn nhiều vòng che bớt vầng trán cao và đôi mày kiếm sắc bén như dao khắc. Dù cố tình cúi gập lưng và mang vẻ ngoài nhếch nhác của một thư sinh nghèo rớt mồng tơi mang tên giả Trần Minh, nhưng bờ vai rộng vững chãi, thế đứng chìm sâu xuống đất cùng đôi mắt sáng quắc ngưng tụ hàn quang vẫn toát lên phong thái của một bậc quyền quý tinh thông võ nghệ thượng thừa.

Thành siết chặt nắm tay, lòng bàn tay rát buốt vì vết trầy xước rớm máu khi trèo qua hàng rào gỗ nhọn hoắt của kho bãi ban nãy.

Chỉ nửa khắc trước, chàng đã lén bám theo một toán phu khuân vác bốc dỡ các kiện hàng nan tre từ một chiếc thuyền buôn không hề cắm cờ hiệu hay đèn lồng nhận diện, vừa lầm lũi cập bến vắng phía sau kho Trường Mộc. Đáng lý ra, theo nghiêm luật của triều đình Đàng Trong, toàn bộ hàng hóa nhập cảng đêm nay phải neo tại vũng Cửa Đại, qua sự kiểm duyệt gắt gao của nha môn thương chánh, đóng dấu triện son và nộp thuế quan đầy đủ mới được phép vận chuyển vào nội thị. Thế nhưng, toán người của Võ Bá lại lén lút chuyển những sọt nan tre dán kín giấy bản vào thẳng cửa ngách kho Trường Mộc giữa lúc lính tuần chính quy đổi ca gác.

Thành đã tận mắt thấy một kiện tre bị trượt rơi trên cầu ván trơn tuột, va mạnh vào cọc neo khiến nẹp gỗ bung ra, nứt toác một góc lớn. Bên dưới lớp cá khô bốc mùi nồng nặc và hương liệu thông thường lót dày ở đáy sọt, lộ ra những khối gỗ sẫm màu, nằng nặng, tỏa ra một mùi hương thanh khiết, ngạt ngào mà chỉ người am tường hàng quý mới nhận ra: trầm hương thượng hạng loại một, thứ sản vật cấm ngặt chỉ dành riêng cho phủ Chúa và hoàng cung.

Kinh hoàng hơn cả, trên mép mảnh gỗ niêm phong rơi ra từ kẽ kiện hàng gãy nát, dấu triện son đỏ chót in rõ bốn chữ *Thương Chánh Ty Triện* kèm theo nét ký thảo uốn lượn đặc thù hình cánh phượng — con dấu và thủ bút độc môn của phụ thân chàng, quan Cai bạ Nguyễn Hữu Chính, hoàn toàn trùng khớp với nét mực trong cuốn sổ giao dịch trầm lậu mà chàng tình cờ phát hiện vài ngày trước.

"Không thể nào... Cha ta cả đời thanh liêm chính trực, tuyệt đối không bao giờ là kẻ thông đồng buôn lậu hại dân hại nước!" Thành cắn chặt môi dưới đến rớm máu tươi, vị tanh ngọt lan ra đầu lưỡi giúp chàng giữ vững sự tỉnh táo giữa cơn bàng hoàng.

Mấy ngày trước, khi vô tình phát hiện bản ghi chép từ một cuốn sổ giao dịch trầm lậu có mang chữ ký cùng con dấu của cha mình, mối nghi ngờ nhức nhối như gai đâm vào tim ấy đã thúc đẩy chàng từ bỏ lụa là nhung gấm trong dinh thự Nguyễn phủ nguy nga, tạm gác thân phận đại thiếu gia đang chuẩn bị định sẵn hôn ước quyền quý với thiên kim tiểu thư họ Trần danh giá. Chàng khoác lên mình manh áo gai rách rưới, lấy tên giả Trần Minh để dấn thân vào chốn bến nước bẩn thỉu, quyết tâm lần theo tuyến vận chuyển đêm rằm nhằm làm rõ thực hư và tìm ra kẻ to gan giả mạo thủ bút của phụ thân. Nào ngờ đêm nay, tận mắt chứng kiến kiện trầm hương cấm ngặt cùng thẻ niêm phong mang nét ký ấy sờ sờ ngay trước mắt, sự thật cay đắng bỗng chốc đè nặng lên vai chàng tựa ngàn cân.

Thế nhưng, hành tung cẩn mật của chàng đã bất ngờ bị bại lộ khi một viên đá vụn dưới chân vô tình lăn xuống mép nước, phát ra tiếng động khẽ khàng giữa đêm thanh vắng.

"Bắt lấy nó! Thằng thư sinh rách đó thấy hết rồi! Giết không tha!"

Tiếng thét the thé, the thé như tiếng lợn bị chọc tiết của một tên quản lý kho rạch toang màn đêm tĩnh mịch. Ngay sau đó là tiếng còi đồng rúc lên từng hồi dồn dập, chói tai, kéo theo tiếng chân rầm rập của hơn chục tay sai cầm gậy gộc bọc sắt và mã tấu sắc lẹm từ mép bờ sông túa tới như bầy ong vỡ tổ.

"Nó chạy ngõ Chùa Cầu! Chặn đầu hẻm lại! Đừng để nó lọt ra phố chính!"

Thành nghiến răng ken két, thân hình chàng vút đi như một cánh én lướt trên mặt ngõ lầy lội trơn trượt. Chàng không thể rút thanh đoản kiếm gia truyền giấu trong bọc hay thi triển những thế võ cấm vệ quân học từ nhỏ trong phủ, bởi chỉ cần một đường kiếm, một thế cước lộ ra, thân phận con trai quan Cai bạ sẽ lập tức bị phơi bày. Kẻ thù trong bóng tối sẽ vin vào đó để vu cáo Nguyễn gia diệt khẩu, kéo theo toàn bộ dòng tộc rơi vào cạm bẫy chính trị tàn độc mà chúng đã dày công giăng sẵn. Chàng chỉ có thể dùng thân pháp linh hoạt luồn lách qua các ngõ hẹp quanh co, khúc khuỷu của khu phố cổ, lợi dụng những bờ tường thấp, giàn hoa giấy và mái hiên che khuất bóng trăng để cắt đuôi lũ truy đuổi.

Nhưng đám tay chân của Võ Bá là lũ cáo già thông thuộc từng viên gạch, từng khúc ngoặt nơi bến bãi. Chúng nhanh chóng chia làm ba ngả, bọc hậu từ phía chợ gốm và mé bờ sông, dồn chàng vào thế gọng kìm không lối thoát. Tiếng gậy sắt đập chan chát vào vách ván nhà dân, tiếng chó sủa râm ran khắp xóm cùng tiếng chửi thề tục tĩu mỗi lúc một áp sát sau lưng.

Một tên lâu la bất thần nhảy xổ ra từ góc ngoặt tối tăm, ngọn đoản đao vung lên chém xéo qua vai Thành trong làn gió rít buốt lạnh. Chàng nghiêng mình né tránh trong đường tơ kẽ tóc, lưỡi đao sắc bén chém toạc một đường dài trên mép áo gai thô, cứa vào da thịt chàng một vết thương rát bỏng. Thuận theo đà né, Thành xoay người tung một chưởng kín đáo đánh trúng huyệt chấn thủy của đối phương khiến gã ngã dúi dụi xuống đất, không kịp rên lên một tiếng. Dẫu vậy, khoảng trễ nửa nhịp thở ấy đã khiến toán người hung hãn phía sau kịp áp sát chỉ còn cách chàng hơn mười bước.

"Đằng kia! Mau lên, nó cùng đường rồi!"

Thành cắm đầu lao qua một con hẻm cụt hẹp chỉ vừa một người lách qua, nơi ánh sáng hoa đăng từ bờ sông phía xa hắt lại tạo thành những vệt sáng tối loang lổ trên bức tường vôi cũ kỹ. Phía trước mặt chàng là bức tường gỗ dày ngăn cách khuôn viên của một xưởng thủ công sát vách bến sông Hoài. Hết đường thoái lui, chàng buộc phải nép mình vào khoảng tối sâu hoắm tạo bởi khe hở giữa vách gỗ xưởng đèn và đống thân tre ngâm chất cao quá đầu người bốc mùi ngai ngái.

Chàng ghìm chặt hơi thở hỗn hển, ép sát lồng ngực vào vách gỗ lạnh ngắt, bàn tay phải lần vào ngực áo siết chặt một mảnh nan tre gãy vấy bùn vừa nhặt được từ kiện hàng lậu ban nãy. Chàng sẵn sàng cho một trận tử chiến đẫm máu dù biết chắc mình sẽ lâm vào thế cô lực kiệt giữa bầy sói dữ.

Đúng vào khoảnh khắc ngọn đuốc đầu tiên của quân truy đuổi rọi sáng đầu hẻm, cánh cửa gỗ bên hông xưởng khẽ kẹt một tiếng rất nhỏ, chỉ tựa như tiếng chuột chạy qua xà nhà.

Một bàn tay thon nhỏ nhưng dứt khoát thò ra từ khe hở bóng tối, năm ngón tay mềm mại nắm chặt lấy cổ tay chàng giật mạnh vào bên trong.

***

Thành theo phản xạ tự nhiên của con nhà võ định tung đòn gạt phắt bàn tay lạ mặt, bẻ gãy khớp tay kẻ dám tiếp cận mình, nhưng khi ánh mắt chàng chạm phải đôi đồng tử trong veo, bình thản lạ thường của một cô gái dưới ánh đèn dầu tù mù hắt qua khe liếp, chàng bất giác khựng lại.

"Im lặng. Muốn sống thì bước vào." Lan thì thầm bên tai chàng, giọng nói trầm thấp nhưng rõ ràng, dứt khoát đến mức khiến Thành không kịp nghĩ ngợi mà thuận theo lực kéo bất ngờ của nàng bước qua bậu cửa gỗ lim trơn nhẵn.

Cánh cửa gỗ ván ghép lập tức khép lại êm ru, chiếc then cài bằng gỗ lim được trượt nhẹ vào ổ một cách thuần thục, không phát ra lấy nửa tiếng động thừa thãi nào.

Không gian bên trong xưởng đèn Tô gia ngập tràn mùi hương đặc trưng, ngột ngạt nhưng ấm cúng: mùi ngai ngái nồng nồng của tre cật mới chẻ còn tươi nhựa, mùi hăng hắc của khói hun chống mối mọt bám chặt vào từng thớ gỗ xà ngang, và mùi thơm ngọt dịu của nồi hồ nếp quết quánh đang sôi liu riu trên bếp than hồng rực ở góc nhà. Khắp gian phòng rộng là những giàn khung tre cao ngất ngưởng chạm đến tận xà gồ mái ngói âm dương, treo lủng lẳng hàng trăm bộ sườn đèn lồng với đủ mọi kích cỡ, hình dáng kỳ ảo: từ đèn quả trám thanh mảnh, đèn lồng lục giác uy nghiêm, đến những bộ khung đèn kéo quân phức tạp nhiều tầng lớp chưa bồi giấy.

"Đi theo tôi, cúi thấp người xuống." Lan tiếp tục thì thầm. Hơi thở của nàng phả nhẹ qua gò má Thành, mang theo hương thơm thoang thoảng của hoa bưởi cài tóc lẫn mùi lá sen khô thanh khiết, đối lập hoàn toàn với mùi máu tanh và khói lửa vừa bám riết lấy chàng ngoài ngõ hẻm.

Nàng dẫn chàng luồn lách qua mê cung chằng chịt của những giàn tre vót nhẵn, đi thẳng vào gian kho bồi lụa nằm sâu bên trong cùng sát mép sông. Nơi đây, những dải lụa tơ tằm trắng ngà, lụa đỏ hoa đào và giấy dó bồi hồ được phơi trên các thanh sào ngang tầng tầng lớp lớp, rủ xuống mềm mại như một bức màn che kín mít từ trần nhà xuống tận nền đất nện.

Lan đẩy Thành ngồi thụp xuống khoảng trống hẹp phía sau một tấm phản gỗ lớn dựng đứng dựa vào tường — nơi cất giữ những bó lụa vụn, vỏ bào và củi tre khô dùng để đun hồ. Nàng thoăn thoắt kéo ba tấm rèm lụa bồi đỏ thắm phủ kín phía trước, biến góc kẹt ấy thành một khoảng tối hoàn toàn tách biệt với ánh sáng le lói bên ngoài.

"Dù nghe thấy gì cũng tuyệt đối không được cử động, không được phát ra tiếng thở." Nàng dặn nhỏ một câu ngắn gọn, đôi mắt nhìn thẳng vào mắt chàng dưới khoảng tối với một vẻ nghiêm nghị, bình tĩnh hiếm thấy ở một thôn nữ bình thường chốn bến sông.

Thành nhìn người con gái trước mặt, cổ họng chàng nghẹn ứ lại trước sự quả quyết của nàng, chỉ kịp gật đầu rất khẽ: "Đa tạ cô nương..."

Chưa dứt lời, bên ngoài con hẻm đã vang lên tiếng đập cửa rầm rầm như muốn xé toạc từng thớ vách gỗ của xưởng đèn.

"Mở cửa! Mở cửa ra ngay! Lính tuần tra xét kho!" Tiếng quát tháo dữ tợn, man rợ của đám tay sai Võ Bá vang dội khắp con hẻm nhỏ ven sông, át cả tiếng sóng vỗ.

Lan không hề bối rối hay tỏ vẻ hoảng loạn. Nàng nhanh tay bốc một nắm mạt cưa mịn và bụi than đen dưới sàn xoa nhẹ lên hai bàn tay, vò nhẹ mép tà áo hoa hiên để tạo vẻ luộm thuộm của người thợ đang bận rộn làm việc dở dang, rồi thong thả bước ra gian ngoài. Tiếng ho rũ rượi, đau đớn của ông Tô Văn Sâm từ trên chõng tre cất lên đúng lúc, hòa lẫn tiếng then cài cửa lách cách mở ra một cách chậm rãi, vụng về.

"Dạ, các quan bác tìm ai? Đêm hôm rằm thanh tịnh thế này..." Giọng Lan cất lên, cố tình pha chút ngơ ngác, mộc mạc và có phần sợ sệt của kẻ làm nghề tay chân thấp kém quanh năm không dám nhìn mặt quan quyền.

Cánh cửa gỗ bị đẩy bật ra thô bạo, va mạnh vào vách ván kêu lên một tiếng *rầm*. Ba gã đàn ông vạm vỡ tay lăm lăm đoản đao tuốt trần sấn sổ bước vào, ngọn đuốc trên tay bốc khói đen ngùn ngụt soi rọi khắp gian nhà chật chội. Đi đầu là một tên mặt rỗ hoa, tròng mắt trắng dã lồi ra hung ác, gã quét ánh nhìn săm soi khắp các ngóc ngách, chiếc mũi hếch lên khịt khịt liên hồi như chó săn đánh hơi thấy mồi lạ.

"Con ranh kia! Ban nãy có thấy một thằng mặc áo gai rách, người đầy bùn đất chạy trốn qua ngõ này không?"

Lan chớp chớp mắt, vẻ mặt ngơ ngác, hai bàn tay nắm chặt vạt áo run run như sợ sệt:

"Dạ bẩm các bác... ngõ bờ sông này tối thui tối mò, từ chập tối tới giờ chỉ có khách thả hoa đăng với mấy bà bán bánh tét qua lại thôi ạ. Xưởng đèn nhà con đang phải thức thâu đêm để dán cho kịp chuyến hàng sáu mươi chiếc lồng đèn lục giác giao cho thuyền buôn Phúc Kiến sáng sớm mai khi con nước lên, hồ nếp đang sôi sùng sục trên bếp lửa, con đâu dám lơ là nửa bước mà ngó ra ngoài đường xá..."

Tên mặt rỗ gạt phắt Lan sang một bên khiến nàng lảo đảo, gã sấn tới trước mặt ông Sâm đang ngồi ôm ngực ho sặc sụa trên chõng tre:

"Lão già! Mắt lão có mù không? Có thấy thằng nào chui vào đây trốn không? Nói dối một câu là tao chém bay đầu cả hai bố con nhà mày quăng xuống sông cho cá rỉa!"

Ông Sâm ôm chặt lấy lồng ngực gầy giơ xương, toàn thân run rẩy như thằn lằn đứt đuôi, chắp hai bàn tay sần sùi vái lạy lia lịa:

"Lạy các thầy... lạy các thầy tha mạng... lão... khụ khụ... khụ... lão bị bệnh lao phổi ho ra máu mấy năm nay... hơi thở chẳng ra hơi... tai điếc mắt mờ... nào thấy ai đâu... Các thầy coi, trong nhà ngoài cửa chỉ có đống tre mục ngâm sình với nồi hồ nếp..."

"Khốn kiếp! Mùi hồ nếp chua loét thối hoắc!" Một tên lâu la khác đi phía sau bịt mũi làu bàu ghê tởm, tiện chân đá tung một sọt nan tre ngâm nước đặt cạnh cửa khiến nước đục ngầu bắn tung tóe lên nền đất nện.

Tên mặt rỗ không dễ dàng bỏ qua như đồng bọn. Hắn là kẻ đa nghi có tiếng trong đám tay sai của Võ Bá. Gã cầm ngọn đuốc rực lửa bước sâu vào gian trong, mắt dừng lại trước những giàn khung tre cao ngất ngưởng và các dải lụa phơi rủ xuống kín mít.

Nấp sau tấm phản gỗ dày, Thành nín thở hoàn toàn. Bàn tay chàng đặt lên bắp chân, từng thớ cơ bắp căng cứng như một cánh cung đã kéo hết cỡ. Khoảng cách giữa ngọn đuốc rừng rực của tên mặt rỗ và tấm rèm lụa che chắn chàng chỉ còn chưa đầy ba bước chân. Dưới ánh lửa bập bùng lay động, bóng hình cao lớn đầy sát khí của tên cướp in rõ mồn một lên tấm vải mỏng manh.

Thành âm thầm tính toán từng khắc trong đầu: nếu tên này tiến thêm một bước nữa và vung tay vén rèm lên, chàng sẽ phải lập tức dùng thế cọp vồ mồi bẻ gãy cổ họng gã trước khi gã kịp phát ra tiếng kêu báo động, sau đó đoạt lấy thanh đoản đao phá vòng vây để bảo toàn tính mạng cho hai cha con người thợ đèn vô tội. Một phen huyết chiến sinh tử là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng đúng khoảnh khắc ngón tay thô ráp của tên mặt rỗ chạm vào mép dải lụa đỏ, giọng nói lanh lảnh của Lan vang lên ngay sát bên cạnh, âm lượng vừa đủ để giật giật màng nhĩ gã:

"Bác ơi cẩn thận ngọn lửa! Đống lụa đó là sa lụa tơ tằm hảo hạng tẩm dầu trẩu chống thấm nước của thương quán Triều Châu gửi gia công đấy ạ! Một đốm tàn đuốc nhỏ rơi vào là bốc cháy cả xưởng ngay tức khắc, đền không xiết tiền vạn bạc ngàn của các chủ bang đâu bác ơi!"

Tên mặt rỗ giật thót mình, ngọn đuốc trên tay khẽ rụt về phía sau nửa thước. Dầu trẩu là thứ dầu cực kỳ dễ bắt lửa, một khi đã cháy thì nước thường không dập nổi. Lan liền nhanh nhảu bước lên nửa bước, khéo léo chắn ngang giữa tên này và giàn lụa phơi, vẻ mặt đầy nét lo âu, chất phác nhưng ánh mắt lại nhìn thẳng vào mắt gã:

"Bác muốn tìm người trộm cắp hay phạm pháp gì, cứ để con cầm ngọn đèn dầu nhỏ rọi cho bác xem gầm phản, gầm chõng cho tường tận. Chứ rủi lỡ tay bén lửa thiêu rụi cái xưởng đèn tồi tàn Tô gia này thì chẳng nói làm gì, nhưng lửa mà bốc lên cao, lan ra cả dãy kho hàng tơ lụa của Trần gia sát vách bên kia... quan Cai bạ với nha thương chánh sớm mai tra xét xuống thì cái tội vạ phóng hỏa ấy ai gánh nổi cho chúng con, và liệu các quan trên có để yên cho bến bãi của bác không..."

Nghe Lan nhắc đến hai chữ "Trần gia" và đặc biệt là "quan Cai bạ", sắc mặt tên mặt rỗ khẽ biến đổi rõ rệt. Trần gia là gia tộc cự thương giàu có bậc nhất phố Hội, lại có mối liên hệ mật thiết với nha môn thương chánh. Hắn liếc nhìn cô gái nhỏ bé mặc áo vải thô trước mặt, thấy nét mặt nàng vừa ngây thơ, chất phác lại vừa có cái lý đanh thép, am hiểu sự đời của phường buôn bán bến cảng, trong mắt không có lấy một tia hoảng loạn hay vẻ gì là che giấu kẻ gian. Hắn nhìn quanh đống vỏ bào, củi mục bừa bộn khắp xưởng, mạng nhện giăng đầy xà nhà, rồi lại ngó sang nồi hồ nếp đang sôi sùng sục bốc khói ngùn ngụt đầy mùi chua nồng.

Đúng lúc đó, bên ngoài ngõ hẹp, tiếng còi đồng lại rúc lên một hồi dài giục giã, kèm theo tiếng gầm thét giật giọng của Võ Bá vọng lại:

"Lũ bay đâu rồi? Ra bến Cầu Khảm mau! Thằng ranh đó nhảy xuống thuyền tam bản xuôi ra Cửa Đại rồi! Đuổi theo thuyền mau!"

Tên mặt rỗ nhổ toẹt một bãi nước miếng xuống sàn đất nện, trừng mắt trừng mũi đe dọa Lan:

"Liệu hồn đấy con ranh! Đêm nay tao bận việc lớn tha cho cha con mày. Nếu tao mà phát hiện mày chứa chấp quân gian thì cả cái xưởng rách này không còn lấy một manh giáp, nghe chưa!"

Dứt lời, gã vung tay áo hậm hực quay gót, cùng hai tên đồng bọn rầm rộ kéo nhau ra ngoài ngõ. Cánh cửa gỗ bị chúng giật mạnh khép lại đánh *sầm*. Tiếng bước chân thình thịch và tiếng chửi rủa tục tĩu xa dần về phía bến sông, rồi chìm hẳn vào tiếng sóng vỗ ì oạp và tiếng đàn địch, cười nói huyên náo của dòng người trẩy hội hoa đăng ngoài phố lớn.

***

Trong gian xưởng tối tăm, ngột ngạt, Lan vẫn đứng yên bất động như một pho tượng gỗ thêm một tuần trà. Nàng nghiêng tai lắng nghe từng tiếng động nhỏ ngoài ngõ, từng tiếng gió rít qua khe liếp và tiếng sóng vỗ mạn thuyền dưới bến sông. Khi chắc chắn toán người hung hãn của Võ Bá đã hoàn toàn rút xa khỏi khu vực bến ván, nàng mới khẽ thở phào một hơi dài thấu ruột gan, đôi vai mảnh khảnh khẽ chùng xuống.

Nàng bước tới cửa lớn, cẩn thận gài chặt then lim, kéo tấm liếp nứa dày che kín các khe hở ánh sáng rồi mới quay người đi vào gian trong.

Đến bên tấm phản gỗ, Lan nhẹ nhàng đưa tay vén dải lụa đỏ lên, cất giọng dịu dàng nhưng không giấu nổi sự mệt mỏi sau cơn căng thẳng tột độ:

"Bọn chúng đi xa rồi. Huynh có thể ra ngoài được rồi đó."

Thành từ sau tấm phản gỗ từ từ đứng dậy. Chàng phủi nhẹ những mảnh vụn gỗ và bụi bẩn bám trên manh áo gai thô, bước ra ngoài khoảng sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu. Dưới ánh sáng vàng vọt, chàng chăm chú nhìn cô gái nghèo trước mặt với ánh mắt chan chứa sự kinh ngạc và thán phục sâu sắc.

Một cô gái mười chín tuổi, thân cô thế cô giữa chốn bến bãi giang hồ hiểm ác, đối diện với những tên đao búa hung tợn, giết người không chớp mắt của Võ Bá mà sắc mặt không hề biến đổi. Từng lời, từng chữ nàng thốt ra đều vô cùng chuẩn xác, khéo léo dùng uy thế của các hội quán Hoa thương và danh tiếng của nha môn thương chánh để chặn họng kẻ truy bắt; nàng vừa đánh trúng vào lòng tham tiền của chúng, vừa khơi dậy nỗi sợ hãi bị quan trên trừng phạt mà không để lộ nửa phần sơ hở. Sự cơ trí, gan dạ và bình tĩnh đến lạnh lùng ấy, dẫu là những bậc nam nhi chốn quan trường hay các vị công tử được dùi mài kinh sử trong các thư viện lớn cũng chưa chắc đã có được trong khoảnh khắc cận kề cái chết.

Thành chắp hai tay lại, cúi gập người thật sâu làm một lễ trang trọng theo đúng phép tắc của kẻ sĩ Đàng Trong:

"Tại hạ họ Trần, tên Minh, là một thư sinh nghèo từ vùng ngoài vào phố Hội tầm sư học đạo. Đêm nay vì tính khí nông nổi, tò mò chuyện bến bãi mà vô tình chuốc họa vào thân, may nhờ có cô nương trượng nghĩa ra tay cứu giúp trong đường tơ kẽ tóc, bảo toàn được tính mạng này. Ơn sâu nghĩa nặng này tựa như tái sinh, Trần Minh xin ghi lòng tạc dạ, ngày sau nếu còn sống sót nhất định sẽ báo đáp vẹn toàn."

Lan nhìn chàng thư sinh khôi ngô nhưng lấm lem bùn đất đang cúi đầu thi lễ, nàng khẽ mỉm cười. Nụ cười của nàng khiến đôi mắt cong cong như vành trăng non đầu tháng, xua tan đi vẻ nghiêm nghị lúc nãy, nhưng nàng nhanh chóng xua xua tay, nét mặt trở lại vẻ điềm đạm, trầm tĩnh thường ngày:

"Trần huynh không cần phải đa lễ như thế. Người xưa có câu 'hoạn nạn tương cứu', thấy người gặp bước đường cùng giữa đêm hôm tăm tối thì đưa tay ra kéo lại một nhịp, có gì to tát đâu mà phải tính chuyện báo đáp dài lâu. Huynh là kẻ có học, lời ăn tiếng nói trang trọng, khuôn phép quá, kẻ thô vụng quanh năm bầu bạn với tre nứa như tôi nghe không quen đâu."

Nàng cúi người nhặt lại chiếc lồng đèn lục giác bị tên lâu la đá đổ lúc nãy, dùng vạt áo phủi nhẹ lớp bụi than dính trên khung nan, rồi nhìn thẳng vào mắt chàng, giọng nói hạ thấp xuống đầy vẻ nghiêm túc:

"Nhưng tôi khuyên thật huynh một lời, phố Hội nhìn bên ngoài thì đèn hoa rực rỡ, lụa là gấm vóc, tàu buôn phồn thịnh bốn phương quy tụ, nhưng bên dưới mặt nước sông Hoài phẳng lặng kia là vô số dòng xoáy ngầm có thể nuốt chửng con người ta bất cứ lúc nào. Đám người áo đen ban nãy là tay chân thân tín của Võ Bá, một quản sự bến bãi hung bạo, thủ đoạn tàn độc, cậy có thế lực chống lưng mà chẳng coi phép nước ra gì. Huynh dù vì cớ gì mà đụng chạm đến chúng, đêm nay cũng nên tìm chỗ lánh tạm thật kín đáo, đừng dại dột bén mảng ra bến cảng hay các kho hàng lớn nữa. Chốn ấy không dành cho những thư sinh trói gà không chặt như huynh đâu."

"Tại hạ xin ghi nhớ từng lời vàng ngọc của cô nương." Thành nhìn nàng, trong lòng dâng lên một cảm xúc ấm áp khó tả bằng lời.

Giọng nói của nàng trong trẻo mà trầm ấm, ánh mắt vừa sắc sảo lại vừa nhân hậu, khiến cho một người vốn từ nhỏ đã phải sống trong sự nghi kỵ, cảnh giác giữa những mưu mô quyền lực chốn quan trường như chàng bỗng thấy lòng mình dịu lại một cách lạ kỳ. Chàng muốn nói thêm điều gì đó, muốn hỏi tên nàng, nhưng nghĩ đến tình cảnh nguy nan của bản thân và mối hiểm họa khôn lường có thể ập xuống căn xưởng nhỏ này nếu tung tích bại lộ, chàng đành nén lại.

Chàng đưa tay sờ vào ngực áo, nơi giấu mảnh nan tre bằng chứng, toan bước về phía cửa ngách để rời đi:

"Đêm đã khuya, đám người hung hãn kia có thể sực tỉnh quay lại rà soát bất cứ lúc nào. Trần mỗ xin phép cáo từ ngay bây giờ, kẻo ở lại lâu lại mang vạ lớn đến cho cô nương và lão bá."

"Khoan đã, huynh đừng đi lối cửa trước." Lan vội ngăn lại. "Phía sau xưởng có một cánh cửa ngách nhỏ ăn thông ra rặng dừa nước ven mép sông, men theo bờ rạch ấy có thể vòng qua cầu cạn để lên phố Chợ Củi, nơi đó tối tăm ít người qua lại, lính tuần cũng hiếm khi sục sạo tới..."

Vừa nói, Lan vừa xoay người bước nhanh tới góc tường tối tăm nhất của xưởng để lấy một chiếc đèn lồng con bọc vải dù soi đường cho chàng. Nhưng đúng vào khoảnh khắc Thành quay người bước theo sau nàng, vạt áo gai thô rộng thùng thình của chàng vô tình quẹt mạnh vào một chiếc giàn tre cũ kỹ, xiêu vẹo kê sát góc tường ẩm thấp.

Chiếc giàn tre rung lên bần bật, làm rơi một vật thể phủ đầy bụi bặm xuống nền đất nện phát ra tiếng *bịch* khô khốc.

Đó là một chiếc lồng đèn cổ hình bát giác đã phai hết màu sắc nguyên thủy, kích thước to hơn hẳn những chiếc đèn lồng thông thường đang treo trong xưởng. Lớp lụa bồi bên ngoài đã mục nát, rách tươm thành từng mảng lớn theo năm tháng, để lộ toàn bộ phần sườn nan tre bên trong xám xịt vì khói bếp và thời gian. Chiếc đèn dường như đã bị vứt bỏ ở góc tối lãng quên này từ rất nhiều năm về trước, mặc cho bụi bặm, bồ hóng và mạng nhện phủ kín dày đặc.

Theo phản xạ của một người khách lịch thiệp, Thành vô thức cúi người xuống nhặt chiếc đèn lồng cũ lên để đặt lại chỗ cũ cho gia chủ.

Thế nhưng, ngay khi những ngón tay chàng chạm vào khung tre lạnh ngắt và ánh mắt vô tình lướt qua phần chóp đỉnh của chiếc lồng đèn bát giác dưới ánh đèn dầu le lói, toàn thân chàng bỗng cứng đờ như bị sét đánh ngang tai.

Tại vị trí giao nhau giữa các nan tre chịu lực chính trên chóp đèn, sợi dây mây dùng để cố định các mối nối không hề được buộc theo kiểu thắt nút chữ thập, nút hoa thị hay thắt nút hoa mai thông thường mà bất kỳ người thợ thủ công nào ở xứ Quảng Nam này cũng sử dụng.

Nó được thắt theo một quy cách vô cùng kỳ dị, phức tạp và chuẩn xác đến rợn người: ba vòng xoắn kép đè khít lên nhau theo chiều kim đồng hồ, một đầu dây mây vót mỏng luồn chéo qua kẽ nan thứ tư rồi gập ngược lại một góc chín mươi độ, tạo thành một chiếc móc nhọn hình bán nguyệt lồng gọn ghẽ trong một góc vuông sắc cạnh.

Hơi thở của Thành ngưng bạt trong lồng ngực. Máu trong người chàng như đông cứng lại.

Đầu óc chàng lập tức quay cuồng trong một cơn bão ký ức dữ dội. Chỉ mới nửa khắc trước thôi, tại bến ván tối tăm ẩm ướt phía sau kho Trường Mộc, khi kiện hàng tre bí ẩn bị trượt ngã bung nẹp trên cầu tàu — những kiện hàng chở đầy trầm hương thượng hạng loại một được vận chuyển lậu dưới sự che chở của dấu triện mang tên cha chàng — tất cả các nút thắt dây mây niêm phong mép sọt hàng đều được đan kết theo đúng một quy thức kỳ quái hệt như thế này!

Không sai một ly, không lệch một hào! Từ ba vòng xoắn kép đè khít, vị trí luồn chéo qua kẽ nan thứ tư, cho đến góc gập của chiếc móc nhọn hình bán nguyệt lồng trong góc vuông!

Nút thắt đó tuyệt đối không phải là một kiểu đan buộc ngẫu nhiên hay thói quen thông thường của đám phu bến thô kệch. Đó là một ký hiệu bí mật, một loại mật mã định danh vô cùng tinh vi dùng riêng cho một tuyến vận chuyển hàng cấm ngầm định sẵn, nhằm phân biệt hàng hóa của phe cánh này với các thương nhân khác trên hải trình vạn dặm!

Tại sao một kỹ thuật thắt nan tre độc môn, kỳ quái và tuyệt mật dùng trên các kiện hàng lậu trị giá hàng vạn quan tiền của mạng lưới buôn lậu lớn nhất Đàng Trong lại xuất hiện trơ trọi, trần trụi trên một chiếc lồng đèn cũ kỹ mục nát trong căn xưởng nghèo xơ xác của hai cha con người thợ dán đèn ven sông Hoài này?

Trong cơn chấn động tâm can tột độ, các ngón tay Thành run lên bần bật. Do dùng lực quá mạnh trong lúc bàng hoàng, chàng đã vô tình bẻ gãy một mẩu nan tre già giòn mục nơi chóp đèn cổ.

Tiếng gãy *rắc* giòn tan vang lên trong đêm vắng.

Khi Thành run rẩy đưa mảnh nan tre vỡ vụn lên ngang mũi, một làn hương thoảng nhẹ lướt qua khứu giác chàng giữa không gian nồng mùi hồ nếp. Dưới lớp bụi bặm của hàng chục năm tháng phủ mờ và mùi ngai ngái của cật tre cũ mục, từ kẽ gãy của mẩu nan tre sót lại bốc lên một mùi hương thanh khiết, ngạt ngào, ấm áp và sâu thẳm đến tận tâm can — mùi trầm hương thượng hạng loại một, thứ kỳ hương quý giá nhất của đất trời xứ Đàng Trong, thứ vật phẩm cấm ngặt mà triều đình quản lý nghiêm ngặt tới mức một thư sinh nghèo như Trần Minh tuyệt đối không thể nào biết được, và một xưởng đèn rách nát ven bờ sông Hoài càng không thể nào có bất kỳ lý do gì để sở hữu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories