Căn Bếp Nhỏ Của BàCh.9 / 35
Chapter 9

Lá thư dưới đáy ngăn kéo

Gian bếp nhỏ phía sau căn nhà rường khi trời còn tờ mờ sáng bừng lên trong thứ ánh sáng vàng vọt, ấm sực của ngọn đèn măng-xông và ánh lửa than củi, phơi bày cả một thế giới rực rỡ sắc màu của mười mấy món bổi ăn kèm cơm hến: bắp chuối bào mỏng như tơ, khế chua thái lát hình sao, bạc hà giòn rụm và mớ rau thơm ngát xứ vườn bãi.

Sau suốt một đêm thức trắng ngồi bên ngọn đèn dầu tập lia lưỡi dao bài bằng thép rèn trứ danh của làng Hiền Lương mà hôm qua ông Lộc đã trao cho, những đầu ngón tay của My đã bắt đầu tê dại, trầy xước và thâm tím vì mủ chuối chát. Đôi bàn tay vốn chỉ quen lướt êm ái trên bàn phím máy tính hay lật giở những tập tài liệu bóng bẩy của các dự án truyền thông ở Sài Gòn, nay chằng chịt những vết cứa nông sâu rát buốt. Nhưng đổi lại cái giá của sự nhọc nhằn ấy, những bắp chuối sứ non màu tím mỡ màng, sau khi bóc đi mấy lớp bẹ già bên ngoài, đã biến thành từng sợi mỏng tang, xoăn tít như những dải đăng ten mềm mại. Chúng được ngâm ngập trong thau nước giếng trong vắt đã vắt đẫm chanh tươi và thả vài hạt muối hột để giữ nguyên màu trắng muốt tinh khôi, tuyệt nhiên không một vết thâm xỉn.

Bên cạnh thau bắp chuối, từng lát khế chua mỏng dính hình ngôi sao xanh nhạt được xếp đều tăm tắp trên chiếc mẹt tre; những cọng bạc hà tước sạch lớp xơ dai, thái vát xéo đều chằn chặn để giữ độ giòn sần sật; cùng chiếc rổ tre đựng mớ rau thơm gồm ngò gai, húng lủi, rau răm thái nhỏ, tỏa ra hương thơm dịu nhẹ, thanh tân, đối chọi lại với làn sương lạnh mùa đông buốt giá đang luồn qua từng khe liếp nứa của chái bếp.

Đứng tựa lưng bên cột gỗ kiền kiền của chái bếp, Trần Minh Thiện khoanh hai tay trước ngực. Ánh mắt anh quan sát từng cử chỉ, từng đường dao gạt bổi của My với vẻ nghiêm nghị và khắt khe quen thuộc. Không còn nét cười đùa nhẹ nhàng, ý nhị của người thầy giáo dạy nhạc hằng ngày vẫn gảy đàn bên khung cửa sổ, trước ngọn lửa bếp và di huấn ẩm thực của người xưa, anh hóa thân thành một người giám sát tuyệt đối không khoan nhượng. Trong mắt anh, mỗi một hạt cơm, một cọng rau bổi xứ này đều là sự tích tụ của lịch sử, của nếp nhà và cốt cách con người, chỉ cần một chút xao nhãng hay cẩu thả là cái thần thái của món ăn lập tức tiêu tán.

“Thịt hến đã ráo nước hoàn toàn chưa?” Thiện cất tiếng hỏi, giọng trầm và dứt khoát như một mệnh lệnh.

My giật mình khẽ ngẩng lên, đưa mu bàn tay áo quẹt vội những sợi tóc mai đang lòa xòa trước trán, rồi cúi xuống nhìn chiếc rây tre:

“Dạ ráo rồi anh. Em đã để nghiêng rổ suốt nửa tiếng trên chậu sành, không còn đọng một giọt nước lạnh mô nữa.”

“Nhớ lấy lời dặn trong cuốn sổ bìa da của mệ Lành,” Thiện bước lại gần hơn nửa bước, ánh mắt dừng lại nơi rổ thịt hến nhỏ li ti như hạt đỗ, “hến dùng cho cơm hến không được phép nhiều nước lõng bõng như hến xào canh, cũng tuyệt đối không được xào cho khô xác, quéo quắt như hến xúc bánh tráng bến Đập Đá. Lửa phải đủ già để mỡ lợn phi thơm củ nén đập dập, rồi trút thịt hến vào đảo thật nhanh, thật đều tay. Hến gặp nhiệt cao tức thì co lại, ngoài mặt săn chắc nhưng cắn vào bên trong vẫn phải giữ trọn vẹn vị ngọt bùi béo ngậy của dòng phù sa sông Hương. Lệch một khắc lửa là thịt hến biến thành bã trầu, mất hết cái tinh túy.”

My gật đầu, hít sâu một hơi để ổn định lại lồng ngực đang đập rộn ràng vì căng thẳng. Cô bắc chiếc chảo gang dày cùi, nặng trịch lên kiềng ba chân. Đống than phi lao bên dưới đã đượm hồng từ lâu, tỏa ra thứ nhiệt lượng bức bối làm đỏ ửng hai gò má vốn xanh xao vì thiếu ngủ của cô. Dùng chiếc muôi nhôm nhỏ, My múc một muỗng mỡ lợn trắng muốt như tuyết thả vào lòng chảo. Mỡ vừa chạm đáy gang nóng rực liền tan chảy xèo xèo, bốc lên một làn khói mỏng thơm ngậy mùi béo ngậy tự nhiên. Đợi mỡ sôi tăm, cô nhanh tay trút nắm củ nén đã bóc vỏ lụa, giã giập trên cối đá vào chảo.

Mùi hành tăm thơm nồng nàn, hăng hắc đặc trưng của dải đất miền Trung nắng gió lập tức bùng nổ, xộc thẳng vào cánh mũi, đánh thức mọi giác quan đang co ro vì giá lạnh trong gian bếp ẩm ướt. Tiếng xèo xèo chuyển sang rộn rã, những mảnh củ nén trắng ngà nhanh chóng ngả sang màu vàng nhạt, viền quanh bởi lớp bọt mỡ li ti sôi sục.

Nhanh như cắt, không để củ nén kịp cháy khét, My trút toàn bộ chiếc bát đựng thịt hến nhỏ li ti đã đãi sạch bùn đất từ chiều hôm qua vào chảo gang. Tiếng rít lớn vang lên chói tai khi thịt hến ướt gặp mỡ sôi. Đôi tay My thoăn thoắt, cổ tay dẻo quẹt cầm chiếc xẻng gỗ đảo lia lịa từ đáy chảo hất lên. Cô với tay lấy lọ gia vị, rải đều một thìa ớt bột cay nồng màu đỏ sẫm, rồi thêm vào một vốc ớt chỉ thiên đỏ tươi băm nhuyễn cùng măng khô đã ngâm nước vo gạo mềm mại, luộc kỹ qua ba lượt nước và tước thành từng sợi mảnh như sợi chỉ khâu.

Mùi cay xè của ớt chỉ thiên quyện chặt với mùi hăng nồng, đằm thắm của măng khô và vị ngọt thanh khiết của thịt hến bốc lên nghi ngút trong làn khói xào. Hơi cay nồng đậm quẩn quanh trong gian bếp kín khiến My không kìm được mà sặc nhẹ một tiếng, sống mũi cay xè, khóe mắt tức thì ứa ra hai giọt lệ nóng hổi. Nhưng đôi tay cô không hề chậm lại dù chỉ một nhịp; cô kiên nhẫn điều chỉnh chiếc xẻng gỗ, lia tròn quanh lòng chảo, đảo cho từng con hến ngấm đẫm gia vị, săn quắt lại và khoác lên mình một lớp áo màu đỏ cam óng ánh, đậm đà, quyến rũ.

“Được rồi đó, nhấc chảo xuống kẻo hến dai nhách,” Thiện gật đầu tán thành, ánh mắt nghiêm nghị thoáng qua nét hài lòng rất khó nhận ra. “Bây giờ sang mẻ tóp mỡ. Đừng để lửa bùng quá, tóp mỡ hỏng là vứt đi cả bát cơm hến.”

My cẩn thận dùng đôi giẻ lót nhấc chảo hến xào đặt lên chiếc đế rơm khô bện tròn cạnh kiềng bếp, rồi đặt lên ngọn lửa một chiếc chảo nhỏ hơn. Cô đổ vào đó những miếng mỡ thăn heo đã được thái hạt lựu vuông vức, đều chằn chặn từ sớm tinh sương. Ban đầu, từng miếng mỡ trắng đục nằm im lìm dưới đáy chảo lạnh, nhưng dưới sức nóng bền bỉ và dịu dàng của than củi phi lao, chúng bắt đầu teo tóp dần lại, tiết ra thứ mỡ lỏng trong veo và sôi lách tách vui tai.

My dùng đôi đũa tre dài đảo nhẹ tay, canh chừng từng giây từng phút chuyển màu của mỡ. Mùi thơm béo ngậy, ngọt ngào của mỡ chín dần dần lấp đầy chái bếp, xua tan cái ẩm mốc của những góc tường cũ. Khi từng miếng mỡ teo lại, chuyển từ màu ngà sang màu vàng rơm óng ả, nở phồng lên và giòn rụm như những hạt ngọc vàng ươm, cô liền dùng chiếc muôi thủng vớt nhanh ra một chiếc rây sắt gác trên miệng âu sành. Tiếng tóp mỡ rào rạo, giòn tan vang lên rộn rã trong bầu không gian tĩnh lặng của buổi sớm mai, tựa như tiếng những giọt mưa rào rơi trên mái ngói liệt.

Ở góc bếp bên kia, chiếc nồi đất nung chứa thứ nước luộc hến được gạn trong vắt từ chiều hôm trước đang được ủ trên một bếp than liu riu. Nước hến sôi lăn tăn, những bọt khí nhỏ li ti như mắt cua sủi tăm liên hồi dưới đáy nồi đất, đẩy lên bề mặt một lớp khói mỏng bốc lên nghi ngút, vấn vít quanh chái bếp. Trong làn khói ấy ngào ngạt mùi thơm ngọt lịm đặc trưng của nước luộc hến tươi bến sông bãi, thoang thoảng chút cay nồng dịu nhẹ của vài lát gừng già đập dập và vị mặn mòi, sâu thẳm của một thìa mắm ruốc Thuận An đã được hòa tan, lắng cặn mà My tỉ mẩn nêm vào theo đúng công thức mực tím của bà nội.

“Nước hến trong lắm, không một gợn cặn phù sa,” Thiện bước tới, cúi thấp người nhìn làn nước đùng đục ánh xanh rêu nhạt sóng sánh trong lòng nồi đất nung, khẽ cất lời khen ngợi. “Học được cách để tâm mình lắng cặn như bát nước hến thì nấu món chi cũng thành, đi đâu cũng vững. Em sửa soạn đi, ngoài trời đã sáng rõ mặt người rồi đó.”

My nhìn lại toàn bộ thành quả bày trên chiếc bàn gỗ mộc thô ráp: chiếc âu sành chứa cơm nguội trắng ngần, tơi xốp từng hạt được nấu từ giống gạo Khang Dân để qua đêm cho se mặt; đĩa thịt hến xào măng cay xé lưỡi óng ánh sắc đỏ cam; rổ rau bổi rực rỡ sắc màu tươi mới; bát tóp mỡ vàng ươm giòn rụm; đĩa đậu phụng rang vàng chao qua dầu ớt bóng bẩy; chén mắm ruốc nguyên chất thơm nức mũi và chiếc âu giữ nhiệt chứa đầy thứ nước hến đang sôi sùng sục, bốc khói ngút ngàn. Tất cả đã sẵn sàng cho một cuộc hội ngộ của ân nghĩa, của quá khứ và lòng tự trọng.

***

Sáng sớm, gió mùa đông bắc thổi từng cơn hun hút dọc theo mặt sông Hương, cuốn theo những dải sương mù giăng mắc bồng bềnh, mờ ảo quanh cồn cát xanh rì của Cồn Hến. Bến Cồn Hến hiện ra vắng lặng, cô liêu trong sắc xám bạc của trời mây mùa đông. Những chiếc thuyền cào hến sau một đêm dài dầm mình ngoài lạch nước sâu nay đã neo đậu sát mép bùn lầy, thân thuyền bằng xi măng xám xịt ướt sũng phù sa, trên mạn còn vương vãi những cọng rong rêu và vỏ ốc vỡ.

My bước từng bước cẩn trọng trên con đường đất lầy lội, trơn trượt dẫn xuống túp lều tranh xiêu vẹo của ông Trần Hữu Lộc. Bùn đỏ bám chặt lấy đế giày bệt của cô, cái rét cắt da cắt thịt luồn qua lớp áo khoác len mỏng. Trên tay cô là chiếc làn mây cũ kỹ đựng các liễn sứ đậy kín và một chiếc bát tô men sành hoa lam đã sứt một góc nhỏ bên miệng—chiếc bát kỷ vật mà năm xưa bà Lành vẫn thường dùng để đong gạo, đong hến cho những người khách quen nơi góc kiệt.

Ông Lộc đang ngồi trên chiếc chõng tre ọp ẹp đặt trước hiên nhà, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ sâu hoắm vì quanh năm ngâm trong nước sông buốt giá đang tỉ mẩn dùng dây kẽm vá lại mép chiếc cào hến bằng sắt đã hoen gỉ. Nhìn thấy bóng dáng My thấp thoáng sau hàng rào dâm bụt trơ trụi cành lá, ông dừng tay cào, ngẩng đầu lên. Ánh mắt đăm chiêu, sắc lạnh của ông nhìn chăm chú vào cô gái trẻ đang bước tới với đôi gò má đỏ ửng vì gió rét và chiếc áo khoác bám đầy tàn tro bếp củi.

“Cháu chào bác Lộc,” My khẽ khàng cất tiếng, dừng lại trước bậc thềm đất nện trũng thấp.

Ông Lộc không đáp lời ngay, chỉ đưa cặp mắt đùng đục nhìn chiếc làn mây trên tay cô. Ánh nhìn của ông không còn vẻ khinh thị, gay gắt như buổi chiều hôm trước khi xua đuổi cô ra khỏi bến sông, nhưng vẫn đầy vẻ dò xét, thận trọng và nghiêm cẩn của một người thợ già đã dành trọn cả cuộc đời gắn chặt với sự nhọc nhằn và cay đắng của dòng nước lạch.

“Đã thái được bắp chuối chưa?” ông hỏi cộc lốc, giọng khàn khàn như tiếng sỏi đá va đập vào nhau dưới đáy lạch sâu.

Không nói một lời phân bua, My bước lại gần chiếc chõng tre, nhẹ nhàng đặt chiếc làn mây xuống rồi từ tốn mở nắp từng chiếc âu sành, từng chiếc liễn sứ.

Trước mắt người cựu thuyền chài, một bức tranh ẩm thực dân tộc mộc mạc nhưng đạt tới đỉnh cao của sự tinh tế đất cố đô hiện ra vẹn nguyên, sống động. My lấy chiếc tô men sành hoa lam, dùng muôi gỗ xới vào đó một lớp cơm nguội mỏng tang, tơi xốp, từng hạt cơm se cứng lại ở dưới đáy bát. Tiếp đó, cô dùng đôi đũa tre gắp từng nhúm rau bổi rải đều lên trên: lớp bắp chuối non thái sợi mỏng manh như tơ tằm mềm mại uốn lượn, vài lát khế chua xanh mướt mọng nước lấp lánh, những cọng bạc hà giòn rụm đã tước sạch lớp xơ dai, cùng mớ rau thơm, ngò gai thái nhỏ xanh ngắt như màu cỏ non ven bờ sông.

Trên nền rau bổi dân dã và mát lành ấy, My múc hai thìa lớn thịt hến xào săn chắc, óng ả màu ớt bột quyện cùng những sợi măng khô dai giòn cay nồng. Cô điểm xuyết thêm một nhúm đậu phụng rang vàng ươm béo ngùi, một vốc tóp mỡ giòn tan rải đều khắp mặt bát, và cuối cùng là rưới nhẹ một thìa mắm ruốc Thuận An thơm lừng, sánh đậm đã được chưng chín tới trên bếp than. Bên cạnh bát cơm nguội khô ráo ấy, My múc một bát nước hến nóng hổi từ trong chiếc âu giữ nhiệt trút ra. Làn khói nghi ngút bốc lên từ mặt nước đùng đục ánh rêu nhạt, mang theo hơi ấm nồng nàn của gừng già giã giập và vị ngọt ngào thuần khiết của con hến sông sâu.

My hai tay bưng tô cơm hến đã hòa quyện các thức bổi cùng bát nước hến bốc khói, kính cẩn nghiêng mình trao tận tay ông Lộc:

“Cháu xin biếu bác tô cơm hến. Công thức ni là của mệ nội cháu để lại trong cuốn sổ tay bìa da, cháu đã tự tay đãi từng rổ hến ngoài bến, tự tay thái từng sợi bắp chuối non bằng chính con dao của bác và nấu trọn vẹn trên bếp củi kiệt An Cựu. Xin bác nhận và nếm thử cho cháu.”

Ông Lộc sững sờ nhìn bát cơm hến nằm gọn trong đôi bàn tay gầy guộc của My. Đôi bàn tay của một cô gái thành thị vốn quen gõ phím máy lạnh, nay chằng chịt những vết cứa nông sâu, đầu móng tay hãy còn ám đen màu mủ chuối chát và vương chút muội than bếp củi chưa kịp rửa sạch. Ánh mắt người thợ già lay động dữ dội. Sự kiêu hãnh cộc cằn và vẻ ngoài gai góc của người thợ sông bãi bỗng chốc tan biến đi đâu mất, chỉ còn lại sự xúc động nghẹn ngào hiện rõ trong đôi mắt đục mờ hằn sâu vết chân chim của năm tháng.

Ông run run đưa hai bàn tay nứt nẻ, thô ráp đón lấy chiếc tô sành hoa lam. Chiếc bát men sứt góc cũ kỹ này, đã hơn ba mươi năm trôi qua ông mới lại được nhìn thấy nó, được chạm tay vào lớp men lạnh ngắt quen thuộc của một thời dĩ vãng xa xăm.

Ông Lộc cầm đôi đũa tre, chậm rãi trộn đều các nguyên liệu trong lòng bát. Tiếng tóp mỡ giòn tan rào rạo va vào thành bát sành, quyện chặt cùng tiếng sột soạt giòn rụm của bắp chuối non và bạc hà tươi mát. Màu trắng của hạt cơm nguội se mặt, màu xanh mướt của rau thơm, màu vàng ruộm của tóp mỡ và sắc đỏ cam cay nồng của ớt bột hòa vào nhau thành một thể thống nhất, rực rỡ và sống động lạ kỳ giữa buổi sớm mùa đông ảm đạm.

Ông đưa miếng cơm đầu tiên lên miệng nhai chầm chậm, từng nhịp nhai như đang nghiền ngẫm lại cả một quãng đời đã trôi qua.

Một thoáng im lặng kéo dài tưởng chừng như vô tận giữa chái hiên lộng gió mùa đông bắc. My nín thở, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo khoác len, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Cô lo sợ một cái lắc đầu, lo sợ một lời chê bai rằng mình vẫn chưa chạm tới được cái hồn cốt ẩm thực mà bà nội đã cả đời gìn giữ.

Vị giòn tan của tóp mỡ vỡ òa giữa hai hàm răng, hòa quyện cùng vị bùi ngậy của đậu phụng rang, vị thanh mát, hơi chát nhẹ của bắp chuối non và chua thanh của lát khế tươi. Và rồi, cái vị cay nồng xé lưỡi của ớt chỉ thiên và măng khô xào hến lập tức bùng nổ, xộc thẳng lên tận đỉnh đầu, làm nóng bừng sống mũi và hai khóe mắt. Giữa cơn cay nồng ngợp thở ấy, vị ngọt đượm đà, đậm sâu của từng con thịt hến săn chắc cùng vị mặn mòi, nồng thắm của mắm ruốc ngấu chín bọc lấy đầu lưỡi, tạo nên một bản hòa tấu phong vị vừa bạo liệt, vừa tha thiết, dịu dàng khôn xiết.

Ông Lộc buông đũa tre, hai tay nâng bát nước hến nóng hổi lên húp một ngụm lớn. Thứ nước luộc trong vắt, ấm nóng trôi qua cuống họng, lập tức xoa dịu đi cơn cay bỏng rát của ớt chỉ thiên, để lại một hậu vị ngọt thanh khiết, ngầy ngậy và sâu lắng tận đáy dạ dày.

Một giọt nước mắt đùng đục từ từ lăn dài trên gò má xạm đen, nhăn nheo của người thợ cào hến già, rơi thẳng xuống mép chiếc chõng tre mục nát.

“Đúng rồi... Đúng là cái vị ni rồi,” ông Lộc run rẩy thốt lên, giọng nghẹn đặc trong cuống họng rát bỏng. “Cay đến chảy nước mắt, mặn mòi đến xé lòng, nhưng cái ngọt hậu thì thấm thía tới tận tâm can, ruột gan. Mấy chục năm rồi, từ ngày mệ Lành không còn gánh hến qua bến sông ni nữa, tau mới lại được ăn một bát cơm hến đúng cái hồn cốt của người xưa. Con bé... cháu đã làm được rồi.”

My thở phào một hơi dài, một cảm giác ấm áp và nhẹ nhõm vô bờ lan tỏa khắp cơ thể cô, xua tan đi hoàn toàn cái giá buốt cắt da cắt thịt của ngọn gió mùa đông đang rít từng hồi ngoài bãi sông.

Ông Lộc cặm cụi ăn hết từng hạt cơm nguội cuối cùng, vét sạch từng sợi bắp chuối non còn vương nơi đáy bát và húp cạn đến giọt nước hến cuối cùng trong chiếc bát đất nung. Ăn xong, ông từ tốn đặt chiếc tô sành xuống mặt chõng tre, lấy mu bàn tay quệt ngang khóe mắt ươn ướt, rồi đưa ánh mắt nhìn xa xăm ra dòng sông Hương đang cuộn chảy lững lờ đục ngầu phù sa.

“Cháu có biết vì sao mệ Lành lại ghi tên một thằng cào hến mạt hạng như tau vào cuốn sổ nợ nghĩa của mệ không?” ông Lộc trầm ngâm cất tiếng, giọng nói chìm đắm trong dòng hồi ức xa xăm của mấy mươi năm về trước.

My khẽ lắc đầu, ngồi xuống mép chõng tre mục, chăm chú lắng nghe từng lời của ông lão.

“Năm Thìn lụt lớn, nước ngập lút nóc nhà, nước sông Hương dâng cao như thác đổ,” ông kể, mắt không rời mặt sông trắng xóa bọt nước. “Cái ghe cào bằng gỗ kiền kiền của tau bị dòng lũ dữ cuốn trôi dạt ra tận cửa biển Thuận An rồi đập vào đá vỡ nát tan tành. Đồ nghề câu cào mất sạch, trong nhà không còn lấy một hột gạo dính răng, vợ con nheo nhóc đói lả trên căn gác xép dột nát. Tau lúc nớ cùng đường, quẫn trí toan nhảy xuống dòng nước xoáy tự vẫn cho rảnh nợ đời. Chính mệ Lành đã đội chiếc nón mê rách, lội bùn ngập tới ngang thắt lưng sang tận Cồn Hến ni tìm tau. Mệ không an ủi một lời sáo rỗng, mệ chỉ mở cái túi vải thô đeo bên hông áo bà ba, lôi ra một cọc tiền dành dụm bằng những tờ bạc giấy nhàu nát, ẩm ướt nhét thẳng vào tay tau.”

Ông Lộc hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới manh áo cộc:

“Mệ bảo: ‘Cầm lấy mà sắm chiếc ghe mới với bộ cào sắt mà làm ăn, nuôi lấy cái thân với vợ con. Nhưng tau nói trước, tiền ni là tiền tau cho mượn, không phải tiền bố thí. Tau không dư của để cho không ai bao giờ.’ Cháu biết không, mệ biết tỏng cái tính tự ái gộc của dân lao động sông nước bọn tau; nếu mệ nói cho không, tau thà chết đói chứ quyết không chìa tay nhận lấy sự thương hại của bất kỳ ai. Mệ ép tau phải nhận đó là một món nợ.”

“Và bác đã trả món nợ đó bằng cách nào ạ?” My xúc động hỏi, nhớ lại những lời kể lấp lửng của ông Phúc thợ may hôm trước.

“Mấy năm sau, tau cào hến ky cóp chắt chiu từng đồng bạc lẻ, gom đủ tiền mang sang căn nhà rường kiệt An Cựu để trả, mệ Lành dứt khoát không chịu nhận lại một đồng tiền mặt nào,” ông Lộc mỉm cười, nụ cười hiền hậu hiếm hoi nở trên gương mặt khắc khổ đầy nếp nhăn. “Mệ chỉ tay ra góc sân gạch Bát Tràng trước hiên nhà rường đang bị rêu phong phủ kín, rễ cây đội lên làm gạch nứt toác, khấp khểnh sau những mùa mưa lụt. Mệ bảo: ‘Tau già rồi, lưng còng gối mỏi không cúi xuống nện đất lát sân được nữa. Tiền cào hến của anh để mà lo cho sắp nhỏ đi học cái chữ. Muốn trả nợ cho tau thì cứ mỗi mùa nắng ráo, vác bay sang đây phụ tau dỡ gạch cũ lên, đầm lại nền cát rồi lát lại từng viên gạch cho phẳng phiu, sạch sẽ.’ Thế là suốt mười mấy năm trời, cứ rảnh việc sông nước là tau lại sang kiệt An Cựu phụ mệ sửa sang sân gạch, dặm lại bờ rào dâm bụt, trám lại các vết nứt tường rường. Bọn tau trả nghĩa cho nhau như hai người bạn đồng đẳng, sòng phẳng và giữ trọn lòng tự trọng cho nhau, không ai phải mang mặc cảm kẻ chịu ơn hay kẻ ban phát bổng lộc cả.”

Lắng nghe câu chuyện, My bàng hoàng nhận ra bài học sâu sắc ẩn chứa sau từng trang sổ di nguyện viết bằng mực tím. Lòng tốt của bà nội cô chưa bao giờ là sự ban ơn trịch thượng từ trên cao nhìn xuống; bà luôn tìm cách nâng đỡ phẩm giá của người khác, giúp họ đứng thẳng lưng bằng chính sức lao động và sự tự trọng của mình.

“Thế còn... bố cháu?” My ngập ngừng cất lời, nhắc đến cái tên đã treo lơ lửng giữa hai người từ ngày hôm trước như một vết thương chưa lành. “Bác và bố cháu năm xưa thân nhau lắm phải không ạ? Sao bao nhiêu năm qua, bác không một lần bước chân sang căn nhà rường nữa?”

Ánh mắt ông Lộc chùng xuống, thoáng qua một nỗi đau xót nghẹn ngào, bàn tay ông vô thức siết chặt lấy chiếc nan tre trên chõng.

“Thằng Quang... bố cháu, từng là thằng bạn nối khố chí cốt của tau. Thuở nhỏ hai thằng cùng cởi trần tắm sông, cùng ngụp lặn bắt ốc, cùng chia nhau củ khoai củ sắn lùi tro than. Nhưng rồi nó học giỏi, thi đỗ vào đại học ở Sài Gòn, lấy vợ thành phố, làm quan chức lớn, tiền tài danh vọng đủ đầy. Còn tau thì muôn đời chỉ là một thằng cào hến dầm bùn nghèo hèn bến sông. Mỗi lần nó về thăm quê, mặc áo quần bảnh bao, đi xe hơi bóng loáng bước vào ngõ, tau nhìn lại manh áo rách bám đầy bùn tanh của mình mà thấy hổ thẹn, tự ti cùng cực. Tau tránh mặt nó, không phải vì tau giận hờn chi nó, mà vì tau xấu hổ trước cái sự nghèo khó của chính mình.”

Ông Lộc thở dài, ánh mắt trĩu nặng nhìn về phía chân trời xa:

“Rồi sau nớ, nghe phong phanh chuyện nó với mệ Lành bất hòa vì nó muốn mệ bán nhà vào Sài Gòn ở cùng, còn mệ thì một mực bám lấy đất tổ tiên, tau lại càng giận nó. Tau giận nó vì nó có học, có tiền mà lại không hiểu được cái gốc rễ tâm can của mẹ mình. Nhưng sau ni nghĩ lại, tau biết mình cũng sai. Sự tự ái hèn mọn của tau đã dựng lên một bức tường ngăn cách tình bạn, biến những hiểu lầm vụn vặt thành một hố sâu ngăn cách suốt ba mươi năm trời.”

Ông Lộc đứng dậy, bước vào bên trong chái nhà lụp xụp tối tăm. My ngồi lặng yên trên chiếc chõng tre, gió sông thổi qua rặng tre ngà xào xạc như tiếng thở dài bất tận của thời gian trôi qua không bao giờ trở lại.

Một lát sau, ông Lộc quay trở ra. Trên tay ông là một chiếc hộp gỗ nhỏ đã sờn bóng mép vì bụi thời gian. Ông ngồi xuống đối diện My, cẩn thận mở chiếc then cài bằng đồng đã gỉ xanh, rút ra từ đáy ngăn kéo một phong thư bằng giấy pơ-luya màu vàng nhạt, mép bì thư đã ố vàng theo năm tháng nhưng vẫn còn nguyên vết hồ dán niêm phong phẳng phiu, chưa từng bị bóc mở.

Bên ngoài phong bì, nét chữ viết tay bằng mực tím quen thuộc, thanh mảnh nhưng cứng cỏi, rành rọt của bà Lành hiện lên rõ mồn một: *“Gửi con trai Kiều Đức Quang — mẹ Lành.”*

Trái tim My thắt lại. Cô nhìn chăm chú vào phong thư cũ kỹ, cảm nhận được sức nặng vô hình của một quá khứ dở dang đang đè nặng lên lòng bàn tay thô ráp của ông Lộc.

“Lá thư ni,” ông Lộc vuốt nhẹ lên mặt phong bì đã sờn mép, giọng trầm lắng lạ thường, “mệ Lành gửi nhờ tau giữ từ bảy năm trước, sau cái lần cuối cùng thằng Quang về Huế rồi hai mẹ con to tiếng cãi vã một trận nảy lửa ngoài hiên nhà rường. Mệ dặn tau giữ kín, tuyệt đối không được gửi bưu điện vào Nam, cũng không được đưa cho chú Vinh hay bất kỳ ai trong họ tộc.”

“Bà nội dặn bác khi nào thì đưa cho bố cháu?” My run run cất tiếng hỏi, mắt không rời nét chữ mực tím của bà.

Ông Lộc ngước mắt lên nhìn My, ánh nhìn nghiêm khắc và đầy thấu thị:

“Mệ dặn: ‘Chỉ giao tận tay thằng Quang khi nào nó tự mình chịu quay về, bước qua ngưỡng cửa căn nhà rường và sẵn sàng quỳ xuống đối diện với mẹ nó.’ Mệ biết tính thằng Quang tự ái rất lớn, nếu gửi thư vào Sài Gòn lúc lòng nó còn ngùn ngụt lửa giận và sĩ diện, nó sẽ vứt vào sọt rác hoặc đọc với tâm thế của một kẻ bị phán xét. Tình phụ tử hay mẫu tử một khi đã bị tổn thương bởi sự tự ái thì nguy hiểm vô cùng, nó có thể phá hủy tất cả mọi sự gắn kết ruột thịt.”

Ông Lộc trịnh trọng đặt phong thư ố vàng vào lòng bàn tay My, rồi khép những ngón tay cô lại thật chặt:

“Nay tau trao lại lá thư ni cho cháu. Nhưng cháu phải nhớ kỹ lời tau dặn: cháu không được tự tiện bóc ra xem, và cũng không được vội vàng dúi lá thư ni vào tay bố cháu như một sự ép buộc hay một công cụ để trách cứ. Hãy chỉ giao nó cho bố cháu khi nào ông ấy thực sự sẵn sàng mở lòng đối diện với quá khứ, tự nguyện quay về căn nhà xưa để tìm lại mẹ mình. Hiểu chưa?”

“Dạ... cháu hiểu rồi. Cháu xin ghi nhớ lời bác dặn,” My nghẹn ngào đáp, những ngón tay cô run rẩy ôm chặt lấy phong thư mỏng manh nhưng trĩu nặng ân tình và nỗi niềm trắc ẩn của người đã khuất.

Sau khi cúi đầu chào tạm biệt ông Lộc và hoàn tất trọn vẹn món ăn thứ ba theo đúng di nguyện của bà nội, My cẩn thận cất phong thư vào túi áo khoác trong sát lồng ngực, nơi có hơi ấm cơ thể, rồi rảo bước nhanh về lại kiệt An Cựu giữa làn gió bấc buốt giá.

***

Căn nhà rường đón My trở về bằng một bầu không khí tĩnh mịch và u trầm quen thuộc. Mùi trầm hương thoang thoảng từ bàn thờ tổ tiên hòa quyện với mùi ẩm mốc của những thớ gỗ kiền kiền đã qua trăm năm tuổi và tiếng gió rít qua những khe cửa sổ khép hờ.

Chiếc điện thoại thông minh của cô sau một ngày bị ngâm ngập trong hũ gạo để hút ẩm đã có thể tạm thời khởi động lại khi cắm vào sợi dây sạc cũ kỹ nơi góc chái bếp. Vừa bật nguồn lên, màn hình lập tức chớp giật liên hồi, báo hiệu dung lượng pin yếu ớt và phần cứng đã bị chập chờn sau những ngày dầm mưa dãi gió ở Huế.

Nhìn chằm chằm vào phong thư ố vàng đang đặt ngay ngắn trên mặt bàn cắt may trải tấm khăn lụa xanh thiên thanh mà ông Phúc đã hoàn thiện hôm trước, lồng ngực My trào dâng một cảm giác thôi thúc mãnh liệt, không thể trì hoãn thêm một giây phút nào nữa. Cô cần phải nói chuyện với bố, ngay lúc này.

My bấm dãy số điện thoại quen thuộc của ông Kiều Đức Quang ở Sài Gòn.

Tiếng chuông điện thoại đổ từng hồi dài, chậm rãi và đơn điệu qua đường dây viễn thông đường dài. Mỗi tiếng tút tút vang lên như một nhịp búa đập căng thẳng giáng thẳng vào màng nhĩ cô, khiến hơi thở cô nghẽn lại.

“Alo? My đó phải không con?” Giọng nói của bố Quang vang lên ở đầu dây bên kia, nghe mệt mỏi, trầm đục và đầy vẻ dè dặt, lo âu.

Nghe thấy giọng bố, một cơn giận âm ỉ bấy lâu bỗng chốc bùng lên nơi đáy ngực My. Bao nhiêu uẩn ức, bao nhiêu lời trách móc dồn nén suốt những ngày qua trào dâng lên cổ họng cô. Cô toan cất lời chất vấn ông: *Tại sao bao nhiêu năm qua bố lại nhẫn tâm xa cách bà nội đến thế? Tại sao bố chỉ biết vùi đầu vào những toan tính làm ăn ở Sài Gòn mà không chịu về thăm mẹ? Tại sao bố lại bỏ mặc người bạn thuở thiếu thời nơi bến sông lầy lội, để mặc những hiểu lầm tích tụ thành vết thương rỉ máu suốt mấy chục năm trời? Tại sao bố lại nhẫn tâm muốn bán đi căn nhà rường ngập tràn kỷ niệm này?*

Nhưng ngay trong khoảnh khắc những lời kết tội cay nghiệt và tàn nhẫn ấy sắp sửa bật ra khỏi bờ môi, My bỗng nhiên khựng lại, nghẹn ứ nơi cuống họng.

Một hình ảnh cay đắng bất thần hiện lên rõ mồn một trong tâm trí cô: buổi chiều thứ Năm oan nghiệt bốn ngày trước tang lễ, trong căn phòng họp máy lạnh sáng choang của công ty Sao Nam, cô đang say sưa thuyết trình về chiến dịch truyền thông bốn tỷ đồng trước những đối tác giàu có. Khi màn hình điện thoại rung lên hiển thị cuộc gọi dài mười bảy giây từ bà nội ở Huế, cô đã lạnh lùng gạt ngón tay từ chối, tắt chuông máy rồi tiếp tục thao thao bất tuyệt về những con số tăng trưởng vô hồn. Để rồi chỉ hai tiếng sau, cuộc gọi tiếp theo từ bệnh viện báo tin bà đã qua đời trong cô độc trên giường bệnh.

Nước mắt My ứa ra, nóng hổi lăn dài trên má, rơi xuống mặt bàn gỗ.

Cô lấy tư cách gì để trách móc bố mình? Chẳng phải suốt năm năm qua, chính cô cũng đã dùng tấm khiên bận rộn, dùng những bản kế hoạch tiếp thị, những cuộc họp thâu đêm suốt sáng và những chức danh hào nhoáng ở Sài Gòn để trốn chạy bổn phận làm con, làm cháu đó sao? Cô và bố có khác gì nhau đâu? Cả hai người họ đều là những kẻ hèn nhát, nhân danh sự nghiệp và cuộc sống hiện đại nơi đô hội phồn hoa để khỏa lấp đi sự vô tâm, lạnh lùng và ích kỷ tột cùng đối với cội nguồn và những người yêu thương mình nhất.

“Dạ... bố,” My hít một hơi thật sâu, cố gắng nén tiếng nấc nghẹn ngào, giọng cô chùng xuống, trở nên dịu dàng và run rẩy.

“Con... con ở ngoài nớ vẫn ổn chứ?” Giọng ông Quang ngập ngừng, dường như ông đã chuẩn bị tinh thần để đón nhận một trận thịnh nộ hay những lời đòi hỏi gay gắt từ con gái. “Mấy hôm nay bố nghe mẹ con bảo điện thoại con không liên lạc được, bố lo quá. Chuyện căn nhà... chú Vinh có làm khó con không?”

“Dạ không, con vẫn bình an bố ạ,” My lau vội giọt nước mắt trên cằm, nhìn vào phong thư viết chữ mực tím của bà Lành. “Con vừa sang Cồn Hến về. Con... con đã tự tay nấu một tô cơm hến mang biếu bác Lộc.”

Đầu dây bên kia bỗng nhiên rơi vào một sự im lặng tuyệt đối.

Một khoảng lặng dài đến mức My chỉ còn nghe thấy tiếng thở dốc đầy chấn động và run rẩy của bố mình qua ống nghe chập chờn.

“Bác... Lộc?” Giọng ông Quang lạc hẳn đi, run rẩy như không tin vào tai mình, một sự run rẩy chưa từng có ở người đàn ông thành đạt, quyết đoán. “Thằng... thằng Lộc cào hến bến sông đó hả con? Nó... nó có khỏe không? Nó có... nói chi về bố không?”

“Bác Lộc vẫn khỏe, bố ạ,” My khẽ đáp, giọng nghẹn lại vì xúc động dâng trào. “Bác ấy đã ăn hết tô cơm hến con nấu. Bác bảo... vị cay nồng đậm đà giống hệt như cơm hến ngày xưa mệ Lành từng làm cho hai người ăn. Bác ấy nhớ bố lắm. Bác ấy bảo suốt ba mươi năm qua, bác chưa bao giờ quên bố cả.”

Một tiếng thở dài nghẹn ngào, trĩu nặng bao nhiêu năm dằn vặt, ân hận và sĩ diện hão huyền bất ngờ bật ra từ lồng ngực người đàn ông trung niên ở đầu dây bên kia. My nghe thấy tiếng sột soạt như tiếng bố đang lấy khăn lau vội khóe mắt, và giọng ông nghẹn đặc lại, như vỡ vụn ra từng mảnh trong không gian xa xôi của Sài Gòn:

“Bố... bố biết rồi. Cảm ơn con, My à...”

My chưa kịp cất lời dặn dò thêm hay nhắc đến sự tồn tại của bức thư ố vàng thì chiếc điện thoại thông minh trên tay cô chớp nháy liên hồi rồi tắt phụt, màn hình tối đen hoàn toàn vì kiệt pin, cắt đứt cuộc đàm thoại giữa hai cha con.

Cô ngồi lặng bên chiếc bàn gỗ, nhìn phong thư ố vàng của bà Lành nằm bình yên dưới ánh sáng mờ ảo của buổi sớm mùa đông. Món ăn thứ ba trong cuốn sổ di nguyện đã hoàn thành, nhưng hành trình hóa giải những nút thắt trong lòng cô và gia đình dường như chỉ mới vừa bắt đầu bước qua cánh cửa đầu tiên.

My thở dài, với tay mở chiếc nắp máy tính xách tay đặt ở góc bàn, định bụng cắm sạc dự phòng để rà soát lại các khoản chi phí sửa nhà rường mà bác Tấn thợ mộc đã ước tính hôm trước.

Thế nhưng, ngay khi cô vừa kết nối mạng internet chập chờn từ chiếc cục phát wifi di động, chiếc máy tính bỗng phát ra những tiếng bíp dồn dập, đinh tai nhức óc.

Màn hình laptop bật sáng với hàng chục tin nhắn đỏ rực mang tiêu đề Khẩn cấp từ văn phòng Sài Gòn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories