Cánh Cổng Nơi Mây ChếtCh.37 / 60
Chapter 37

Ba mảnh nhân chứng

Ngọn nến sáp khinh vân leo lét rọi lên những dòng ghi chép đứt đoạn trên trang sổ tay của Trác Minh, nơi ba cái tên cổ cùng ba tọa độ trôi dạt dần hiện rõ qua từng nét mực phục hồi.

Ánh sáng xanh nhạt hắt lên vách sắt gỉ của khoang lái chiếc *Dực Điệp*. Con tàu lậu đang nương theo một luồng gió nghịch ngầm ở tầng đối lưu thứ tư, tắt ngấm đèn hiệu để lẩn tránh các trạm quan trắc tầm xa của Ty Giám Vân. Mùi dầu khinh vân cháy dở quyện với vị mặn chát của sương mù Biển Mù bốc lên từ khe sàn gỗ, nhưng không ai bận tâm đến sự ngột ngạt ấy. Mọi ánh mắt đều ghì chặt vào bàn tay phải của Trác Minh. Từng đường gân máu nơi cổ tay anh giật nhẹ theo nhịp đập của những vết sẹo xoắn ốc—những rãnh khắc cổ xưa mà cơ thể anh ghi nhớ trước cả khi trí não kịp định hình lại ký ức đã mất. Từng thớ thịt co thắt nhè nhẹ theo chu kỳ tỏa nhiệt của ngọn nến; chất sáp xanh biếc nhỏ từng giọt đặc quánh xuống mép bàn gỗ phong bọc đồng, đông cứng lại thành những vệt mờ đục tựa như lớp vảy của một loài sinh vật hàn đới vừa trút hơi thở cuối cùng.

Cứ mỗi lần chiếc tàu chao nghiêng vì vấp phải một túi khí rỗng giữa tầng mây, ngọn bấc lại khẽ lách tách, hắt cái bóng dài ngoằng của Trác Minh lên vách thép loang lổ vết ố đồng. Cây bút lông chim bị tước gần hết phần diềm lông mềm của anh chuyển động cẩn trọng, đầu ngòi nhúng vào thứ mực chiết xuất từ rễ cây dạ quang đáy vực, cẩn thận đồ lại những ký hiệu hình học vốn đã bị thời gian và ẩm mốc bôi mờ trên tấm hải đồ đo vẽ bằng tay.

"Tọa độ đáy ống trục vonfram của phụ thân cô không phải là những con số vô hồn," Trác Minh hạ giọng, ngón tay khẽ miết lên mặt giấy ráp, nơi ba chấm mực đỏ đã được liên kết thành một tam giác phong ấn hoàn chỉnh. Những đường nét kỷ hà học cổ xưa cắt qua các tầng mây danh định, chia cắt không phận kinh kỳ thành những khoang áp suất tưởng tượng. "Hoài Phong và mẹ cô, bà Lam Tố Vân, đã tính toán điểm rơi của ba dòng chảy ký ức độc lập từ ba trăm năm trước. Ba nhân chứng sống sót sau ngày giao ước bị xé bỏ, đại diện cho ba mảnh vỡ của một sự thật mà triều đình Bạch Vân đã dùng máu và tro tàn để xóa sổ."

Lam An đứng tựa vào khung cửa khoang máy, bàn tay siết chặt lấy Chìa Khóa Tịch Vân bên hông. Lớp vỏ hợp kim lạnh ngắt của chiếc chìa khóa truyền qua lớp áo mỏng một nhịp rung âm ỉ, tựa như một mạch đập thứ hai ký sinh dưới xương sườn nàng, dập dềnh và buốt giá. Nó rung lên theo từng dao động nhỏ nhất của áp suất bên ngoài thành tàu, như thể chính nó cũng đang lắng nghe hơi thở của những kẻ sống sót qua thời gian, những mảnh hồn chưa chịu tan biến vào hư không sau ba thế kỷ bị chối bỏ. Gió lùa qua khe cửa thông hơi mang theo tiếng rít trầm đục của cánh quạt đẩy phía đuôi thuyền, hòa lẫn tiếng kim loại co giãn răng rắc dưới cái lạnh thấu xương của tầng đối lưu.

Nàng nhìn Trác Minh, cất giọng trầm tĩnh:

"Họ là những ai?"

Trác Minh lấy chiếc thước đo góc bằng đồng thau, đặt một cạnh khớp với đường vĩ tuyến trôi dạt của kinh thành. Anh vạch một đường thẳng đầu tiên hướng về vùng lõm mây đen phía tây kinh kỳ, nơi các dòng hải lưu khí quyển xoáy tít lại thành một con mắt bão vĩnh cửu:

"Người thứ nhất là Tu sĩ Huyền Chân, nguyên Thượng tọa Lưu trữ của Tu viện Vạn Vọng ba trăm năm trước. Trong bản biên bản nội bộ tuyệt mật bị niêm phong mà tôi từng tiếp cận được một phần trước khi bị trục xuất khỏi Viện Chính Sử, ông ta là người bảo thủ từng tự tay đặt đại ấn kiểm duyệt lên các cuộn kinh thư ghi chép về cơn bão ký ức đầu tiên. Sau khi triều đình kích hoạt Trượng Khinh Vân và rút máu Vũ Uyên, chính Huyền Chân đã ký vào văn bản niêm phong sự thật, hợp thức hóa việc gọi Kẻ Giữ Mưa là ác long để ngăn chặn sự hoảng loạn trong giáo hội. Suốt ba thế kỷ, ông ta tự nhốt mình trong buồng ngưng đọng tâm thức dưới hầm sâu, bị quá khứ dằn vặt đến mức tâm thức hóa đá."

Ngòi bút của Trác Minh dừng lại một nhịp, thấm thêm một giọt mực xanh trước khi trượt sang tọa độ thứ hai, nằm chơ vơ tại dải đất hoang phế bên rìa tây kinh thành Bạch Thiên—một rẻo đất treo lơ lửng giữa lưng chừng trời, nơi những mảnh vụn kiến trúc của thời tiền triều vẫn còn vương vãi như xương tàn sau một bữa tiệc man rợ:

"Người thứ hai là cựu binh Tiêu Thiết, đội trưởng đội Thiết Giáp Cận Vệ năm xưa. Khác với những chức sắc tôn giáo chỉ biết nhìn sự việc qua các tấm màn lụa và mật mã phong ấn, ông ta là người bảo vệ rồng bằng xương bằng thịt, mang mảnh ký ức nguyên bản về thời khắc những mũi kích khinh vân đâm lén vào tim Vũ Uyên khi ngài đã kiệt sức vì nuốt trọn bão ký ức cứu thế gian. Đội quân của ông ta từng thề trung thành với giao ước giữa người và rồng, nhưng rồi chính họ bị phục kích bởi các đơn vị cơ giới hóa sơ khai của hoàng tộc ngay trên đài phong ấn. Hồ sơ của Tiêu Thiết từng bị Viện Chính Sử xóa sổ, xóa luôn cả công trạng lẫn nhân thân, còn bản thân ông bị giam lỏng giữa một trại thương phế binh mục nát, nơi những kẻ có ký ức không đúng quy chuẩn bị vứt bỏ cho đến chết."

Cuối cùng, ngòi bút của Trác Minh cắm mạnh vào điểm giao cắt thấp nhất—nơi tiếp giáp giữa đáy Biển Mù và ranh giới mặt đất, vùng ranh giới tử địa ngập ngụa khí độc và sương ăn mòn kim loại:

"Và người thứ ba là Nàng Đan, một ca nương của Làng Đáy Trời. Bà không giữ văn tự, không mang phù hiệu hay huân chương, cũng chẳng có chức vị gì trong các biên niên sử mục nát của giới quý tộc. Nhưng trong huyết quản của bà là sử ca truyền khẩu nguyên bản mười hai khúc—khúc bi ca ghi lại tiếng khóc của những cộng đồng bị vương triều bỏ rơi dưới đáy vực khi kinh thành nâng bổng lên trời bằng máu rồng. Khi Bạch Thiên bay lên, họ đã cắt đứt các dây neo hạ tầng, biến hàng vạn dân phu và cư dân nghèo khó thành vật tế thần cho sự trôi dạt vĩnh hằng. Ba trăm năm qua, bài ca ấy chỉ được truyền qua hơi thở, từ lồng ngực này sang lồng ngực khác, tránh khỏi mọi lưỡi dao cạo nhớ của Ty Giám Vân."

Trác Minh buông bút. Một vệt mực đậm đọng lại ở tâm tam giác, đen đặc như một cái hố không đáy.

Một tu sĩ ký lệnh kiểm duyệt để che giấu nỗi sợ của thần quyền, một cận vệ chứng kiến vụ đâm lén phản bội lời thề của thế quyền, và một ca nương mang tiếng khóc của những kẻ bị ruồng bỏ dưới tầng đáy xã hội. Ba góc nhìn đối nghịch, ba mảnh vỡ của cùng một tội ác kinh thiên động địa đã bị vùi lấp dưới lớp mạ vàng của lịch sử chính thống.

"Nếu không có cả ba người cùng cất lời," Lam An khẽ nói, ánh mắt nàng phản chiếu ánh nến xanh leo lét, "kết giới cộng hưởng của Cổng Mây Đen tại tầng Chứng sẽ xé rách tâm thức của bất kỳ ai dám mở khóa. Chiếc chìa khóa này không chấp nhận sự thật một chiều của kẻ thắng cuộc."

Nàng nhớ lại những lời cảnh báo khắc trên bệ đá của Cổng Mây Đen mà phụ thân từng chép lại trong các bản vẽ phân tích áp lực. Tầng Chứng không phải là một cánh cổng cơ học thông thường; nó là một ma trận thẩm âm tâm thức, vận hành dựa trên sự giao thoa hài hòa của các tần số ký ức đích thực. Nếu chỉ mang đến đó sự thật của kẻ chiến thắng, kết giới sẽ coi đó là một mưu toan ngụy tạo; nếu chỉ có tiếng than khóc của nạn nhân, nó sẽ sụp đổ vì sự bi phẫn cực đoan; và nếu thiếu đi lời thú nhận của kẻ đồng lõa, cấu trúc luân lý của cánh cổng sẽ vĩnh viễn khóa chặt.

"Đúng vậy," Trác Minh ngẩng đầu lên, gương mặt anh hằn sâu những nếp nhăn mệt mỏi nhưng đôi mắt sáng quắc một cách kỳ lạ. "Và chúng ta chỉ còn chưa đầy ba ngày trước đêm không trăng. Khi Bạch Tuyên kích hoạt mạng lưới Trượng Khinh Vân để tẩy não toàn cõi, mọi ký ức nguyên bản sẽ bốc hơi vĩnh viễn. Không chỉ ký ức về Vũ Uyên, mà cả nhân tính của toàn bộ cư dân Bạch Thiên cũng sẽ bị định dạng lại thành những cỗ máy tuân phục tuyệt đối."

Trong góc tối của khoang lái, nơi ánh nến không chạm tới được và chỉ có ánh lân tinh lập lòe phát ra từ các đồng hồ đo áp suất, Kha Duy im lặng từ đầu bấy giờ mới khẽ cử động. Cánh tay phải của gã bị nẹp chặt bằng hai thanh gỗ nhẹ sau trận chiến khốc liệt tại Chợ Đổi Nhớ Tàng Phong, chiếc áo khoác rách bươm còn vương mùi pháo khói ký ức và mỡ bôi trơn rỉ sét. Gã bước ra dưới ánh nến, từng bước chân khập khiễng nhưng vững chãi. Nét mặt gã hốc hác, đôi gò má nhô cao làm nổi bật đôi mắt đen sâu thẳm—đôi mắt vẫn ánh lên vẻ sắc sảo, lì lợm của một kẻ sinh ra từ gầm cầu và bến bãi, quen sống sót bằng cách luồn lách qua các kẽ hở của luật pháp và bạo quyền.

Kể từ khi sự thật về tinh thể âm học mười lăm năm trước bị phơi bày tại Tàng Phong, khoảng cách giữa gã và Lam An đã biến thành một vực sâu vô hình. Không còn những lời cợt nhả vụng về, không còn sự thân mật nửa đùa nửa thật che giấu những toan tính cá nhân. Giữa họ chỉ còn lại một bản cam kết trách nhiệm lạnh lùng: gã phải sống để làm nhân chứng chuộc tội trước Cổng Mây Đen, để trả lại món nợ máu mà cha gã—hoặc chính sự phản bội vô tình của mạng lưới trộm cắp năm xưa—đã trút lên gia đình nàng.

"Chúng ta không thể cùng lúc đi cả ba hướng bằng chiếc khí thuyền tơi tả này," Kha Duy cất giọng khàn đặc, hướng thẳng về phía Lam An mà không dám nhìn vào mắt nàng. Gã nhìn trân trân vào Chìa Khóa Tịch Vân bên hông nàng, như thể nhìn vào một chiếc giá treo cổ dành riêng cho linh hồn mình. "Tiền đồn ranh giới sương mù của Làng Đáy Trời nằm sâu dưới đáy Biển Mù, áp suất có thể nghiền nát Dực Điệp nếu chúng ta hạ độ cao thêm một lần nữa. Khung sườn gỗ của con tàu này đã nứt ba chỗ sau cú thoát hiểm ở Tàng Phong. Nhưng tôi có cách."

Gã dùng bàn tay trái còn lành lặn rút từ trong túi áo ngực ra một chiếc còi xương nhỏ xíu bọc dây chỉ đỏ—tín vật liên lạc khẩn cấp của mạng lưới Đàn Chim Không Tổ. Chiếc còi được mài từ xương sườn của một loài chim săn mây đã tuyệt chủng, bề mặt nhẵn bóng nước sơn dầu bóng và mồ hôi tay.

"Mạng lưới giao liên ngầm của Đàn Chim Không Tổ vẫn còn các trạm neo cáp bí mật nối giữa các giàn khoan cấm và ranh giới mặt đất," Kha Duy nói đều đều, giọng đanh lại như tiếng đá cuội cọ vào nhau. "Hạ Miên đang cầm chân phe Móng Đen ở Tàng Phong, nhưng các nhánh chim con ở Phong Diều và đáy vực vẫn nghe lệnh tôi. Tôi sẽ kích hoạt tín hiệu đuôi én đỏ. Đích thân tôi sẽ đi xuống trạm trung chuyển ngầm, đón ca nương Nàng Đan và dùng đường tời áp lực thấp hộ tống bà ấy vượt qua vành đai tuần tra của Thiết Vũ lên điểm hẹn an toàn ở ngoại vi kinh thành."

Trác Minh cau mày, ánh mắt dừng lại ở cánh tay nẹp gỗ đang run rẩy nhè nhẹ của gã:

"Cánh tay của cậu gãy nát, cơ thể chưa hồi phục sau khi hít phải tro oán hận. Tự mình đi xuống ranh giới Biển Mù lúc này không khác nào tự sát. Áp suất ở đó đủ sức làm vỡ các mạch máu bị tổn thương của cậu chỉ trong vòng nửa canh giờ."

"Tôi chưa chết được đâu, học giả," Kha Duy nhếch mép, nụ cười thoáng hiện vẻ cay đắng quen thuộc nhưng lập tức vụt tắt khi mắt gã chạm phải dáng vẻ lặng thinh của Lam An. Nụ cười ấy chìm lỉm vào bóng tối của gương mặt gầy guộc. Gã quay sang nàng, cúi đầu thật thấp—một cử chỉ hạ mình hiếm thấy ở một kẻ ngỗ ngược từng coi trời bằng vung: "Tôi đã thề trước Giếng Tĩnh Phong. Sinh mạng này là vật thế chấp để đưa các người tới trước cổng thành. Hãy để tôi mang ca nương về. Đó là việc duy nhất một con chuột cống rãnh như tôi có thể làm mà không làm vấy bẩn chiếc chìa khóa của cô."

Lam An nhìn gã. Trong đôi mắt nàng, ngọn lửa hận thù mù quáng từng bốc cháy ở Tàng Phong đã lụi tàn, chỉ còn lại sự nghiêm cẩn sắt đá của người canh gác. Nàng nhìn thấy những giọt mồ hôi lạnh rịn ra trên trán Kha Duy, thấy sự run rẩy mà gã đang cố dùng ý chí sắt đá để kiềm chế nơi đầu ngón tay trái. Nàng biết gã không nói dối; một kẻ phản bội có thể diễn kịch bằng lời nói, nhưng không thể ngụy tạo thứ khí tức dằn vặt đang bốc lên từ da thịt gã—thứ mùi chua chát của một kẻ đang khao khát được đền tội bằng chính máu huyết của mình.

"Đi đi," Lam An cất lời, thanh âm dứt khoát không chút gợn sóng, lạnh lùng nhưng không mang vẻ xua đuổi. "Đưa Nàng Đan đến đài quan sát thiên văn bỏ hoang ở vành ngoài Bạch Thiên trước nửa đêm mai. Nếu anh không tới đúng hẹn, tôi sẽ coi như Đàn Chim Không Tổ đã bội ước, và tôi sẽ tự mình đi tìm mảnh ký ức thứ ba bằng cách của riêng tôi."

"Rõ," Kha Duy đáp gọn lỏn.

Gã không nán lại thêm một giây, không buông thêm một lời phân bua hay từ biệt. Gã lập tức xoay người, dùng vai đẩy chốt sắt của khoang thoát hiểm cá nhân ở mạn sườn con tàu. Gió lạnh lập tức ùa vào buồng lái, mang theo những bụi nước li ti buốt giá làm ngọn nến khinh vân chao đảo dữ dội. Chiếc dù lượn khinh vân mini bung ra với một tiếng *phựt* khô khốc trong tiếng rít xé gió của tầng mây thứ tư. Bóng lưng gầy guộc, xiêu vẹo của kẻ trộm lao vút vào khoảng không đen kịt bên ngoài, lập tức bị màn sương mù dày đặc của Biển Mù nuốt chửng, không để lại bất kỳ dấu vết nào ngoài tiếng rít của không khí bị xé rách.

Trác Minh bước tới kéo sập cửa khoang thoát hiểm lại, gài then sắt. Anh thở dài, quay sang Lam An:

"Chúng ta cũng phải đi thôi. Con đường dẫn tới đài quan sát thiên văn cổ phải băng qua một vùng mây rỗng đầy bẫy dò của Ty Giám Vân. Nếu chúng ta không đến trước rạng đông, hệ thống phản xạ ánh sáng của kính thiên văn sẽ làm lộ vị trí của chúng ta."

Lam An khẽ gật đầu. Nàng đưa tay chạm vào chuôi đoản đao bên hông, chỉnh lại vạt áo choàng che kín Chìa Khóa Tịch Vân. Con tàu *Dực Điệp* gầm gừ chuyển hướng, cánh lái kim loại nghiến ken két khi nó bắt đầu chui vào một hẻm mây hẹp, hướng thẳng về phía phế tích cô độc của một thời hoàng kim đã lụi tàn.

***

Gió rít qua những khe nứt của vòm kính thiên văn khổng lồ, tạo thành những âm thanh rên rỉ như tiếng thở dài của một thời đại đã chết.

Đài quan sát thiên văn cổ nằm chênh vênh trên một mỏm đá vôi trôi dạt thuộc vành đai ngoài cùng của kinh thành Bạch Thiên. Nơi này từng là trung tâm đo đạc quỹ đạo mây của Viện Chính Sử từ hai thế kỷ trước, một công trình kỳ vĩ với những mái vòm bằng đồng mạ bạc có thể xoay ba trăm sáu mươi độ để theo dõi sự chuyển dịch của các dòng khí quyển tầng cao. Nhưng sau khi hoàng triều tập trung toàn bộ quyền lực vào tháp Vân Tâm trung tâm và thiết lập mạng lưới kiểm duyệt gắt gao của Ty Giám Vân, mọi hoạt động quan trắc độc lập đều bị coi là tà đạo. Đài quan sát bị bỏ hoang, các thấu kính quang học tinh xảo bị tháo dỡ hoặc đập vỡ để ngăn chặn việc người dân nhìn thấy những gì thực sự đang diễn ra ngoài tầng mây bao bọc, biến nơi đây thành một phế tích hoen gỉ chìm lấp giữa những thảm rêu khinh vân xám xịt và xác của những cỗ máy đo gió gãy gục.

Chiếc *Dực Điệp* neo lại ở một mỏm đá khuất gió cách đó nửa dặm. Lam An và Trác Minh phải đi bộ dọc theo một cây cầu treo mục nát, nơi những sợi cáp thép đã bị gỉ sét ăn mòn gần hết, đung đưa nguy hiểm trên miệng vực sâu thăm thẳm của Biển Mù. Họ luồn qua đống đổ nát của những bánh răng đồng khổng lồ nằm ngổn ngang như những chiếc xương bánh chè của một con quái vật thời tiền sử, bước qua những mảnh vỡ thủy tinh dày cả tấc lấp lánh dưới ánh sáng mờ mịt của tầng trời ngoài biên giới.

Không khí ở đây loãng và buốt giá, mùi lưu huỳnh bốc lên từ các hốc đá nứt nẻ lẫn với mùi giấy mục của hàng vạn cuộn hải đồ thiên văn bị vứt bỏ dọc các hành lang xoắn ốc. Những trang giấy da ghi chép quỹ đạo gió từ ba trăm năm trước vương vãi khắp nơi, bị sương ẩm làm cho mủn ra, dính chặt vào mặt đá bazan như những lớp vảy da người chết.

"Cẩn thận," Trác Minh thì thầm, bàn tay anh giữ chặt chiếc đoản đao giấu trong tay áo, mắt cảnh giác quan sát những sợi dây đồng mảnh như tơ nhện chăng ngang trần hành lang. "Hệ thống bẫy khí nén cổ ở đây có thể vẫn còn phản xạ tự động nếu áp suất mây thay đổi đột ngột. Người của Viện Chính Sử xưa kia rất đa nghi, họ sẵn sàng chôn sống những kẻ đột nhập bằng cách xả van khí nén làm sập các vòm cuốn."

"Ông ta ở đây sao?" Lam An khẽ hỏi, hơi thở nàng phả ra làn khói trắng mỏng manh. Mắt nàng quét qua những hàng cột đá bazan nứt nẻ, nơi rêu phong phủ kín những dòng minh văn ca ngợi vương triều đã bị cạo sửa nhiều lần.

"Tọa độ của Hoài Phong chỉ thẳng vào buồng đối trọng áp suất dưới chân bệ kính chính," Trác Minh dẫn đường, bước chân anh nhẹ nhàng và chuẩn xác, tránh né từng viên gạch lát sàn bị lỏng có thể kích hoạt các lẫy cơ học ngầm. "Đó là nơi duy nhất trong toàn bộ công trình này duy trì được một trường áp suất nhân tạo ổn định, thích hợp cho việc ngưng đọng tâm thức mà không bị ảnh hưởng bởi sự xáo trộn của bão mây bên ngoài."

Họ dừng lại trước một cánh cửa sắt nặng nề nằm khuất sau một bức tường đổ. Cánh cửa mang phù hiệu hoa sen sáu cánh của Tu viện Vạn Vọng, nhưng phần nhụy hoa biểu trưng cho sự thông tuệ đã bị đục bỏ nham nhở bằng búa tạ, để lại một vết lõm sâu hoắm đầy thù hận. Khóa cửa không dùng chìa thông thường mà là một cơ chế bánh răng chữ cổ phức tạp, với hàng chục đĩa đồng lồng vào nhau mang các ký tự Phạn ngữ cổ đại.

Trác Minh bước lên, kéo tay áo phải để lộ cẳng tay chằng chịt những vết sẹo chữ khắc. Anh áp sát phần da thịt mang rãnh sẹo phát sáng mờ ảo vào bề mặt kim loại lạnh ngắt của ổ khóa. Một dòng nhiệt lượng yếu ớt truyền qua, kích hoạt chuỗi rãnh trượt rỉ sét bên trong. Những bánh răng cọ xát vào nhau kêu *lách cách, ken két*, bụi rỉ sắt rơi lả tả xuống mu bàn chân họ, rồi cánh cửa nặng nề từ từ thụt lùi vào trong, mở toang ra một khoảng tối sâu hun hút bốc lên mùi ẩm mốc nồng nặc của tro tàn và sáp ong cổ xưa.

Bên trong buồng đá chật hẹp, không gian tĩnh lặng đến rợn người, hoàn toàn cách biệt với tiếng gió rít điên cuồng bên ngoài phế tích. Một ngọn đèn dầu cá khinh vân cháy leo lét trên chiếc bàn đá phủ đầy sáp nến khô cứng, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù đọng. Giữa những cuộn giấy da mục nát chất đống như những bức tường thành thu nhỏ và những xâu chuỗi hạt gỗ khắc chú ngữ Vạn Vọng đã mòn vẹt bóng nước, một bóng người gầy guộc như bộ hài cốt khoác áo tu sĩ xám đang ngồi xếp bằng bất động trên một chiếc bồ đoàn rách nát, hai mắt nhắm nghiền.

Đó là Tu sĩ Huyền Chân. Da mặt ông ta nhăn nheo, khô héo bám sát vào xương gò má như một lớp giấy da bọc lấy hộp sọ, những đường gân xanh nổi chằng chịt dưới làn da mỏng dính không còn chút sắc máu. Mái tóc bạc trắng xơ xác rủ rượi chạm đất, hòa lẫn với lớp bụi dày phủ trên bồ đoàn. Thân xác ông dường như đã cạn kiệt toàn bộ sinh khí sau ba trăm năm duy trì trạng thái ngưng đọng tâm thức nhân tạo—một kỹ thuật bí truyền của Vạn Vọng nhằm kéo dài tuổi thọ của thể xác bằng cách làm chậm nhịp đập của tim xuống mức gần như tuyệt đối, đổi lại là sự giam cầm vĩnh viễn của ý thức trong một cơn ác mộng lặp đi lặp lại.

Nhưng điều khiến Lam An phải nín thở không phải là thân xác tàn tạ ấy, mà là những luồng sương mỏng manh màu xám chì đang không ngừng bốc lên từ lồng ngực lõm sâu của ông ta. Thứ sương mây ấy không tan biến vào không khí, mà cuộn xoáy quanh thân thể ông thành những vòng xoắn ốc chậm chạp—thứ mây ký ức của sự dằn vặt, của nỗi ân hận tột cùng đã bị nén chặt qua hàng thế kỷ, đặc quánh và nặng trĩu như chì lỏng.

Tiếng bước chân của Lam An khẽ vang lên trên sàn đá ẩm ướt. Một viên sỏi nhỏ lăn đi phát ra tiếng lách cách thanh mảnh.

Đôi mi bạc phếch của vị tu sĩ già run rẩy dữ dội. Lồng ngực ông phập phồng một nhịp ngắt quãng, như một cỗ máy han gỉ vừa bị ép phải khởi động lại trục quay. Rồi từ từ, mi mắt ông nhấc lên. Ánh mắt ông đục ngầu, mờ mịt như bị phủ một lớp màng sương mù của người chết trôi, nhưng ngay khoảnh khắc luồng sáng xanh biếc từ Chìa Khóa Tịch Vân bên hông Lam An hắt vào đáy mắt, đồng tử của Huyền Chân co thắt dữ dội. Một tia sáng kinh hoàng pha lẫn sự giải thoát bùng lên trong đáy mắt sâu hoắm.

"Chìa khóa... Tịch Vân..." Giọng ông ta thốt ra khản đặc, nghẹn ứ nơi cổ họng như tiếng hai mảnh kim loại rỉ sét cọ xát vào nhau trên bãi đá sỏi. Cơ thể ông run bắn lên, những khớp xương ngón tay kêu răng rắc khi ông cố gắng cử động. "Họ... họ đã trở lại đòi nợ máu rồi sao? Vũ Uyên... ngài đã phá tan xiềng xích của tầng Mây Đen rồi ư?"

"Chúng tôi không đến để đòi nợ máu, thưa Thượng tọa," Lam An bước tới gần hơn, dừng lại cách bệ đá ba bước chân. Nàng đứng thẳng, hai tay buông tự nhiên nhưng vạt áo hé mở để lộ toàn bộ hình dáng của chiếc chìa khóa cổ xưa, phong thái vững vàng như một cột mốc đo gió giữa giông bão. "Chúng tôi đến để đưa sự thật trở lại vị trí vốn có của nó. Trước Cổng Mây Đen."

Tu sĩ Huyền Chân run rẩy đưa đôi bàn tay khẳng khiu, những ngón tay gầy trơ xương với những móng tay dài ngoằng, vàng ố lên ôm lấy khuôn mặt hốc hác của mình. Những giọt nước mắt khô khốc, đùng đục chảy qua kẽ tay ông ta, rơi xuống tấm áo tu sĩ rách mướp phát ra những tiếng lộp bộp nặng nề.

"Sự thật ư? Làm gì còn sự thật nào dưới bầu trời này nữa..." Ông ta lẩm bẩm, giọng điệu ngập tràn nỗi thống khổ tích tụ qua hàng thế kỷ bị giam cầm trong chính tâm thức mình. "Ba trăm năm... Ba trăm năm qua, chưa một khắc nào bần tăng được ngủ yên. Mỗi khi nhắm mắt lại, bần tăng đều nghe thấy tiếng gầm rách toạc không gian của Kẻ Giữ Mưa... Tiếng gầm của một vị thần bị phản bội! Ngài đã nuốt trọn cơn bão ký ức cuồng nộ đang đe dọa xé nát lục địa này, ngài đã gánh lấy toàn bộ sự điên loạn của nhân loại vào lồng ngực mình để cứu vớt hàng triệu sinh linh khỏi cảnh tan biến... Ngài đã tin vào lời thề cùng chung sống, tin vào bản giao ước khắc trên đá thiêng mà hoàng tộc đã dâng lên... Nhưng thứ ngài nhận lại là gì? Bảy mũi giáo Trượng Khinh Vân tẩm thuốc làm tê liệt thần kinh đâm xuyên qua tim khi ngài vừa kiệt sức đáp xuống quảng trường!"

Trác Minh bước lên một bước bên cạnh Lam An. Anh mở cuốn sổ tay, ánh mắt nghiêm nghị như một quan tòa vô hình của lịch sử, giọng anh điềm tĩnh nhưng chứa đựng sức nặng tra vấn nghiệt ngã:

"Và chính ông, Thượng tọa Huyền Chân, nguyên Thượng tọa Lưu trữ của Tu viện Vạn Vọng, đã ký vào văn bản niêm phong lịch sử ấy."

Lời nói của Trác Minh như một nhát búa giáng thẳng vào tâm can đã rạn nứt của vị tu sĩ già. Cơ thể ông ta co rúm lại, hai vai run rẩy bần bật, đầu gục xuống gần như chạm vào mặt bàn đá:

"Phải... chính bàn tay nhơ bẩn này!" Huyền Chân xòe hai bàn tay gầy guộc ra trước ngọn đèn dầu cá, những ngón tay co quắp như muốn tự bẻ gãy chính mình. Giọng ông nghẹn ngào, lẫn trong tiếng thở dốc đứt quãng: "Năm đó, cấm quân của triều đình mang theo những cỗ xe kích khinh vân bao vây kín Tu viện Vạn Vọng. Thừa tướng Bạch Tuyên—không, chính là tổ tiên của dòng họ Bạch Vân ngày nay—đã đích thân bước vào điện lưu trữ. Hắn rút gươm, đặt lưỡi kiếm lạnh ngắt lên cổ toàn bộ các tu sĩ trẻ, những đứa trẻ ngây thơ chưa từng biết đến sự xảo quyệt của quyền lực. Hắn nói rằng nếu sự thật về việc phản bội rồng bị lộ ra, niềm tin của dân chúng vào trật tự thần thánh sẽ sụp đổ, các thành phố bay sẽ rơi rụng trong hỗn loạn, và toàn cõi sẽ chìm vào một cuộc nội chiến đẫm máu."

Ông ta ngửa mặt lên trần đá, hai hốc mắt sâu hoắm trào ra những dòng lệ đục ngầu:

"Họ ép bần tăng phải ký vào biên bản kiểm duyệt tối cao! Họ bắt bần tăng phải dùng con dấu của Vạn Vọng để đóng lên các trang kinh mới, đổi tên Kẻ Giữ Mưa thành Ác Long Vũ Uyên, thêu dệt nên câu chuyện ngài nổi điên muốn hủy diệt thế giới, và triều đình đã anh dũng trấn áp ngài để bảo vệ muôn dân! Họ dùng sự dối trá ấy để hợp thức hóa việc trích máu ngài, biến dòng máu linh thiêng thành nhiên liệu duy trì các lò đốt Vân Tâm, nâng bổng kinh thành lên trời cao bằng sự thống khổ triền miên của một sinh linh cứu thế! Bần tăng đã hèn nhát... Bần tăng đã tự lừa dối mình rằng mình hy sinh một sự thật để cứu lấy mạng sống của hàng trăm tu sĩ trẻ, cứu lấy sự bình yên giả tạo của giáo hội... Nhưng đó là sự dối trá! Một sự dối trá mục ruỗng đã gặm nhấm linh hồn bần tăng suốt ba trăm năm nay, biến bần tăng thành một con ma sống không bằng chết!"

Những dải sương xám chì bốc lên từ ngực Huyền Chân lúc này cuộn trào dữ dội hơn, va đập vào vách đá tạo nên những tiếng thì thầm ma quái—tiếng tụng kinh sám hối của hàng trăm đêm không ngủ, tiếng gào khóc câm lặng của một kẻ đồng lõa bị lương tâm xé rách từng ngày.

Lam An nhìn chăm chú vào luồng sương ấy. Nàng không thấy sự thù ghét hay giận dữ trong lòng mình nữa; đối diện với một linh hồn đã tự trừng phạt mình bằng ba thế kỷ đọa đày trong buồng đá tối tăm này, mọi sự phán xét từ bên ngoài đều trở nên thừa thãi. Nỗi đau của ông ta là thật, và sự dằn vặt ấy đã thanh lọc toàn bộ những mưu tính hèn hạ năm xưa, biến nó thành một nhân chứng bi thảm nhất của sự suy đồi luân lý vương triều.

"Thượng tọa," Lam An cất giọng, âm điệu nàng vang vọng, đanh thép và sáng rõ giữa không gian ngột ngạt. "Sự hèn nhát của quá khứ không thể xóa bỏ, những giọt máu của Vũ Uyên cũng không thể thu hồi. Nhưng lời chứng của hiện tại có thể mở đường cho sự cứu rỗi. Tầng Chứng của Cổng Mây Đen cần lời thú nhận của ông. Cánh cổng ấy cần một tu sĩ đã từng ký vào bản văn kiểm duyệt đứng ra làm chứng rằng: lịch sử được viết bằng máu và mực của triều đình là một sự ngụy tạo tàn bạo. Ông có dám bước ra trước ánh sáng, đối diện với Hắc Long và toàn thể nhân loại để nói lên sự thật mà ông đã chôn giấu không?"

Huyền Chân từ từ hạ tay xuống. Trong đôi mắt đục ngầu của ông, lớp màng sương dường như tan biến đi một phần, để lộ ra một tia sáng kiên định, lạnh lùng và thanh thản hiếm hoi—thứ ánh sáng của một kẻ đã chạm tới đáy của địa ngục và không còn gì để mất. Ông ta nắm chặt hai bàn tay khẳng khiu lại, hít một hơi thật sâu lồng ngực lép kẹp, tiếng thở rít lên như gió qua hang đá:

"Bần tăng đã sống quá lâu trong bóng tối của tội lỗi này rồi. Thân xác này, linh hồn này, vốn dĩ đã nên tan thành cát bụi từ ba trăm năm trước cùng với bản giao ước bị xé bỏ. Dù phải tan biến thành tro bụi dưới ngọn lửa thịnh nộ của rồng, hay bị nghiền nát bởi áp lực của Cổng Mây Đen, bần tăng cũng sẵn sàng ra đối chất! Hãy đưa bần tăng đi, hỡi Người gác cổng!"

Một tiếng thở phào khẽ trút ra từ lồng ngực Lam An. Mảnh ghép đầu tiên—mảnh ghép mang sức nặng của sự phản bội tôn giáo và sự hối lỗi—đã chịu mở lời. Nàng quay sang nhìn Trác Minh, hai người khẽ gật đầu với nhau. Họ đã có được lời chứng của Tu viện Vạn Vọng.

Nhưng đúng lúc niềm hy vọng mong manh vừa nhen nhóm trong căn buồng đá ẩm mốc, một âm thanh xé gió chói tai đột ngột vang lên từ khoảng không bên ngoài đài thiên văn.

*Vút! Binh!*

Một vật thể kim loại lao qua vòm kính vỡ nát phía trên đại sảnh, cắm phập vào khung cửa gỗ dày của buồng đối trọng áp suất. Đó là một mũi tên tín hiệu bằng đồng rỗng ruột, đuôi mũi tên mang theo một dải lụa đỏ thẫm đang bốc khói nghi ngút. Khói đen mang mùi lưu huỳnh nồng nặc và mỡ cá voi bốc lên cuồn cuộn, tỏa ra dao động áp suất cực nhanh—mật mã cảnh báo cấp độ cao nhất của Đàn Chim Không Tổ: *Tổ vỡ, cắt cánh!*

Chưa đầy ba nhịp thở sau, tiếng bước chân dồn dập, loạng choạng vang lên trên hành lang đổ nát bên ngoài. Tiếng kim loại va đập vào đá bazan nghe hỗn loạn và gấp gáp. Cánh cửa sắt vừa mở hé bị một lực cực mạnh đẩy tung ra, đập sầm vào vách đá.

Bóng hình Kha Duy lảo đảo ngã bổ chửng vào trong buồng.

Gã thở không ra hơi, lồng ngực phập phồng dữ dội như một ống bễ lò rèn sắp nổ tung. Nửa thân trên của gã ướt đẫm sương đêm lạnh ngắt và máu tươi—máu đỏ thẫm ứa ra từ vết thương bị rách toạc ở bả vai trái, chảy dài xuống cánh tay lành lặn và nhỏ tong tỏng xuống sàn đá. Cánh tay phải nẹp gỗ của gã đã bị gãy đôi một thanh nẹp, các dải vải băng nhuộm đen bởi muội than và dầu máy. Nhưng điều khiến Lam An và Trác Minh lập tức biến sắc không phải là những thương tích đẫm máu trên cơ thể gã, mà là sự bàng hoàng tột cùng, một nỗi khiếp đảm chưa từng thấy trong đôi mắt của kẻ vốn dĩ chưa từng biết sợ hãi trước cái chết.

"Kha Duy! Chuyện gì đã xảy ra?" Lam An lao tới, vứt bỏ mọi sự dè dặt thường ngày, vươn tay đỡ lấy bờ vai đẫm máu của gã. "Ca nương Nàng Đan đâu? Đàn Chim Không Tổ bị phục kích ở đáy Biển Mù sao?"

"Ca nương... ca nương an toàn..." Kha Duy hổn hển nói, từng lời như bị bóp nghẹt nơi cuống họng đầy đờm và máu. Gã ho sặc sụa, phun ra một búng máu bầm xuống sàn. "Đàn Chim Không Tổ đã đón được bà ấy tại trạm neo số bốn... nhánh chim lặn của Hạ Miên đã liều mạng cắt đứt ba đường cáp chính để đánh lạc hướng tàu tuần tra... bà ấy đang được đưa lên theo đường ống xả ngầm của giàn khoan số bảy... Sẽ tới điểm hẹn ngoại vi kinh thành an toàn... Nhưng... tin dữ..."

Gã nuốt nước bọt cái ực, bàn tay trái đẫm máu và run rẩy bần bật thò vào trong lớp lót ngực áo rách bươm. Gã rút ra một cuộn giấy da bọc kim loại màu xám bạc—thứ văn kiện mang ấn triện dập nổi hình một con mắt mù quáng bị ba mũi kim khâu xuyên qua. Phù hiệu của Ty Giám Vân.

"Toán sát thủ khâu nhớ của Tạ Nghiêm... bọn chúng đã đánh hơi ra trước chúng ta một bước!" Kha Duy nghiến răng ken két, hàm răng gã nhuốm đỏ máu tươi, từng thớ cơ trên gương mặt giật giật vì một sự phẫn uất tột cùng. "Chúng không đuổi theo tôi xuống đáy vực... Mục tiêu của chúng từ đầu không phải là Làng Đáy Trời! Trại cựu binh biệt lập ở rìa tây kinh thành... cái trại thương phế binh mục nát ấy... vừa bị ba đội cơ động Thiết Vũ san phẳng cách đây hai canh giờ! Bọn chúng phóng hỏa thiêu rụi toàn bộ các dãy lán, dùng hơi độc khinh vân vô hiệu hóa toàn bộ khu vực... Tiêu Thiết... người cận vệ già mang mảnh ký ức hộ long... đã bị chúng bắt sống!"

"Cái gì?!" Trác Minh thốt lên, giọng anh lạc đi vì kinh hoàng. Cuốn sổ tay trên tay anh tuột khỏi những ngón tay run rẩy, rơi cạch xuống mặt bàn đá. "Tạ Nghiêm đã bắt cóc nhân chứng Thiết Giáp Cận Vệ? Làm sao hắn có thể tìm ra một cựu binh vô danh đã bị xóa hồ sơ ba trăm năm trước nhanh như vậy?"

"Không chỉ là bắt cóc," Kha Duy giơ cuộn giấy da xám bạc lên trước ngọn nến khinh vân leo lét, giọng gã run lên bần bật vì phẫn nộ và tuyệt vọng. "Hắn không hề giấu giếm hành tung! Hắn giết sạch lính gác, san phẳng trại lính, rồi công khai găm bức chiến thư này vào ngực của người liên lạc Đàn Chim Không Tổ tại cổng trại... Hắn cố tình gửi nó qua mạng lưới giao liên ngầm của chúng tôi... Hắn biết! Tạ Nghiêm biết chúng ta đang thu thập ba nhân chứng để mở tầng Chứng của Cổng Mây Đen!"

Lam An giật lấy cuộn giấy kim loại từ tay Kha Duy. Bề mặt giấy lạnh buốt như băng tuyết ngàn năm, tỏa ra mùi hóa chất tẩy não đặc trưng của Ty Giám Vân—thứ mùi hôi hắc của axit và sáp paraffin bị đốt cháy. Bằng những ngón tay run rẩy nhưng dứt khoát, nàng xé toạc lớp niêm phong sáp đen mang hình con mắt mù quáng.

Dưới ánh lửa bập bùng của ngọn nến sắp tàn, những dòng chữ sắc lạnh, nắn nót một cách tàn nhẫn, từng nét móc nhọn hoắt như được khắc bằng dao mổ kim loại của Tổng giám Tạ Nghiêm hiện rõ mồn một trên nền giấy bạc:

*“Gửi Người gác cổng non nớt và những kẻ lữ hành mộng tưởng.*

*Lịch sử là một tấm áo đại triều đã được cắt may phẳng phiu bằng trật tự và sự hy sinh tối thượng, không bao giờ dung thứ cho những đường chỉ thừa thãi của thứ ký ức tạp nham, phản trắc. Kẻ cận vệ già Tiêu Thiết đang nằm trong tay ta, và kim chỉ của Những Người Khâu Nhớ đã sẵn sàng xâu qua màng tâm thức mục ruỗng của hắn để vá lại mảnh ký ức cuối cùng.*

*Vào giờ Ngọ ngày mai, tại Quảng trường Hành hình trung tâm Ty Giám Vân, dưới chân Đài Vân Tâm, ta sẽ tổ chức một phiên Thẩm tra Ký ức Công khai. Ta sẽ đích thân dùng lò nén khinh vân cực hạn để thanh lọc, nghiền nát và xóa sổ vĩnh viễn tàn thức hộ long của Tiêu Thiết trước sự chứng kiến của toàn thể vương triều, biến mảnh chứng cứ mục nát ấy thành tro bụi hư vô.*

*Nếu ngươi thực sự tin rằng sự thật có quyền năng cứu rỗi thế gian này, nếu ngươi tin vào thứ công lý viển vông mà cha ngươi đã bỏ mạng để theo đuổi, hãy mang Chìa Khóa Tịch Vân đến dự phiên tòa. Hãy bước lên đài hành hình và dùng chiếc chìa khóa của ngươi để biện hộ cho hắn.*

*Bằng không, hãy ngoan ngoãn trốn chui trốn nhủi trong sương mù của Biển Mù như những con chuột cống hèn hạ, và từ xa mà chứng kiến mảnh chứng cứ thứ hai của ngươi tan thành tro bụi. Khi tiếng chuông ngọ môn vang lên, cánh cổng dẫn tới tầng Chứng sẽ vĩnh viễn khép lại trước mặt ngươi.”*

Bức thư trượt khỏi những ngón tay buốt cóng của Lam An. Tấm giấy bạc chao đảo trong không trung rồi rơi sột soạt xuống nền đá lạnh ngắt, nằm im lìm bên cạnh những giọt máu tươi của Kha Duy.

Một sự im lặng ngột ngạt, đè nặng như ngàn vạn tấn đá đổ ụp xuống căn buồng đối trọng. Huyền Chân thở dài một tiếng não nề, đôi mắt già nua nhắm nghiền lại trong sự bất lực cùng cực; Trác Minh đứng chết trân, hai bàn tay siết chặt lấy mép bàn đá đến mức các khớp ngón tay trắng bệch; còn Kha Duy thì tựa lưng vào vách đá, ngửa đầu thở dốc, ánh mắt đờ đẫn nhìn lên trần nhà nứt nẻ.

Một cái bẫy công khai. Không có mưu ma chước quỷ giấu giếm, không có những cuộc phục kích trong bóng tối. Tạ Nghiêm đã giăng ra một cái bẫy thanh thiên bạch nhật, đặt ngay tại trung tâm quyền lực tàn bạo nhất của kinh thành Bạch Thiên, dùng sinh mạng và mảnh ký ức sống của Tiêu Thiết làm mồi nhử. Hắn thách thức nàng bước vào thánh địa của kẻ thù, nơi hàng ngàn mũi kích khinh vân và các pháp trận phong ấn tâm thức đang chực chờ nuốt chửng bất kỳ kẻ nào dám làm lung lay sự thống trị của hoàng triều.

Gió đêm từ Biển Mù bên ngoài đột ngột rít lên một hồi điên cuồng qua khung cửa vỡ. Luồng khí lạnh thấu xương thốc vào buồng đá, thổi bạt ngọn nến sáp khinh vân duy nhất, dập tắt ngọn lửa xanh le lói. Toàn bộ căn phòng lập tức chìm vào một vùng tranh tối tranh sáng đầy đe dọa, chỉ còn lại ánh sáng xanh lam u uất phát ra từ Chìa Khóa Tịch Vân và dải sương xám chì dằn vặt lượn lờ quanh lồng ngực vị tu sĩ già.

Lam An siết chặt nắm tay. Móng tay nàng cắm sâu vào lòng bàn tay, đau nhói, nhưng cơn đau thể xác ấy lập tức bị đè bẹp bởi ngọn lửa quyết liệt đang bùng cháy trong lồng ngực nàng. Nàng ngẩng đầu lên, nhìn qua khung kính vỡ của đài thiên văn, hướng thẳng về phía khoảng không đen ngòm nơi kinh thành Bạch Thiên đang tỏa sáng rực rỡ ở đằng xa—chiếc vương miện giả tạo bằng đá và vàng ròng đang ngạo nghễ trôi nổi trên nền mây mục ruỗng của sự dối trá.

Giờ Ngọ ngày mai. Quảng trường Hành hình của Ty Giám Vân. Nàng biết mình không còn đường lui. Nếu không có ký ức của Tiêu Thiết, Cổng Mây Đen sẽ mãi mãi là một bí mật bị chôn vùi, và sự hy sinh của cha mẹ nàng, của Vũ Uyên, của hàng vạn sinh linh dưới đáy vực sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Nàng buộc phải bước vào miệng cọp, đối đầu trực diện với Tạ Nghiêm và toàn bộ cỗ máy khâu nhớ tàn bạo của vương triều.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories