Chợ nổi không phải sân khấu
Tiếng mái chèo khua nước bì bõm hòa cùng tiếng hò rao hàng lảnh lót trên những cây bẹo vươn cao giữa làn sương sớm bảng lảng bao phủ mặt sông Bảy Nhánh.
Trời vừa hưng hửng rạng, dòng sông đã cuộn mình thức giấc trong một nhịp điệu vừa hối hả vừa trầm mặc, rạch đôi bức màn sương đục bằng hàng trăm vệt sóng dài ngoằng. Gió sớm từ phía vàm sông thốc vào mặt An Nhiên cái ngai ngái nồng đậm của bùn non phù sa, quyện lẫn mùi khói bếp củi trôi là là trên mặt nước và mùi dầu máy khét lẹt của những chiếc ghe đuôi tôm chạy xé dòng. Giữa ngã bảy mênh mông, ghe thuyền lớn nhỏ ken đặc như một ngôi làng nổi dập dềnh không móng. Trên mỗi mũi ghe, cây bẹo bằng tre dài ngoẵng cắm thẳng lên trời, treo lủng lẳng đủ thứ sản vật miệt vườn: túm hành hoa, trái bí rợ vàng ươm, nải chuối xiêm hay chùm khóm mật vỏ còn ướt đẫm sương đêm. Đó là thứ ngôn ngữ không lời độc nhất vô nhị của dòng sông—treo gì bán nấy, người mua chỉ cần ngước mắt nhìn ngọn sào là biết ghe chở món chi mà tắp mạn vào.
Nhiên ngồi ép mình ở mũi chiếc đò dọc xập xệ, hai mắt rà soát từng cây bẹo nhấp nhô giữa làn sương trắng mỏng. Gió sớm lùa qua lớp áo mỏng bết bụi đường dài, mang theo hơi ẩm lạnh ngắt ngấm sâu vào từng thớ thịt. Bàn tay cô thu trong túi áo khoác vẫn vô thức chạm vào mảnh vỏ cây thô ráp mà già làng H’Linh trao cho trước khi rời cao nguyên Mây Đỏ. Mảnh vỏ bời lời ấy góc cạnh gồ ghề, cộm lên nơi đầu ngón tay như một lời nhắc nhở không dứt về những gì cô đã bỏ lại phía sau: mùi khói cay xè của nếp nương, cái vị đắng thắt ruột gan của lá rừng và đôi mắt đục mờ như phủ sương ngàn năm của người già Tây Nguyên. Trên mảnh vỏ ấy, bên cạnh cái tên Phạm Sáu Lành ở Vườn Cổ Mộc, già H’Linh còn dặn thêm một mối ân tình khác nơi đầu sóng: người duy nhất hiểu ngọn nguồn cái chua nương theo mùa nước lũ của mẹ cô chính là bà Bùi Mỹ Duyên.
Dòng sông Ngã Bảy mở ra trước mắt cô không phải bằng vẻ hữu tình hiền hòa trong những câu ca vọng cổ phát ra từ chiếc máy hát rỉ sét ở bến đò, mà bằng một nhịp đập cơ bắp, dữ dội và cuộn xoáy. Từng mảng bèo tây trôi dạt dập dềnh, cuốn theo rác rưởi, vỏ dừa và những cuống rau thối rữa, va đập ầm ầm vào mạn gỗ của những chiếc thuyền tải trọng hàng chục tấn. Tiếng người ta í ới gọi nhau, tiếng máy Kohler nổ giòn bành bạnh, tiếng ngã giá the thé hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp tạo thành một thứ hợp âm hỗn loạn, đặc quánh mùi sinh nhai.
"Kìa, ghe me của thím Duyên ở mé doi cát đằng kia!" Người chèo đò dọc chĩa mũi dầm về phía một chiếc ghe bầu thân gỗ sao đồ sộ, dài chừng mười lăm thước, be thuyền cạp dày cộm, sơn hai con mắt tròn xoe đỏ quạch ở mũi ghe.
Khác với những chiếc ghe bán trái cây thông thường treo bưởi, cam rực rỡ, trên ngọn cây bẹo của chiếc ghe bầu này chỉ buộc độc một nhánh me non lá xanh li ti rủ mềm cùng một chùm me dốt vỏ rám nâu sậm. Nhánh me đu đưa nhịp nhàng theo từng đợt sóng vỗ vào lườn gỗ, kiêu hãnh và đơn độc giữa muôn vàn sắc màu chợ nổi. Mũi ghe hướng thẳng ra luồng nước chảy xiết nhất của ngã ba rạch, nơi con nước ròng đang rút ràn rạt, để lộ ra những mảng bùn tím thẫm bốc mùi ngai ngái dưới chân doi cát.
Chiếc đò dọc tắp sát mạn ghe bầu. Người đàn bà đang đứng chống nạnh trên mui ghe cúi nhìn xuống. Bà trạc ngoài năm mươi, vóc người đậm đà, chắc nịch như một gốc bần ngâm nước lâu năm. Chiếc áo bà ba màu xám tro bạc phếch ở hai vai vì phơi nắng dầm mưa, mái tóc búi chặt bằng chiếc trâm gỗ sau gáy để lộ gương mặt góc cạnh sạm đen, gò má cao và đôi mắt sắc như dao cau lúng liếng nhìn thẳng vào mặt Nhiên. Dưới chân bà, những vết nứt nẻ ăn sâu vào gót chân trần, đóng vảy trắng bợt vì ngâm nước sông quanh năm suốt tháng.
"Tìm ai? Mua sỉ me dốt hay lấy bưởi Năm Roi giao cho bạn hàng?" Giọng bà đanh giòn, mang âm sắc hào sảng nhưng gắt gao đặc sệt của dân thương hồ miệt Hậu Giang.
Nhiên vịn vào be thuyền gỗ trơn trượt phù sa, đứng thẳng người dậy, hai chân hơi chao đảo theo nhịp lắc của chiếc đò dọc:
"Dạ, con tìm cô Bùi Mỹ Duyên. Con là An Nhiên... con gái của má Hạ ở Minh Cảng."
Bà Duyên khựng lại một nhịp. Bàn tay đang cầm sợi dây thừng buộc mũi ghe hơi siết lại, gân guốc nổi cộm dưới lớp da nâu sậm. Ánh mắt sắc sảo của bà quét từ đỉnh đầu xuống đôi giày vải bám đầy bùn đỏ Tây Nguyên của Nhiên, dừng lại ở hai bả vai đang hơi so lại vì mệt mỏi, rồi găm chặt vào sống mũi thon thẳng và cái cằm bướng bỉnh—những nét đúc khuôn từ người đàn bà từng làm mưa làm gió trong những căn bếp ký ức của bà. Một thoáng chấn động lướt qua nơi khóe mắt Duyên, làm rung rinh những nếp nhăn nơi đuôi mắt, nhưng nó tan biến nhanh hệt như bọt nước phù sa vỡ tan dưới chân vịt. Không có tiếng thốt lên xúc động, không có vòng tay ôm hay lời hỏi han vồ vập nào như Nhiên từng hình dung dọc suốt chuyến xe đò đêm qua.
Bà Duyên giật phắt chiếc khăn rằn sọc xanh đen đang vắt trên vai, quẳng thẳng vào mặt Nhiên. Chiếc khăn bay vút qua khoảng không giữa hai chiếc thuyền, chụp trúng ngực cô.
"Má mầy có dạy mầy xuống ghe người ta bằng hai bàn tay trắng không? Nhìn quanh đi, con nước ròng đang rút trơ đáy, một tiếng nữa hổng chuyển hết hàng dưới hầm lên là ghe mắc cạn giữa doi cát! Có chân có tay thì trèo lên, bốc dỡ hết ba trăm cần xé me với bưởi, xúc cá lăng chuyển sang ghe bạn hàng cho tao. Xong việc rồi hẵng mở miệng nói chuyện má con!"
Nhiên đỡ lấy chiếc khăn rằn còn vương mùi mồ hôi mằn mặn và mùi tinh dầu vỏ bưởi nồng hắc. Mùi hương ấy xộc thẳng vào khứu giác, xua đi cơn váng vất sau một đêm dài lắc lư trên xe đò. Cô không chần chừ, vứt ba lô vào một góc mui ghe, quấn chặt khăn quanh trán rồi bước phăng xuống khoang. Những ngày dầm mình cào muối ở Vạn Gió và gùi lá đắng rách toạc vai ở Kơ Nia đã dạy cho cô một nguyên tắc sống còn: trước mặt những con người mưu sinh bằng mồ hôi và đất trời, mọi lời phân bua hay danh xưng hoa mỹ đều chỉ là thứ rác rưởi vô tích sự; chỉ có lao động chân thật mới đổi lấy được lòng tin.
"Coi chừng trượt chân gãy xương nghe con ranh!" Bà Duyên hét với xuống khi thấy Nhiên đã tụt xuống bậc thang gỗ dẫn vào hầm ghe.
Bên dưới hầm ghe là một thế giới ẩm ướt, tối tăm và ngập tràn những xung đột cảm giác. Khoảng không gian chật hẹp chỉ cao chừng mét sáu, lờ mờ sáng nhờ những khe hở giữa các tấm ván sàn phía trên rọi xuống. Nước lườn ghe ngập ngang bắp chân, đen nhánh và lạnh buốt, bốc lên mùi gỗ mục ngâm phù sa quyện với mùi tanh đặc quánh của nhớt cá. Từng chồng cần xé bằng tre đan dày chất cao ngất ngưởng sát tận xà ngang, chứa đầy những trái bưởi Năm Roi da còn căng bóng tinh dầu, những giỏ me non xanh ngắt rải rác me dốt chín rộp vỏ, và sâu nhất dưới lòng hầm là những khoang lưới ngập nước chứa hàng trăm con cá lăng sông đuôi đỏ quẫy đuôi sàn sạt, chốc chốc lại quẫy mạnh làm nước bắn tung tóe lên vách gỗ.
"Bưng cần xé me lên trước! Đi trên ván cầu, hổng được nhìn xuống nước, mắt nhìn thẳng mũi ghe đối diện!" Tiếng bà Duyên gầm lên từ phía trên miệng hầm, vọng vào lòng gỗ u u như tiếng chuông đồng.
Nhiên cúi người, hai chân đạp sâu vào lớp nước lườn lạnh ngắt. Đáy hầm trơn tuột vì một lớp rong rêu mỏng bám trên mặt gỗ táu. Cô luồn hai tay dưới đáy chiếc cần xé me đầu tiên. Sức nặng của bốn mươi ký me tươi dồn nén, cộng thêm nước ẩm đọng lại dưới đáy sọt, khiến mười đầu ngón tay vừa mới se miệng vết thương nứt nẻ sau chuyến đi Mây Đỏ bỗng nhói buốt dữ dội. Máu từ kẽ móng tay rỉ ra, xót buốt đến tận tim khi chạm vào lớp nước lườn mặn phù sa. Hơi me chua nồng bốc lên từ lớp lá non phủ trên mặt cần xé xộc thẳng vào mũi, làm cay xè sống mũi cô. Nhiên nghiến chặt răng, gập gối, dùng sức của lưng và hông nâng bổng chiếc cần xé lên ngang ngực. Cơ bắp ở bắp tay và đùi cô căng cứng như dây đàn.
Cô bước chân lên tấm ván gỗ hẹp chỉ rộng chừng một gang tay nối từ miệng hầm ghe sang sàn mạn. Tấm ván ướt nhão bùn non, trơn như bôi mỡ và uốn cong dập dềnh theo từng nhịp sóng vỗ của những chiếc ghe máy chạy ngang qua.
Chỉ một giây mất tập trung, khi một đợt sóng ngầm từ chiếc sà lan cát đằng xa dội tới làm lườn ghe lắc mạnh, cả cơ thể Nhiên chao đảo sang một bên. Trọng lượng của cần xé me chực kéo cô bổ nhào xuống dòng sông đỏ ngầu cuồn cuộn nước chảy xiết bên dưới. Đầu ngón chân cô bấm chặt vào thớ gỗ trơn tuột, tiếng khớp xương kêu răng rắc.
"Đứng tấn lại! Đừng có gồng chân!" Tiếng quát của bà Duyên giáng xuống như sấm rền từ phía mui ghe. "Nương theo con nước! Nước nhồi bên tả thì ngả nhẹ bên hữu, chân bám ván như rễ bần bám đất bãi bồi! Mầy học nấu nướng mà hổng biết nhịp thở của dòng nước thì mầy chỉ nấu ra thứ đồ hộp chết trôi thôi!"
Nhiên hít một hơi thật sâu, dằn ngực xuống. Không khí ẩm ướt lùa qua kẽ răng mặn chát. Cô nhớ lại cách những người đàn bà Ê-đê giữ thăng bằng trên con dốc trơn trượt ở suối Kơ Nia khi gùi trên lưng năm mươi ký măng le, nhớ lại thế đứng của bà Tư Mặn khi gánh nước mắm trong bão gió biển Vạn Gió. Những hình ảnh ấy chập chờn lướt qua tâm trí cô như những cột mốc định hình lại bản năng sinh tồn. Cô buông lỏng khớp gối, hạ thấp trọng tâm, để cho đôi bàn chân trần cảm nhận từng thớ gỗ nhám ướt át dưới chân. Thay vì chống cự lại độ chòng chành của chiếc ghe, cô để cơ thể mình dao động nhịp nhàng theo con sóng. Khi mạn thuyền hạ xuống, cô miết chân bước tới; khi sóng nâng mũi thuyền lên, cô ghìm gót chân lại giữ thăng bằng.
Tấm ván gỗ dưới chân bỗng chốc trở nên vững chãi kỳ lạ. Cô rảo bước nhanh, đặt chiếc cần xé me xuống sàn ghe của bạn hàng đang cập mạn một cách êm ái, không làm dập một cuống lá non nào.
"Tiếp tục! Đừng có đứng đực ra đó!" Người đàn ông lái ghe bạn hàng hét lớn, tay thoăn thoắt đón lấy cần xé me rồi xếp gọn vào khoang thuyền của mình.
Cứ thế, một cần xé, mười cần xé, rồi năm mươi cần xé.
Mồ hôi túa ra như tắm, chảy ròng ròng từ chân tóc xuống cằm, hòa cùng nước sông bắn lên mặt chát mặn. Bùn phù sa bám đặc từ đầu gối lên tận ngực áo, khô lại thành từng mảng nứt nẻ rồi lại bị nước sông tát vào làm ướt sũng. Đôi bàn tay cô phồng rộp, những vết chai cũ toác ra rỉ máu, hòa lẫn với chất nhựa chát của cuống me và tinh dầu cay nồng từ vỏ bưởi. Mỗi bước đi trên tấm ván cầu trở thành một cuộc chiến thầm lặng giữa ý chí và sự rã rời của thể xác. Hai bả vai cô mỏi nhừ như có ngàn cân sắt đè nặng, nhưng đôi chân trần thì ngày càng bám chắc vào mặt ván, nhịp nhàng theo từng đợt sóng vỗ vào lườn thuyền.
Sau mớ bưởi và me là đến việc xúc cá lăng. Nhiên phải dầm mình xuống khoang nước lạnh buốt dưới đáy lườn, hai tay cầm chiếc vợt lưới đan bằng sợi cước to, luồn qua làn nước đục ngầu phù sa để vớt từng con cá lăng da trơn bóng giãy giụa điên cuồng. Lũ cá lăng đuôi đỏ dài hơn hai gang tay, thân trơn như chạch, quẫy đuôi đập bôm bốp vào đùi cô. Gai vây cá lăng nhọn hoắt quẹt vào bắp tay cô bỏng rát, để lại những vệt xước dài rớm máu. Cô phải dùng lòng bàn tay tì chặt vào mang cá, lựa theo chiều vây xuôi mà nhấc bổng từng con bỏ vào thùng phuy của bạn hàng.
Nhưng chính trong khoảnh khắc dầm mình ngập ngụa giữa bùn nước ấy, các giác quan của một người đầu bếp trong cô bỗng bừng tỉnh một cách kỳ diệu.
Cô nhận ra rằng mớ rau sông, nhánh me non hay con cá lăng ở chợ nổi này không hề tồn tại như những nguyên liệu tĩnh trong kho lạnh của các nhà hàng năm sao tại Minh Cảng. Chúng không phải là những thứ đồ vô hồn được bọc màng co thực phẩm nằm ngay ngắn trên kệ siêu thị. Chúng đang thở cùng nhịp thở của dòng sông. Con cá lăng bơi ngược dòng nước chảy xiết có thớ thịt săn chắc và lớp mỡ bụng béo ngậy mà không ngấy; nhánh me hái lúc rạng đông khi sương còn đọng trên cuống giữ được lượng acid malic thanh khiết, chua dịu mà không gắt buốt chân răng; và lớp vỏ bưởi dày cộm kia chính là lớp đệm hoàn hảo để giữ cho tép bưởi bên trong mọng nước phù sa ngọt lịm. Vị chua ngọt của đất phương Nam này không nằm trong những công thức cân đong từng gram đường hay mililít giấm công nghiệp—nó được quyết định bởi biên độ của con nước ròng và nước lớn, bởi lượng phù sa đỏ quạch đang cuồn cuộn chảy dưới lườn ghe.
Đến khi chiếc cần xé cuối cùng được chuyển sang ghe bạn hàng và mặt trời đã lên cao bằng một cây sào, khoang hầm ghe bầu mới hoàn toàn trống trải. Nước lườn ghe lúc này chỉ còn trơ lại lớp cặn bùn mỏng và vài vảy cá lấp lánh dưới ánh nắng rọi xiên qua miệng hầm. Con nước ròng đã rút cạn, để lộ ra doi cát xám xịt nhô lên giữa dòng sông, nhưng chiếc ghe bầu nhờ được giải phóng tải trọng đã nổi bồng bềnh trên mặt nước, an toàn thoát khỏi nguy cơ mắc cạn.
Nhiên kiệt sức ngã ngồi xuống sàn gỗ ướt sũng, lưng tựa vào be thuyền, ngực phập phồng thở dốc, hai bàn tay run rẩy không khép lại được. Từng thớ cơ trên người cô co giật nhẹ vì kiệt sức. Cơn đói cồn cào cắn xé ruột gan cô sau một đêm nhịn đói và hàng giờ lao động nặng nhọc.
Một chiếc gáo dừa múc đầy nước mưa mát lạnh được chìa ra trước mặt cô. Bà Duyên đứng đó, tay cầm ấm nước trà quao thơm lừng, ánh mắt sắc lẹm ban nãy đã dịu đi vài phần thấu cảm. Chiếc khăn rằn trên cổ bà cũng đẫm ướt mồ hôi, nhưng dáng đứng vẫn thẳng băng như một cây sào cắm sâu vào lòng lạch.
"Uống đi con ranh. Uống cho trôi bớt mùi bùn sông."
Nhiên đón lấy chiếc gáo dừa bằng hai bàn tay run rẩy, ngửa cổ uống ừng ực. Nước mưa ngọt lịm, mát rượi thấm sâu vào cuống họng khô cháy, mang lại cho cô một luồng sinh khí mới. Vị ngọt của nước mưa hứng từ mái lá hòa cùng mùi gáo dừa ngai ngái tạo nên một cảm giác thanh khiết đến tận cùng ruột gan. Cô thở hắt ra một hơi dài, cảm thấy từng tế bào trong cơ thể như được hồi sinh sau cơn kiệt quệ.
Bà Duyên ngồi phịch xuống bên cạnh cô trên be thuyền, tháo chiếc nón lá quạt phành phạch tạo ra những luồng gió mát rượi xua đi cái nóng hầm hập của buổi trưa sông nước:
"Má mầy ngày xưa... cũng lì lợm y chang mầy. Cái hồi bả trốn chồng bỏ xuống miền Tây, cũng nhảy tót lên ghe tao đòi học cách cân vị chua của trái me non với bông điên điển mùa nước nổi. Bả bảo ở thành phố người ta nấu canh chua bằng me vắt khô dầm đường cát, ăn vô ngọt lợ cổ họng mà chua ngắt như giấm, hổng có cái hồn của sông nước. Tao bắt bả chèo ghe ngược dòng từ Ngã Bảy qua Cái Răng ba ngày ba đêm, mười đầu ngón tay chai sần bả mới ngộ ra: cái vị chua của phù sa là vị chua biết nở. Nó nương theo độ béo của con cá sông, nương theo độ mặn của giọt mắm cá đồng, hễ nước lớn thì thêm chua, nước ròng thì dằn ngọt. Thiếu một nhịp nước là hỏng cả nồi canh!"
Bà Duyên ngừng lại, đưa mắt nhìn xa xăm ra ngã bảy sông, nơi những con sóng bạc đầu đang đan cài vào nhau dưới ánh mặt trời rực rỡ. Giọng bà chùng xuống, khàn đục như tiếng củi cháy tàn trong tro ướt:
"Bà Hạ mất rồi... tao nghe tin mà ruột gan thắt lại. Bả để lại cho mầy cái nợ nần ngập đầu ở Bếp Hạ đúng hổng? Cả đời bả cứ lo ôm việc thiên hạ, gánh tội cho người khác, đến lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn hổng yên thân. Hồi đó tao cản bả hoài, tao bảo làm bếp thì lo cái miệng đời cho ngon là được rồi, ham hố chi giữ gìn mấy cái công thức xưa cũ để cho người ta xâu xé. Bả hổng nghe, bả cười nói 'người ta bỏ quên cái cội rễ thì mình phải giữ, giữ cho con cái sau này còn biết mùi quê hương'."
Nhiên siết chặt gáo dừa trong tay, nghẹn ngào. Từng lời nói của bà Duyên như chạm đúng vào vết thương sâu kín nhất trong lòng cô, nơi những ký ức về mẹ luôn gắn liền với những đêm thức trắng bên bếp lửa và những tiếng thở dài nén chặt:
"Cô Duyên... má con có để lại món nợ nào với cô không?"
Bà Duyên khẽ cười nhạt, một nụ cười đắng chát làm rung rinh khóe miệng sạm đen:
"Nợ? Đời này ai mà hổng nợ ai. Má mầy còn để lại trong cái hòm gỗ dưới đáy ghe tao một cuốn sổ ghi nợ cũ mèm từ hồi xửa hồi xưa. Nhưng tao hổng rảnh mở ra cho mầy coi lúc này đâu..."
Lời bà Duyên chưa dứt thì từ phía luồng sông chính bỗng vang lên tiếng động cơ cano gầm rú chát chúa. Tiếng máy gầm rú xé toang không gian êm ả của buổi trưa sông nước. Một chiếc tàu du lịch composite sơn màu trắng bóng lộn, viền xanh đỏ loè loẹt rẽ sóng lao thẳng về phía khu vực neo đậu của ghe bầu. Làn sóng bạc đầu do chiếc cano tạo ra chồm lên dữ dội, cao hơn nửa mét, hất mạnh mạn ghe bầu va chan chát vào các ghe lân cận. Tiếng gỗ va đập rầm rầm, khiến những rổ trái cây nhỏ chưa kịp cất dọn chực lăn lông lốc xuống sông.
Bà Duyên chới với bám chặt lấy cọc chèo, mắt tóe lửa nhìn ra dòng nước.
Trên mui chiếc tàu lữ hành, một người đàn ông mặc áo vest mỏng thời thượng màu be, đầu chải keo bóng mượt đang cầm loa cầm tay phát hiệu lệnh om sòm. Đi cùng anh ta là một ê-kíp quay phim bốn năm người lỉnh kỉnh máy quay hiện đại gắn trên gimbal chống rung, micro thu âm bọc lông cừu tầm xa và tấm phản quang hắt sáng lóa mắt. Phía sau là một đoàn khách du lịch thành thị chừng mười lăm người mặc quần áo kiểu dã ngoại đắt tiền, đội nón tai bèo hàng hiệu, tay lăm lăm điện thoại thông minh và máy ảnh ống kính dài chụp lia lịa vào những người thương hồ đang lam lũ dưới nắng.
Chiếc cano tắp sát mạn ghe của bà Duyên, tiếng máy vẫn nổ rầm rì làm bọt nước sủi trắng xóa một vùng sông. Người đàn ông chải chuốt—trông có vẻ là giám đốc sản xuất kiêm đại diện công ty lữ hành—bước hẳn một chân mang giày lười da bóng sang mạn gỗ của ghe bầu, làm chiếc ghe trĩu nhẹ một bên. Anh ta chìa ra một tập tiền mặt dày cộp kẹp trong bìa hồ sơ trong suốt, mép tiền mới cáng còn thơm mùi mực in.
"Thím Duyên! Thím Duyên đúng không?" Gã đàn ông cất giọng toe toét, điệu bộ xởi lởi nhưng đậm mùi trịch thượng của kẻ nắm đằng chuôi tài chính. "Bên em là đoàn làm phim dự án 'Hồn Quê Sông Nước' kết hợp tour du lịch trải nghiệm cao cấp. Bọn em đã chọn ghe me của thím làm bối cảnh chính cho tập quảng bá triệu view sáng nay!"
Bà Duyên vẫn ngồi bất động trên be thuyền, đôi mắt híp lại nhìn gã đàn ông từ đầu đến chân như nhìn một sinh vật lạ từ trên trời rơi xuống:
"Mấy chú muốn mua me hay mua bưởi?"
"Ôi dào, mua bán gì mấy thứ này thím ơi!" Gã đàn ông xua tay cười lớn, để lộ hàm răng bọc sứ trắng bóng tương phản hoàn toàn với làn da cháy nắng của những người xung quanh. "Bọn em mang lại cơ hội đổi đời cho thím đây! Năm triệu đồng tiền mặt bồi dưỡng tại chỗ! Chỉ cần thím với con bé phụ việc kia thay ngay hai bộ áo bà ba màu hồng phấn với vàng hoa cúc bọn em mang sẵn theo đây. Rồi lát nữa bấm máy, thím diễn lại cái cảnh chửi lộn, cầm dầm chèo rượt đuổi bạn hàng ghe bên cạnh vì tranh giành khách mua me giùm em. Phải cãi cọ cho thật tanh bành, giật gân, văng tục một chút cho nó đậm chất 'chợ búa miền Tây hoang dã' để kéo view mạng xã hội! Khách du lịch trên thuyền họ cũng đang đợi xem 'đặc sản kịch tính' của chợ nổi đấy!"
Nhiên sững sờ. Máu trong người cô bỗng sôi trào lên tận thái dương, làm hai tai cô lùng bùng. Cái kịch bản bẩn thỉu, giật gân này sao mà giống hệt cái cách những clip thô bị rò rỉ ở Vạn Gió đã hủy hoại danh dự của xưởng mắm bà Tư Mặn! Người ta sẵn sàng biến một không gian lao động thiêng liêng, nơi những con người lam lũ phải đổi bằng từng giọt mồ hôi, từng vết sẹo và hiểm nguy sông nước để tồn tại, thành một cái sân khấu xiếc khỉ lố lăng phục vụ thị hiếu tiêu khiển nông cạn và trí tò mò bệnh hoạn của người thành thị.
Bà Duyên không đáp lời ngay. Ánh mắt bà lướt qua cọc tiền năm triệu đồng sáng lóa dưới nắng sớm. Năm triệu đồng—mệnh giá của những tờ tiền polymer mới tinh nằm gọn lỏn trong tầm tay với. Nhiên biết, hoàn cảnh của bà Duyên lúc này cũng chẳng hề dư dả gì. Lúc bốc hàng dưới hầm ghe, cô đã thấy những hóa đơn tiền dầu máy còn nợ lại của cây xăng nổi, những vết nứt trám vội bằng chai cục trên lườn thuyền chưa có tiền sửa chữa lớn. Giá xăng dầu tăng vọt, chợ nổi ngày càng thưa thớt khách mua sỉ vì giao thương chuyển hết lên bờ, những khoản nợ tiền phân thuốc của vườn cây trái ở quê nhà đang đè nặng lên vai người đàn bà góa bụa này. Năm triệu đồng—đó là một con số bằng cả tuần dầm mưa dãi nắng, bằng hàng tấn me dốt và bưởi ngọt phải chuyển qua lại giữa các mạn thuyền đầy hiểm nguy.
Thế nhưng, đôi lông mày của bà Duyên bỗng cau lại thành một vệt đen sẫm kiên cường. Gương mặt sạm đen vì nắng gió của bà đanh lại, từng thớ thịt giật nhẹ vì một sự tự ái bị xúc phạm sâu sắc. Bà đứng phắt dậy, đôi chân trần nện mạnh lên mặt ván sàn làm chiếc ghe bầu hơi nghiêng đi.
Không nói một lời, bà thò tay cầm chiếc gáo dừa múc nguyên một gáo nước sông phù sa đỏ quạch, hắt thẳng xuống khoảng trống giữa mạn ghe bầu và chiếc cano du lịch. Nước sông bắn tung tóe lên bộ vest thời thượng và đôi giày da bóng lộn của gã đạo diễn, văng cả vào ống kính máy quay hiện đại đang chĩa tới.
"Cút ngay cho khuất mắt tao!" Giọng bà Duyên vang lên đanh thép như tiếng lệnh bẻ lái giữa dòng nước xoáy, chém to búa lớn át cả tiếng máy cano rầm rì.
Gã đàn ông giật thót lùi lại, trượt chân suýt ngã xuống nước, mặt biến sắc từ đon đả sang tím tái vì giận dữ:
"Này bà già! Bà bị điên à? Năm triệu đấy! Chỉ có diễn vài phút cãi nhau giả vờ thôi mà làm như thanh cao lắm! Dân chợ nổi tụi bà giờ ế ẩm chết mẹ ra, không có mấy đoàn quay clip quảng bá với khách du lịch tụi này thì cái chợ ma này dẹp tiệm từ lâu rồi!"
"Chợ nổi này là nơi mưu sinh bằng mồ hôi, nước mắt thật của dân thương hồ, hổng phải cái chuồng khỉ hay rạp tạp kỹ cho mấy người thành thị mang tiền tới tiêu khiển!" Bà Duyên cầm chiếc dầm chèo bằng gỗ mù u dựng đứng lên mui ghe, ngực phập phồng vì cơn thịnh nộ. Bàn tay chai sần của bà siết chặt cán dầm, gân xanh nổi cuồn cuộn. "Tổ tiên tao ba đời bám sông, bán một trái bưởi, cân một ký me đều nương theo con nước ròng nước lớn, giữ cái nghĩa cái tình xóm ghe tối lửa tắt đèn có nhau. Tụi tao nghèo tiền nghèo bạc chớ hổng có nghèo nhân cách tới mức đi mặc mấy cái áo tuồng chèo, gào mồm chửi bới bôi tro trát trấu vào mặt mũi dân miền Tây để kiếm mấy đồng bạc nhơ nhớp của tụi bây! Cuốn gói xéo mau, trước khi tao đập gãy cái chân vịt cano của tụi mầy!"
Mấy chiếc ghe chung quanh nghe tiếng cãi vã liền lập tức nổ máy khua dầm. Mấy bác tài công, chú bạn hàng mặt mày bặm trợn, da đen cháy như cột buồm, tay lăm lăm câu liêm và dầm gỗ đồng loạt tắp mạn vây quanh chiếc cano composite. Mũi ghe này chèn sát be ghe kia, khóa chặt mọi lối thoát của chiếc tàu du lịch. Những ánh mắt hừng hực lửa giận từ những con người cả đời ăn sóng nói gió đồng loạt đổ dồn vào gã đàn ông thành thị, bảo bọc lấy ghe của bà Duyên như một pháo đài vững chắc giữa dòng sông.
Gã đạo diễn run rẩy nhìn đám đông thương hồ sạm đen vì nắng gió đang quây kín, mồ hôi vã ra như tắm làm trôi cả lớp keo vuốt tóc, vội vàng giục tài công lùi tàu:
"Được... được lắm! Lũ bần nông không biết thời thế! Đi, qua chỗ khác quay!"
"Khoan đã!"
Tiếng hô vang lên dõng dạc từ phía mạn ghe bầu. An Nhiên bước lên đứng thẳng bên cạnh bà Duyên. Toàn thân cô ướt sũng bùn phù sa, chiếc khăn rằn buộc ngang trán ướt đẫm mồ hôi, hai bàn tay rướm máu vì gai cá và vỏ me, nhưng đôi mắt cô sáng quắc, tỏa ra một uy lực kiên định khiến cả đoàn người trên chiếc tàu lữ hành phải nín bặt.
Nhiên nhìn thẳng vào những vị khách du lịch đang cầm điện thoại ngơ ngác trên tàu, giọng cô không gào thét nhưng vang xa, rành rọt trên mặt nước:
"Các cô, các bác bỏ tiền đi tour du lịch là để tìm kiếm điều gì? Để xem một vở kịch giả tạo được dàn dựng bằng vài triệu đồng, để về nhà khoe những đoạn clip giật gân bóp méo hình ảnh những người nông dân chân chất này sao? Giá trị thật sự của chợ nổi Bảy Nhánh không nằm ở những trò hề cãi cọ hay những bộ đồ màu mè rẻ tiền. Nó nằm ở chỗ: người ta buôn bán bằng sự tử tế, nương tựa vào quy luật của dòng nước, nhường nhịn nhau từng mét lạch, cứu giúp nhau mỗi mùa bão lũ. Nếu biến đời sống mưu sinh chân chính thành trò trình diễn giải trí, thì cái mà các vị mang về thành phố chỉ là một sự dối trá rỗng tuếch, và chính các vị đang góp phần giết chết cái linh hồn thực sự của dòng sông này!"
Lời nói của Nhiên rành rọt, từng câu từng chữ rơi vào không gian tĩnh lặng của mặt sông trưa. Gió sông dường như cũng ngừng thổi trong một khoảnh khắc để lắng nghe tiếng nói đanh thép ấy. Một vài du khách lớn tuổi trên tàu khẽ cúi đầu ngượng ngùng, từ từ hạ những chiếc điện thoại đang quay phim xuống. Một bà cụ trạc tuổi bà Duyên ngồi ở hàng ghế đầu của cano khẽ kéo tay người đi cùng, lắc đầu vẻ xấu hổ. Người tài công của chiếc cano—cũng là một người con của miệt đồng bằng đi làm thuê—khẽ thở dài một tiếng, không đợi lệnh của gã quản lý, lẳng lặng bẻ lái lùi xa khỏi khu vực ghe bầu rồi nổ máy rẽ nước chạy thẳng về phía bờ lớn.
Chiếc cano lủi thủi rẽ sóng rời đi, để lại một vệt bọt trắng tan nhanh trên dòng nước đục.
Mặt sông Bảy Nhánh dần lấy lại sự yên ả vốn có. Tiếng sóng vỗ vào lườn gỗ lại trở về với nhịp điệu trầm lắng quen thuộc. Những người thương hồ trên các ghe chung quanh khẽ gật đầu chào bà Duyên, có người cất tiếng cười khà khà khen ngợi rồi tản ra, tiếp tục công việc buôn bán nương theo dòng nước đang lớn dần.
Bà Duyên quay sang nhìn Nhiên. Ánh mắt sắc sảo thường ngày bỗng chốc mềm lại, khóe miệng khẽ nhếch lên thành một nụ cười hiếm hoi đầy bao dung. Bà vỗ mạnh vào bả vai trần bết bùn của cô một cái đau điếng:
"Khá lắm! Con nhỏ này nói chuyện trúng cái bụng tao! Y chang con Hạ hồi trẻ, mở miệng ra là đạo lý rần rần nhưng nghe sướng cái lỗ tai!"
Bà Duyên kéo Nhiên ngồi xuống sàn sau lái ghe, nơi có một chiếc bếp lò đất nung đang đỏ lửa than đượm. Gió sông thổi lùa qua sàn gỗ làm những tàn tro đỏ bay lơ lửng rồi tắt ngấm trên mặt nước. Trên bếp, một nồi đất nung đen bóng đang sôi sùng sục. Nước dùng được nấu từ xương đầu cá lăng tươi rói hầm nhừ với me non giã dập, tỏa ra một làn khói thơm dịu ngọt, chua thanh khiết đến nao lòng. Hương thơm ấy không hề có mùi tanh của cá sông, mà chỉ có vị thơm nồng của hành phi mỡ lợn, vị the của ớt hiểm và mùi thơm ngát của ngò ôm, ngò gai mới hái.
Bà Duyên bốc một nắm bông điên điển vàng tươi—những cánh hoa mỏng manh chỉ nở rộ vào mùa nước nổi—cùng vài lát ớt hiểm đỏ au thả vào nồi. Ngay lập tức, màu vàng của hoa hòa quyện với màu đỏ của ớt và màu xanh của rau thơm nổi bồng bềnh trên mặt nước canh sóng sánh mỡ cá. Bà múc ra hai tô sành lớn sứt mép, khói bốc lên nghi ngút:
"Ăn đi con! Canh chua cá lăng nấu me non mùa nước nhảy bờ đấy. Nhớ cho kỹ: me non nấu đầu cá béo thì vị chua phải đi trước mở đường, làm tan cái ngấy của mỡ cá, nhưng hậu vị đọng lại dưới cuống họng phải là vị ngọt đằm của phù sa và bông súng đồng. Đó là cái cách người miền Tây này sống: chua cay mấy cũng giữ lại cái hậu ngọt ngào cho đời."
Nhiên nâng tô canh chua nóng hổi lên bằng hai bàn tay trầy xước. Hơi nóng phả vào mặt cô, làm tan đi cái lạnh buốt của nước lườn ghe còn ngấm trong da thịt. Cô múc một muỗng nước canh đưa lên miệng.
Vị chua thanh thoát lập tức bùng nổ trên đầu lưỡi—một thứ chua dịu dàng, giòn giã của acid trái cây tự nhiên, không hề gắt buốt chân răng như dấm hay chất tạo chua công nghiệp. Ngay sau đó, vị ngọt béo ngậy, bùi bùi của thớ thịt cá lăng tươi luồn lách qua các gai vị giác, làm dịu đi cái chua ban đầu. Và đọng lại sau cùng ở cuống họng là vị ngọt thanh khiết của bông điên điển, vị mặn mà đằm thắm của nước mắm đồng nguyên chất. Từng muỗng canh như cuốn trôi mọi mệt mỏi, đắng cay và nhọc nhằn của những ngày lưu lạc. Lần đầu tiên sau chuỗi ngày dài từ Vạn Gió lên Mây Đỏ rồi dạt xuống miền sông nước này, Nhiên cảm nhận được một sự hòa quyện hoàn hảo giữa kỹ thuật nấu nướng và hơi thở của đời sống tự nhiên. 'Vị Nhà' của mẹ cô... thực sự đang hiện diện sống động trong từng giọt nước canh mộc mạc này. Nó không phải là một công thức chết nằm trên trang giấy, mà là một sinh mệnh sống nương theo mùa nước nổi, nương theo tấm lòng hào sảng của những con người bám sông bám đất.
Nhiên ăn ngấu nghiến, từng giọt mồ hôi túa ra trên trán, cay xè khóe mắt nhưng lòng cô lại nhẹ bẫng kỳ lạ.
Bà Duyên nhìn Nhiên ăn ngon lành, đôi mắt bà dịu lại, khẽ thở dài một tiếng:
"Ăn xong nghỉ ngơi đi. Đợi con nước lớn chiều nay, tao dẫn mầy vô con rạch cùng tìm ông Sáu Lành ở Vườn Cổ Mộc. Có những chuyện... chỉ có ổng mới gỡ được cho mầy thôi. Bả Hạ gởi gắm nơi ổng cái phần quan trọng nhất của cuốn sổ, cái phần mà bả nói chỉ có người nào dám dầm chân dưới bùn mới xứng đáng được cầm."
***
Đêm muộn buông xuống trên chợ nổi Bảy Nhánh.
Không gian sông nước chìm vào tĩnh mịch đến rợn ngợp. Những tiếng hò rao, tiếng động cơ ghe máy ồn ào ban ngày đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền và tiếng gió đêm rít qua những ngọn sào bẹo trơ trụi. Giữa dòng sông đen thẫm như mực tàu, hàng trăm chiếc ghe lớn nhỏ neo đậu san sát nhau, chỉ còn những đốm đèn dầu leo lét tỏa ra từ những ô cửa sổ nhỏ, nhấp nhô như những vì sao rụng xuống mặt nước.
Nhiên nằm trên chiếc chiếu manh trải ở mũi ghe bầu, hai tay gối sau đầu, ngắm nhìn bầu trời đêm phương Nam lấp lánh ngàn sao. Mùi bùn non quyện với mùi dầu hỏa từ ngọn đèn bão treo ở cột buồm tạo nên một không khí cổ xưa, thanh bình. Toàn thân cô ê ẩm sau một ngày bốc vác nặng nhọc, nhưng tâm trí cô thì sáng rõ lạ thường. Những bài học về vị chua nương theo con nước, về sự cân bằng giữa đắng cay và ngọt bùi đang dần kết nối lại trong đầu cô thành một bức tranh hoàn chỉnh về di sản mà má Hạ để lại.
Bỗng nhiên, chiếc điện thoại cũ trong túi quần cô rung lên bần bật, tiếng chuông điện tử réo rắt phá tan sự tĩnh lặng của đêm sông nước.
Nhiên ngồi bật dậy, với lấy chiếc điện thoại. Ánh sáng xanh lóa từ màn hình chiếu rọi gương mặt cô.
Màn hình hiển thị tên: Dì Thu.
Tim Nhiên thắt lại một nhịp. Cô bấm nút nghe, áp máy vào tai:
"A lô, dì Thu..."
"Nhiên đấy à? Mày đang trôi dạt ở cái xó xỉnh nào dưới miền Tây thế hả?!" Giọng dì Thu từ đầu dây bên kia the thé, dồn dập và hoảng loạn đến nghẹt thở. Tiếng giấy tờ sột soạt hòa cùng tiếng thở dốc đầy căng thẳng của người đàn bà đang bị dồn vào chân tường. "Về Minh Cảng ngay lập tức! Nghe rõ chưa, về ngay trong đêm mai!"
"Có chuyện gì vậy dì? Hạn hai mươi ngày vẫn còn mà..." Nhiên cố giữ giọng bình tĩnh, nhưng các ngón tay cô đã vô thức bấu chặt vào mép ván gỗ mạn thuyền đến trắng bệch.
"Còn cái nỗi gì nữa! Thằng Khải Nam và Tập đoàn Vị Việt Mới vừa cho luật sư tống thẳng công văn pháp lý đến tận nhà chiều nay rồi!" Tiếng dì Thu lạc đi vì sợ hãi, xen lẫn tiếng sụt sùi tuyệt vọng. "Họ viện dẫn điều khoản vi phạm bảo mật thương thảo và rủi ro tranh chấp, yêu cầu tổ chức cuộc họp ba bên khẩn cấp vào sáng ngày mốt giữa bên thế chấp, ngân hàng và tập đoàn để ấn định ngày phát mãi tài sản Bếp Hạ! Nếu mày không có mặt để ký biên bản, họ sẽ đơn phương kích hoạt điều khoản tịch thu nhà và buộc tao phải bồi thường sáu trăm triệu đồng tiền phạt hợp đồng cọc! Tao với thằng Khang hết đường sống rồi Nhiên ơi! Tụi nó cho người đứng canh ở đầu hẻm rồi, tao bước chân ra khỏi cửa là tụi nó bám theo! Mày về cứu cái nhà này mau đi!"
Tiếng khóc nấc nghẹn ngào và tuyệt vọng của dì Thu như một gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào lồng ngực Nhiên, dập tắt mọi cảm giác thanh thản vừa nhen nhóm.
Cuộc họp ba bên. Phát mãi Bếp Hạ. Sáu trăm triệu đồng tiền phạt.
Cái bẫy pháp lý và tài chính tàn nhẫn của Khải Nam đang siết lại những vòng dây cuối cùng quanh cổ gia đình cô, nhanh hơn và khốc liệt hơn bất kỳ dự tính nào. Hắn không đợi cô hoàn thành cuộc hành trình tìm kiếm di sản của mẹ; hắn muốn bẻ gãy cô ngay từ gốc rễ, đẩy cô vào thế đường cùng để buộc cô phải buông tay nhượng lại thương hiệu Bếp Hạ trước khi cô kịp khám phá ra bí mật cuối cùng.
Thời gian của cô không còn tính bằng tuần nữa, mà chỉ còn tính bằng từng giờ khắc ngắn ngủi. Nếu cô không kịp lấy được những trang sổ cuối cùng từ tay ông Sáu Lành và tìm ra bản chất thật sự của di sản mà mẹ để lại, Bếp Hạ sẽ vĩnh viễn bị xóa sổ khỏi trần đời, biến thành một chuỗi nhà hàng công nghiệp vô hồn dưới bàn tay toan tính của Khải Nam.
Nhiên run rẩy cúp máy, lồng ngực thắt lại trong một cơn đau thắt nghẹt thở. Chiếc điện thoại tuột khỏi tay rơi xuống sàn gỗ kêu cạch một tiếng. Gió đêm từ mặt sông thổi thốc vào mặt cô lạnh buốt, nhưng bên trong tâm can cô là một ngọn lửa lo âu đang thiêu đốt dữ dội. Cô đứng dậy, nhìn về phía rạch nước sâu hun hút dẫn vào miệt vườn Cổ Mộc. Bóng tối đen đặc bao trùm lấy những rặng dừa nước, như một vực thẳm không đáy đang thách thức lòng kiên định của cô.
Đúng lúc đó, từ màn đêm đen đặc của dòng sông tĩnh mịch, một tiếng máy nổ quen thuộc xé toang không gian.
Tiếng máy đuôi tôm xình xịch, lạch cạch quen thuộc rạch đôi dòng nước đen. Ánh đèn pin vàng vọt quét loang loáng trên mặt sóng, chĩa thẳng vào mũi ghe bầu của bà Duyên.
Một chiếc ghe máy nhỏ xình xịch cập mạn thuyền; Hoàng Phúc bước lên với vẻ mặt bơ phờ và đôi mắt thâm quầng.