Căn Bếp Nhỏ Của BàCh.35 / 35
Chapter 35

Ngày mở Bếp Của Bà

Nắng sớm xuyên qua tán cây khế sau vườn, rải những đốm vàng lấp lánh lên khoảng sân gạch vừa được quét sạch bóng lá rụng.

Gió đầu ngày từ phía dòng sông An Cựu thổi vào mát rượi, mang theo hơi sương ẩm còn đọng trên những ngọn cỏ non và thoang thoảng mùi hoa cau rụng trắng mé hiên. Cây khế ngọt bản địa mà bà Sáu Bình chiết cành gửi tặng hôm nào nay đã bén rễ vững vàng nơi góc sân cạnh giàn thiên lý, bung ra những chồi non xanh nõn nà như một lời hẹn ước về sự sống đang nảy nở. Dưới mái ngói âm dương Phước Tích vừa được nghệ nhân Nguyễn Khắc Tuấn phục dựng phẳng phiu, từng lớp ngói rêu phong nằm gối lên nhau đều đặn, che chở cho căn nhà qua bao mùa dâu bể. Tấm biển gỗ mít nhỏ khắc ba chữ “Bếp Của Bà” cẩn xà cừ tinh xảo ánh lên sắc ngũ sắc trầm mặc mỗi khi vạt nắng sớm khẽ chạm vào. Dải lụa màu xanh thiên thanh cắt từ tà áo dài dở dang của bà nội được bác thợ may Phúc viền khéo léo quanh khung gỗ, khẽ bay nhè nhẹ trong làn gió sớm như một cái vẫy tay đầy bao dung của người xưa, nhắc nhở những kẻ ở lại về cội nguồn và lòng trắc ẩn.

Hôm nay là ngày đầu tiên Bếp Của Bà chính thức mở then cài, đón những vị khách đã liên hệ đặt bàn từ trước.

Trong gian bếp chái bằng gỗ kiền kiền thơm mùi vôi mới, không khí rộn rã râm ran từ tờ mờ sáng. Tiếng lách cách của âu sành, tiếng nước reo sôi réo rắt trên kiềng sắt và tiếng dao bài Hiền Lương gõ nhịp đều đặn trên thớt gỗ nghiến hòa thành một khúc nhạc nhịp nhàng của ngày mới. Nguyễn Thảo Vy quấn gọn mái tóc sau gáy bằng chiếc khăn rằn, hai tay thoăn thoắt đảo từng mẻ bột trên bếp than đước. Đôi bàn tay khéo léo của cô thợ trẻ lướt đi thoăn thoắt giữa làn khói mỏng: múc một muỗng bột gạo Khang Dân đã quấy chín tái sánh mịn trải đều lên mặt lá chuối tiêu xanh mướt đã hơ mềm qua lửa, phết vào giữa một vệt nhân tôm đất xào thịt ba chỉ đỏ au đượm dầu phụng nguyên chất, rồi gập đôi mép lá, vuốt phẳng hai đầu thành những chiếc bánh nậm vuông vức, mỏng tang và tăm tắp. Từng nếp gấp lá thẳng tắp, không thừa một phân, không thiếu một ly, gói trọn sự tỉ mỉ của người thợ dồn hết tâm can vào từng chiếc bánh.

Ở chiếc bếp lò bên cạnh, những khay chén men lam nhỏ xíu đựng bánh bèo đang bốc khói nghi ngút trong xửng hấp bằng đồng. Từng chiếc bánh bèo mềm mướt, xoáy một lòng sâu hun hút ở chính giữa như chiếc đồng tiền duyên, được rắc lên lớp tôm chấy màu gạch tôm mịn như nhung và tóp mỡ giòn rụm rán từ mỡ gáy lợn béo ngậy. Nồi nước xốt mắm ớt pha loãng với nước luộc tôm đặt bên cạnh đang tỏa ra mùi thơm dìu dịu, không nồng gắt mà ngọt hậu, đúng chuẩn vị nước chấm bánh bèo xứ Huế xưa.

“Chị My coi mẻ bột bánh bèo ni được chưa chị? Em canh nước lu sành với lửa than đúng như mệ Lành dặn trong sổ, bột trong veo mà dẻo quánh, không bị sượng một hột mô hết!” Vy ngẩng lên, quệt vệt mồ hôi lấm tấm trên trán bằng mu bàn tay, đôi mắt ánh lên niềm tự hào rạng rỡ của người thợ trẻ tìm lại được lòng kiêu hãnh với nghề sau những tháng ngày lưu lạc.

My cúi xuống nhìn mặt bánh bèo vừa dỡ ra khỏi xửng, mỉm cười gật đầu khích lệ:

“Mềm mướt và khéo lắm Vy ơi. Bánh có xoáy sâu tắp như ri là bột nở đều và lửa đủ độ chín tới rồi đó. Giữ đúng độ lửa ni nghe em, khách đầu tiên hẹn đúng mười một giờ trưa là tới đó.”

Trên chiếc bàn sơ chế bằng gỗ mít cổ thụ đặt giữa gian bếp, những rổ rau sống vừa được vợ chồng bác Sáu Bình chuyển sang từ bãi bồi Hương Long lúc sáu giờ sáng vẫn còn đọng những giọt sương mai lóng lánh như hạt ngọc. Mùi đất bãi bồi sông Hương màu mỡ dường như vẫn còn phảng phất trên từng cuống lá. Rau thơm tươi roi rói, cuống rau húng quế giòn sần sật, từng lá ngò tàu, tía tô, hoa chuối sứ thái mỏng như sợi chỉ và những lát vả xanh ngâm nước muối loãng trắng tinh tươm, giòn rụm không hề vương một chút vị chát đắng.

Bên cạnh bàn trà tiếp khách đặt ngoài hiên rường, chiếc ấm đất nung đang tỏa ra làn khói nghi ngút mang theo hương thơm nồng ấm, ngọt dịu của những lát mứt gừng sẻ Kim Long do chính tay dì Tôn Nữ Bích Mến chọn lựa từ chợ Đông Ba sớm tinh mơ. Từng củ gừng sẻ nhỏ nhắn nhưng cay nồng, thái lát mỏng tang, sao vàng đượm mật mía, khi ngâm vào nước sôi bốc lên một luồng nhiệt xua tan đi cái ẩm lạnh bảng lảng của buổi sớm cố đô, sưởi ấm lòng người bước chân qua ngưỡng cửa.

Ngoài hiên nhà rường, tiếng đàn guitar mộc mạc của Thiện vang lên êm ả. Anh ngồi xếp bằng trên chiếc phản gỗ nhỏ kê sát bụi trúc ngà, những ngón tay gảy từng nốt nhạc thanh thoát, đưa đẩy khúc dân ca xứ Huế nhẹ như mây bay. Tiếng đàn không ồn ào mà trầm tĩnh, hòa quyện tự nhiên với tiếng chào hỏi rổn rảng ngoài con kiệt An Cựu.

Bà Năm Sương xách chiếc làn mây đi chợ ngang qua, dừng chân ghé mắt nhìn vào qua bờ chè tàu xanh mướt, cười tươi rói:

“Bếp đỏ lửa rồi đó hả My? Khéo tay nghe con gái! Tí nữa bán xong mớ rau ngoài chợ Đông Ba, mệ ghé phụ bưng dọn với rửa chén cho nghen!”

Bác thợ may Phúc bên kia đường cũng chống gậy đứng tựa gốc cây sứ nhìn sang, gật đầu mỉm cười mãn nguyện khi thấy tấm biển gỗ đính dải lụa xanh đã an vị ngay ngắn trên vách cửa. Một nhịp sống mới, đầm ấm và chan chứa nghĩa tình xóm giềng, đang bắt đầu lăn bánh từ chính gian nhà cổ này.

***

Đúng mười một giờ trưa, nhóm khách đầu tiên gồm bốn người—một gia đình trẻ từ Hà Nội vào Huế du lịch đã liên hệ đặt chỗ từ tuần trước—bước qua cánh cổng gỗ rào chè tàu. Họ ngỡ ngàng trước không gian thanh tịnh của ngôi nhà rường ba gian hai chái, ngắm nhìn những hàng cột gỗ kiền kiền bóng nước thời gian, hít hà mùi khói củi thông thoang thoảng quyện với hương hoa cau và nhận lấy những chén trà gừng ấm nóng từ tay My với ánh mắt đầy thích thú.

Mâm cơm gia đình đầu tiên với bánh bèo chén men lam, đĩa thịt ba chỉ luộc kẹp tôm chua bãi bồi ăn kèm vả xanh giòn rụm, và đĩa bánh nậm nóng hổi vừa được dọn lên bàn gỗ giữa gian nhà rường trong tiếng trầm trồ của thực khách. Cậu con trai nhỏ chừng bảy tuổi háo hức cầm thìa tre xắn miếng bánh bèo, chấm nhẹ vào chén nước mắm ớt đỏ rực rồi đưa vào miệng, đôi mắt tròn xoe vì thích thú trước vị béo ngậy của tóp mỡ và vị ngọt đậm đà của tôm chấy giã tay.

Thế nhưng, thời tiết xứ Huế vốn đỏng đảnh như tính khí người thiếu nữ.

Khoảng mười một giờ hai mươi lăm phút, khi nhóm khách thứ hai gồm sáu người vừa bước vào sân và ổn định chỗ ngồi nơi gian chái phải, bầu trời bỗng sầm tối lại. Những đám mây đen đặc quánh từ phía núi Kim Phụng ùn ùn kéo về, cuồn cuộn nuốt chửng dải nắng vàng rực rỡ ban trưa. Và chỉ trong chớp mắt, một cơn mưa rào bất chợt trút xuống xối xả. Mưa quất ràn rạt lên những tàu lá chuối ngoài vườn, nước xối xả đổ xuống máng đồng mới lắp chảy róc rách thành dòng. Gió lạnh thốc mạnh qua kẽ liếp chái bếp, cuốn theo hơi ẩm dày đặc làm tụt nhiệt độ gian nấu nướng một cách đột ngột.

Ngọn lửa bếp củi đang cháy đượm bỗng lụi dần, than đước bị gió ẩm ức chế chỉ còn bốc lên từng làn khói xám bảng lảng. Chiếc xửng hấp bánh nậm lớn đang sôi sùng sục bỗng hạ nhiệt, nắp vung nhôm nguội ngắt, hơi nước ngưng tụ chảy ròng ròng xuống thành nồi.

Thảo Vy luống cuống cầm ống nứa thổi lửa, mặt mày tái mét vì hoảng hốt:

“Chị My ơi, lửa bị yếu rồi! Gió mưa tạt làm than ẩm hết trơn, mẻ bánh nậm ni của bàn số hai hấp chưa đủ nhiệt, bột chưa kịp trong mà mép lá đã lạnh ngắt rồi. Kiểu ni phải mất thêm ít nhất mười lăm phút nữa mới nhóm lại than khô được chị nà! Khách bàn hai họ đang đói, em sợ họ giận bỏ về mất thôi!”

My bước nhanh vào bếp, nhìn chiếc đồng hồ treo tường rồi quan sát mặt than đang ngún khói đặc. Trái tim cô khẽ thắt lại theo phản xạ của một người từng quản lý những dự án bạc tỷ với áp lực thời gian từng giây từng phút nơi thương trường khốc liệt.

Nếu là My của ba tháng trước ở văn phòng Sao Nam tại Sài Gòn, cô chắc chắn sẽ cáu gắt, hối thúc cấp dưới bằng mọi giá phải đùn thêm củi tạp hoặc tìm cách chữa cháy tạm bợ, thậm chí tăng nhiệt cưỡng bức bằng bếp gas công nghiệp để kịp tiến độ giao món. Nhưng những ngày tháng ngồi bên bếp lửa cùng Thiện, học bài học về sự kiên nhẫn từ niêu cá bống thệ kho ba lửa và chén chè sen Tịnh Tâm đã dạy cô một bản lĩnh khác: thức ăn nuôi dưỡng con người không thể có sự giả dối, vội vàng hay thỏa hiệp. Bánh nậm thiếu nhiệt sẽ bị sượng bột, dầu mỡ không ngấu vào nhân tôm thịt, và đó sẽ là sự phản bội lại lòng tin của thực khách cũng như danh dự của căn bếp mà mệ Lành đã để lại.

“Vy, bình tĩnh em. Đừng đùn củi tạp bốc khói hôi bánh,” My điềm đạm đặt tay lên vai Vy, giọng nói vững chãi như một chiếc neo giữ thuyền giữa cơn giông bão. “Lấy củi nhãn khô trong góc tủ chè ra ủ lại than. Củi nhãn đượm than, không nổ, giữ nhiệt bền. Cứ để bánh chín thấu từ từ đúng mười lăm phút nữa. Việc ngoài nhà để chị lo.”

Đúng lúc đó, ngoài hiên có tiếng bước chân dồn dập kèm theo tiếng rũ áo mưa lộp độp. Một nhóm năm người khách vãng lai mặc áo mưa ướt sũng bước vào sân, ngấp nghé nhìn qua khung cửa gỗ:

“Chủ quán ơi! Ngoài trời mưa to quá, quán còn bàn không cho chúng tôi vào gọi mấy món nóng ăn trưa với? Đi ngang thấy biển hiệu đẹp quá, món chi cũng được hết, có cơm nóng hay đĩa bánh nóng là quý lắm rồi!”

My hít một hơi thật sâu, sửa lại vạt áo dài giản dị rồi bước ra thềm hiên. Nhìn những vị khách vãng lai đang lúng túng tránh mưa, người run rẩy vì lạnh, cô rất hiểu sự thất vọng nếu bị từ chối giữa thời tiết nghiệt ngã này. Nhưng nguyên tắc của Bếp Của Bà đã được định hình bằng máu, mồ hôi và những bài học xương máu suốt những tháng ngày qua: chỉ phục vụ tối đa ba mươi suất mỗi ngày và nhận đặt trước hai mươi tư giờ để bảo đảm từng ngọn rau, miếng thịt đều tươi ngon nhất và người nấu không bị cuốn vào vòng xoáy công nghiệp hóa xô bồ.

My mỉm cười, cúi đầu chào nhẹ nhàng rồi chân thành cất lời:

“Dạ, cháu chào các cô chú và anh chị. Bếp Của Bà xin lỗi mọi người nhiều lắm ạ. Hôm nay là ngày đầu mở bếp, chúng cháu chỉ chuẩn bị nguyên liệu tươi đủ cho số lượng khách đã đặt trước để giữ đúng phẩm chất món ăn gia đình. Gian bếp nhỏ không thể nhận thêm khách vãng lai vì sợ phục vụ không chu đáo, mong cô chú và anh chị thông cảm cho cháu.”

Thấy vài người có vẻ tiếc nuối và ngần ngại nhìn màn mưa trắng xóa ngoài ngõ, My nhanh nhẹn quay vào với lấy chiếc ấm tích bọc bao ủ ấm, rót ra năm chén trà gừng thơm ngát đưa tận tay từng người:

“Mưa gió lạnh quá, mọi người cứ đứng tạm dưới hiên nhà trú mưa cho ráo quần áo đã ạ. Cháu xin mời mọi người uống chén trà gừng mứt Kim Long cho ấm bụng. Nếu có dịp khác ghé lại Huế, xin mời mọi người nhắn trước cho bếp một hôm, chúng cháu nhất định sẽ đón tiếp thật chu đáo.”

Hơi ấm từ chén gốm mộc lan tỏa vào lòng bàn tay lạnh buốt của người khách đi đầu. Sự nhã nhặn, dứt khoát nhưng tràn đầy tình người của My khiến những người khách vãng lai không hề phật ý. Họ vui vẻ đón lấy chén trà nóng, nhấp từng ngụm trà cay ngọt, tấm tắc khen hương trà thơm và gật đầu hứa hẹn sẽ quay lại vào một ngày khác khi có dịp thăm lại cố đô.

Giải quyết xong ngoài sân, My quay vào gian nhà rường, đi thẳng đến bàn số hai—nơi một cặp vợ chồng trung niên người Huế cùng hai người bạn lớn tuổi đang ngồi đợi. Cô nhẹ nhàng châm thêm nước sôi vào ấm trà mộc của họ, rồi cúi đầu bày tỏ với tất cả sự kính trọng:

“Dạ thưa cô chú, cháu thành thật xin lỗi bàn mình ạ. Cơn mưa rào bất chợt làm gió lùa vào chái bếp khiến ngọn lửa củi than bị hạ nhiệt đột ngột. Để mẻ bánh nậm đạt độ chín mướt, thơm béo đúng vị mà không bị sượng bột, cháu xin phép cô chú cho gian bếp được kéo dài thời gian hấp thêm mười lăm phút nữa. Trong lúc đợi bánh nóng, cháu xin phép được gửi biếu cô chú đĩa vả trộn tôm thịt bãi bồi Hương Long để nhâm nhi trước ạ.”

Vị khách nam lớn tuổi nhìn My một thoáng rồi bật cười hiền hậu, chòm râu bạc khẽ rung rinh:

“Gớm, nghe cháu giải thích là chú biết dân làm bếp có tâm rồi. Ăn miếng bánh nậm Huế là phải ăn lúc nóng giãy, bột trong vắt tươm dầu phụng mới ngon. Mười lăm phút chứ nửa tiếng tụi chú cũng đợi được! Gian nhà rường ấm cúng, ngồi nghe mưa rơi trên mái ngói ngắm cảnh kiệt thế này thì vội chi cháu ơi! Ăn uống ở Huế mà gấp gáp là mất hết cái thú thanh tao.”

Người phụ nữ đi cùng cũng gật gù phụ họa, nét mặt dịu dàng đậm chất xứ kinh kỳ:

“Phải đó con. Món Huế là món của sự đợi chờ mà. Bột gạo quấy kỹ, hấp chín tới nơi tới chốn mới thấm thía cái bùi, cái ngọt. Cứ thong thả nấu cho chín tới nghen con gái, không phải lo tụi cô phiền lòng mô.”

Lời động viên ấm áp của thực khách như một liều thuốc xoa dịu mọi âu lo trong lòng My.

Trong chái bếp, ngọn than củi nhãn dưới sự chăm chút khéo léo của Vy đã đỏ rực trở lại, tỏa ra thứ nhiệt lượng đầm ấm và bền bỉ. Nồi hấp lại phì phò nhả khói trắng xóa, mang theo hương thơm ngậy của bột gạo chín quyện với mùi lá chuối tiêu nồng nàn. Đúng mười lăm phút sau, những đĩa bánh nậm bốc khói nghi ngút được My và Vy cẩn trọng bưng lên bàn.

Khi thực khách dùng chiếc thìa tre khẽ lột lớp lá chuối xanh mướt, để lộ ra thân bánh mỏng tang, mềm mại, óng ánh sắc đỏ gạch của tôm đầm Cầu Hai và rưới lên vài giọt nước mắm ớt Thuận An nguyên chất, những tiếng xuýt xoa hài lòng vang lên khắp gian phòng. Miếng bánh tan ngay trên đầu lưỡi, béo mà không ngấy, ngọt thanh vị tôm thịt và nồng ấm vị tiêu sọ.

Giữ vững phẩm chất món ăn và tôn trọng nhịp điệu tự nhiên—bài học ấy My đã không còn chỉ học trên trang giấy hay qua lời dặn của người đi trước, mà đã thực hành nó một cách trọn vẹn giữa thử thách đời thường.

***

Trong lúc chờ đợi những món ăn tiếp theo được dọn lên, nhiều thực khách tò mò bước chậm rãi về phía góc đọc nhỏ trang nhã được bố trí khéo léo nơi gian nhà rường bên trái.

Nơi đây từng là góc để chiếc rương gỗ cũ của bà nội, nay được My và cô thủ thư Hồ Minh Châu bài trí thành một không gian lưu niệm mộc mạc và ấm cúng. Chiếc kệ sách bằng tre uốn cong tự nhiên tựa vào vách gỗ kiền kiền, phía trên đặt chiếc đèn dầu kiểu cổ tỏa ánh sáng vàng dịu êm. Trên chiếc bàn trà nhỏ phủ tấm khăn lụa màu xanh thiên thanh—được bác thợ may Phúc cắt may tinh tế từ chính phần vải còn lại của chiếc áo dài bà Lành—bản sao cuốn sổ di nguyện mười hai món ăn được đặt trang trọng trên một giá đỡ gỗ hình chữ V.

Bên cạnh cuốn sổ là tập tư liệu đóng gáy chỉ thô mộc mạc mang tựa đề “Chuyện Những Bữa Cơm”, ghi lại ngắn gọn câu chuyện của mười hai con người gắn liền với mười hai món ăn xứ Huế. Dưới sự cố vấn nghiêm ngặt của thủ thư Minh Châu, từng dòng chữ trưng bày ở đây đều tuân thủ đúng “Bản cam kết đạo đức lưu trữ ký ức”: không có những chi tiết giật gân, không thương mại hóa nỗi đau hay sự cơ hàn của bất kỳ ai, và tất cả đều đã nhận được sự đồng thuận bằng văn bản của chính những người trong cuộc. Đó là sự tôn trọng tối thượng dành cho phẩm giá con người.

Một vị khách nữ trẻ tuổi đeo kính cận cúi xuống, lật giở từng trang giấy Bãi Bằng ngả màu được phục chế nguyên trạng nét chữ mực tím run rẩy của bà Lành. Đôi mắt cô gái dừng lại thật lâu ở trang viết về món bún bò Huế dành cho bà Năm Sương, nơi có dòng ghi chú mộc mạc:

*“Nâng đỡ một người là giữ cho họ chiếc ghế ngồi thẳng lưng, đừng bao giờ để họ thấy mình phải cúi đầu nhận ơn huệ.”*

Cô gái khẽ chạm ngón tay vào dòng chữ, quay sang nói nhỏ với người bạn đi cùng, giọng rưng rưng xúc động:

“Cậu đọc đi này… Thật kỳ diệu. Đây không chỉ là một cuốn sổ tay nấu ăn thông thường, mà là cả một đời người sống vì người khác. Bà cụ nấu từng món ăn không phải để phô diễn tài nghệ cao siêu, mà để chữa lành những vết thương và gìn giữ thể diện cho xóm giềng. Đọc câu chuyện bà âm thầm gom đơn mứt gừng cho dì Mến sau mùa lũ dữ, hay chuyện niêu cá bống thệ kho ba lửa cứu vớt một mạng người cô đơn ven sông Hương… mình thấy sống mũi cay cay quá.”

Người bạn bên cạnh cũng lặng đi, ánh mắt chăm chú nhìn vào bức ảnh tư liệu nhỏ chụp chiếc phong thư niêm phong sáp hình hoa sen mà ông Lộc gìn giữ suốt bảy năm ròng rã:

“Chính sự chân thành này mới làm cho món ăn ở đây có linh hồn, cậu ạ. Giữa thời buổi người ta biến ẩm thực thành những thước phim hào nhoáng câu view trên mạng xã hội, một góc đọc tĩnh lặng như thế này khiến người ta muốn dừng lại, soi lại chính mình và muốn trở về nhà ăn một bữa cơm tử tế với mẹ cha.”

Những lời thì thầm xúc động của thực khách như những giọt sương lành thấm sâu vào từng thớ gỗ của căn nhà rường cổ. Di sản của bà Lành không bị đóng khung trong viện bảo tàng lạnh lẽo hay chết cứng trong những trang sách kỷ niệm bụi bặm, mà đang sống động lay động từng tâm hồn ghé chân qua nơi này, khơi dậy những mầm thiện lương sâu kín nhất.

***

Đến đầu giờ chiều, khi đợt khách đặt trước đã dùng xong bữa và thong thả tản bộ ngắm vườn khế ngoài sân, gian giữa nhà rường trở lại với vẻ tĩnh lặng, ấm cúng thường nhật. Tiếng mưa đã dứt từ lâu, chỉ còn lại những giọt nước đọng trên mái ngói thỉnh thoảng rỏ xuống chum sành từng tiếng tong tong thanh thoát.

Trên chiếc phản gỗ lim bóng loáng kê trước bàn thờ gia tiên, một mâm cơm gia đình giản dị vừa được My bưng lên. Mâm đồng bày biện tươm tất những món ăn thân thương nhất của người Huế: một âu cơm gạo đỏ nóng hổi nghi ngút khói, đĩa thịt ba chỉ luộc kẹp tôm chua bãi bồi rực rỡ sắc đỏ tươi, bát canh mít non nấu tôm rảo thơm lừng lá lốt thái chỉ li ti, và đặc biệt là chiếc niêu đất Phước Tích đựng món cá bống thệ kho tiêu ba lửa keo bóng nước xốt màu cánh gián. Mùi thơm của tiêu sọ, nước mắm ngon và mỡ lợn hòa quyện vào nhau bốc lên ngào ngạt, đánh thức mọi giác quan.

Bố Quang và chú Vinh ngồi đối diện nhau bên mép phản. Mẹ Hà ngồi cạnh My, tay nhẹ nhàng xới từng bát cơm đầy đặn đưa cho hai anh em.

Không khí có một thoáng ngập ngừng, cái ngập ngừng quen thuộc của những người đàn ông trong gia đình truyền thống mang trong mình quá nhiều vết thương, sự mặc cảm và tự ái kéo dài suốt mấy mươi năm trời. Bố Quang nhìn niêu cá bống thệ, mái tóc hoa râm khẽ rung rinh theo từng nhịp thở nặng nề. Ông nhớ lại những năm tháng tuổi trẻ bốc đồng, nhớ sự thất bại ê chề của xưởng gỗ xẻ ở Bình Dương đã khiến ông trốn chạy khỏi quê hương trong tủi hổ, để lại toàn bộ gánh nặng phụng dưỡng người mẹ già tai biến cho đôi vai gầy guộc của người em trai.

Phá tan sự im lặng ngột ngạt ấy, chú Vinh vươn tay cầm đôi đũa tre. Những ngón tay chai sần, thô ráp đầy vết sẹo của người cựu binh khẽ run lên bần bật. Chú cẩn thận gắp miếng cá bống thệ săn chắc nhất, đượm tiêu sọ thơm nồng, nhẹ nhàng đặt vào bát cơm của anh trai mình:

“Anh Hai… ăn miếng cá bống thệ ni đi. Con My nó kho ba lửa trên than đước, đúng cái vị ngày xưa mệ hay kho cho anh em mình ăn mỗi bận nước lũ rút đó. Cá bống thệ mùa ni béo lắm, anh ăn thử coi có đúng vị mệ nấu ngày xưa không.”

Hành động nhỏ nhoi nhưng chứa chan tình máu mủ ruột rà ấy khiến lồng ngực ông Quang nghẹn ứ lại. Bát cơm trên tay ông run rẩy, một giọt nước mắt kìm nén bấy lâu bỗng trào ra nơi khóe mắt chằng chịt nếp nhăn, rơi tọt xuống thành bát gốm.

Ông Quang đặt bát cơm xuống phản gỗ, ngước nhìn thẳng vào gương mặt khắc khổ, sạm đen vì mưa nắng của chú Vinh. Lần đầu tiên sau hơn ba mươi năm xa xứ và trốn chạy, người anh cả cất lời, giọng trầm đặc và run rẩy vì xúc động:

“Chú Vinh… Anh Hai có lỗi với chú nhiều lắm. Bao nhiêu năm qua, anh mang mặc cảm thất bại, sợ người đời chê cười nên cứ cắm đầu ở trong Nam trốn tránh, đùn đẩy hết mọi nhọc nhằn, cay đắng cho một mình chú gánh vác. Mẹ ốm đau liệt giường suốt năm năm trời, chú thức trắng bao đêm ở bệnh viện, gánh từng khoản nợ viện phí trăm triệu mà anh không đỡ đần được bao nhiêu… Chú đã thay anh làm trọn chữ hiếu với mẹ suốt bao năm tháng nhọc nhằn. Anh Hai cảm ơn chú… Cảm ơn chú đã giữ lại căn nhà này cho gia đình mình.”

Chú Vinh sững sờ. Đôi mắt đỏ hoe của người cựu binh từng trải qua bao giông bão cuộc đời bỗng nhòe đi vì ngấn lệ. Món nợ bốn trăm triệu đồng viện phí từng đè nặng trĩu vai chú suốt bao năm, những lời dèm pha độc địa của họ hàng làng xóm, nỗi cô độc uất ức suốt những đêm mưa bão một mình chăm mẹ già lở loét… tất cả những cay đắng tủi hờn tích tụ bấy lâu dường như tan biến hoàn toàn trước lời cảm ơn và sự thừa nhận chân thành từ người anh ruột thịt.

Chú Vinh cúi đầu quẹt nhanh giọt nước mắt lăn dài trên gò má xạm nắng, giọng khàn khàn:

“Anh em ruột rà một mẹ sinh ra, anh nói rứa làm chi cho tội em… Mẹ mất rồi, giờ anh em mình còn có nhau, còn có mấy đứa cháu ngoan ngoãn như con My, con Oanh. Nhà mình giữ được mái ấm ni, giữ được bàn thờ cho mệ, mệ dưới suối vàng chắc cũng mỉm cười thanh thản rồi anh Hai à. Thôi, anh em mình ăn cơm đi, kẻo nguội mất niêu cá ngon của cháu nó.”

Mẹ Hà lặng lẽ chấm khăn tay lau nước mắt, mỉm cười nhìn hai anh em. My ngồi bên cạnh, cảm thấy một luồng hơi ấm ngập tràn len lỏi khắp huyết quản. Bữa cơm gia đình hôm nay không chỉ có vị ngọt của tôm đất, vị bùi của mít non hay vị đậm đà của niêu cá kho, mà đó là hương vị của sự tha thứ, của sự thấu hiểu và gắn kết máu mủ đã được hàn gắn trọn vẹn sau bao dâu bể thăng trầm của đời người.

***

Chiều buông xuống con kiệt An Cựu êm đềm và tĩnh lặng. Cơn mưa rào ban trưa đã tạnh hẳn, để lại bầu không khí trong vắt như pha lê. Ánh hoàng hôn nhuộm đỏ những vòm lá khế sau vườn và dát một lớp vàng cam lộng lẫy lên mái ngói âm dương của căn nhà rường cổ.

Khách khứa đã về hết, trả lại cho gian bếp nhỏ sự yên ả thân thuộc. Mùi lá chuối hấp, mùi khói củi thông và hương thơm thanh khiết của hạt sen vẫn còn quẩn quanh, đượm nồng trong từng thớ gỗ kiền kiền.

My đứng một mình giữa gian bếp chái.

Trên chiếc bàn gỗ mít cổ, chiếc hộp kính kỷ niệm viền đồng tinh xảo đã được lau sạch bóng loáng không một hạt bụi. My cẩn thận mở bọc vải nhung màu xanh thiên thanh ướp tinh dầu tuyết tùng, nâng niu cuốn sổ di nguyện mười hai món ăn của bà nội trên hai bàn tay. Từng trang giấy Bãi Bằng ngả vàng, từng vết ố mờ của giọt dầu phụng năm xưa, từng nét chữ mực tím xiêu vẹo của bà Lành đã in sâu vào tâm khảm cô suốt ba tháng ròng rã. Cuốn sổ ấy đã kéo cô ra khỏi guồng quay điên cuồng của những bản kế hoạch tiếp thị vô hồn, đưa cô vượt qua nỗi sợ hãi, sự vụng về và mặc cảm tội lỗi để tìm lại chính bản thân mình.

Mười hai món ăn đã hoàn tất. Mười hai ân tình đã được trao đi trọn vẹn. Di nguyện của bà đã trở thành một hành trình tái sinh kỳ diệu.

My nhẹ nhàng đặt cuốn sổ gốc của bà Lành nằm ngay ngắn vào trong hộp kính, khẽ khép nắp hộp lại như khép lại một chương quá khứ đầy thiêng liêng và tri ân.

Rồi, với một nụ cười thanh thản nở trên môi, My mở chiếc túi vải gai của mình, rút ra một cuốn sổ tay bìa da màu nâu mới tinh. Trang giấy trắng tinh tươm đầu tiên mở ra dưới ánh đèn vàng ấm áp. Cầm cây bút mực trên tay, My nắn nót viết những dòng chữ đầu tiên cho cuốn sổ vận hành mới của Bếp Của Bà:

*“Ngày khai bếp đầu tiên — Mùa đông năm nay:* *- Bánh nậm bột gạo Khang Dân, tôm đầm Cầu Hai.* *- Bánh bèo chén nước lu sành, tôm chấy giã tay.* *- Thịt ba chỉ luộc kẹp tôm chua bãi bồi Hương Long.* *- Canh mít non nấu tôm rảo lá lốt.* *- Tráng miệng: Chè hạt sen hồ Tịnh Tâm đường phèn Quảng Ngãi.* *Nguyên tắc bất biến: Giữ lòng thanh tịnh, nấu bằng sự vừa vặn và lòng trắc ẩn.”*

Viết xong, cô đặt bút xuống, bước lại gần chiếc nồi đồng nhỏ đang ủ trên lớp tro than mịn cạnh bếp củi. Mở nắp vung, một làn khói thơm dịu nhẹ thoảng hương sen hồ Tịnh Tâm bay lên ngào ngạt. Nước chè trong veo màu hổ phách, những hạt sen tròn lẳn, ngậm no đường phèn nhưng không hề nứt vỡ, lững lờ trôi trong làn nước ngọt thanh.

My cầm chiếc muỗng sứ hoa lam cổ của bà Lành, múc một muỗng chè hạt sen đưa lên miệng nếm thử.

Vị ngọt thanh tao của đường phèn lan tỏa nơi đầu lưỡi, hạt sen bở tơi mịn màng như tan ra trong khoang miệng, để lại một hậu vị thơm ngát, an yên và dịu mát đến tận đáy lòng. Đó là hương vị của sự nhẫn nại, của ký ức tuổi thơ bên bà, và là lời chúc phúc vô hình cho con đường dài phía trước.

Ngoài hiên nhà, tiếng chuông gió bằng đồng khẽ ngân vang leng keng theo nhịp gió chiều. Tiếng đàn guitar của Thiện lại cất lên khúc ca quen thuộc, hòa cùng tiếng cười nói rộn rã của bố Quang, chú Vinh và mẹ Hà đang ngồi uống trà trước sân. Tiếng Thảo Vy tíu tít rửa lá chuối ngoài giếng khơi, tiếng bước chân xóm giềng ghé sang hỏi thăm râm ran đầu ngõ.

My đặt chiếc muỗng sứ xuống bàn, chỉnh lại vạt áo dài rồi mỉm cười bước ra hiên nhà đón những vị khách của buổi hoàng hôn.

Hơi ấm từ chiếc bếp củi bập bùng hòa vào tiếng cười nói ngoài hiên, khép lại câu chuyện về căn bếp nhỏ của bà.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories