Căn Bếp Nhỏ Của BàCh.20 / 35
Chapter 20

Bát canh mít non và quyển sổ y bạ

Trái mít non vừa hái trên cây mít mật cổ thụ sau hồi nhà còn ứa từng giọt mủ trắng ngần như sữa, nhắc My về những thao tác tỉ mỉ mà bà Lành từng cẩn thận ghi chép lại ở trang sổ thứ tám.

Cành mít sai quả của cây mít mật lâu năm trĩu nặng, sà hẳn qua giàn khế ngọt đang trổ từng chùm hoa tim tím lấm tấm rụng đầy trên nền gạch tàu, khiến trái mít non nép mình dưới bóng lá rậm rạp như một bí mật xanh mát của khu vườn. Sáng sớm, sương mù từ dòng sông An Cựu phả vào kiệt nhỏ một màn hơi nước lành lạnh, quấn quýt trên những phiến ngói âm dương rêu phong, làm ẩm cả những vách tường gạch đã ngả màu thời gian. My đứng dưới chân thang tre, hai bàn tay khẽ nâng trái mít non chỉ nhỉnh hơn bắp tay người lớn một chút. Vỏ mít còn mang màu xanh ngăn ngắt của chồi non đầu mùa, những nốt gai nhọn li ti xếp ken dày, mịn màng và mềm mại dưới đầu ngón tay chứ chưa thô ráp, cứng quắt như những trái đã già nắng. Đúng như lời bà Lành nắn nót dặn dò bằng nét mực tím thân thương: *“Mít non nấu canh tôm phải lựa trái vừa ngấn hột. Hột mít mới tượng hình, mềm như sụn, trong suốt như hạt ngọc, mủ mít còn thơm nồng mùi nhựa sống. Trái già quá thì xơ cứng, hột chát đắng; trái non quá thì bở rệp, nấu lên chẳng đọng lại chút vị bùi.”*

Giọt mủ trắng đục từ cuống mít vừa cắt ngọt lịm nhỏ tong tòng xuống nền đất ẩm, chạm vào đám cỏ chỉ xanh rì rồi đọng lại thành những quầng tròn dẻo quánh. Thứ nhựa cây này vốn nổi tiếng là dai dẳng và kết dính bậc nhất chốn vườn tược, nếu sơ ý để dính vào da thịt hay vạt áo quần thì dẫu có dùng xà phòng kỳ cọ rát da cả buổi cũng chẳng thể nào tẩy sạch được. My nhớ như in dòng mực tím cẩn trọng của bà dưới chân trang giấy: tuyệt đối không bao giờ được dùng giẻ khô hay bàn tay trần miết vào mủ mít khi vừa mới trẩy xuống, bởi hơi ấm của da thịt và ma sát khô ráp chỉ khiến chất keo quánh lại, bám riết vào từng kẽ tay. Cô vặn vòi nước ở sàn nước góc sân, để dòng nước mưa mát rượi chảy xối xả qua thân quả, cuốn đi lớp phấn bụi vườn tược bám trên kẽ gai.

Dưới làn nước chảy xiết không ngừng, My thoa một lớp mỏng dầu lạc nguyên chất lên hai lòng bàn tay, xoa đều qua các kẽ ngón rồi miết nhẹ dọc theo hai mặt lưỡi con dao bài sắc ngọt của làng rèn Hiền Lương mà bà Lành gìn giữ suốt mấy chục năm qua. Lớp dầu lạc óng ả gặp dòng nước lạnh lập tức tạo thành một màng trơn láng, chặn đứng sự bám dính của dòng nhựa quánh đặc. Đứng bên sàn nước lát đá cuội trơn nhẵn, My đưa lưỡi dao gọt từng đường dứt khoát, điệu nghệ nhưng thật chậm rãi. Lưỡi thép sắc lẹm lạng đi lớp vỏ xanh sần sùi đầy gai nhọn bên ngoài một cách nhẹ bỗng. Từng dải vỏ xanh mỏng tanh cuộn tròn rơi xuống chiếc chậu nhôm, để lộ ra phần thịt mít trắng ngà, mọng ướt hơi sương, lấm tấm những chấm mủ li ti vừa trồi lên đã bị dòng nước cuốn trôi ngay lập tức, tan loãng vào rãnh thoát nước rêu phong.

Sau khi gọt sạch lớp gai xanh không để sót một đốm thâm, My bổ đôi trái mít theo chiều dọc. Một tiếng “tách” giòn tan vang lên giữa không gian tĩnh mịch của buổi sớm. Mùi thơm ngai ngái, thanh tao của núi rừng và đất bãi bốc lên thoang thoảng, quyện vào mùi ẩm ướt của đất mùn sau đêm mưa dầm. Lõi mít bên trong trắng phau như ngà, những múi non xếp lớp sít sao, bao bọc lấy hàng hột non vừa mới kết mầm, mềm mại như những lát thạch rau câu. My đưa mũi dao lạng bỏ phần cùi trắng ở giữa cuống—nơi tích tụ nhiều vị chát nhất—chỉ giữ lại phần thịt non đầy đặn cùng những cuống múi mềm mại, mỡ màng.

Cô bắc một chiếc nồi nhôm quai đồng chứa đầy nước mưa hứng từ bể cạn lên chiếc bếp than hoa đã bén lửa ngoài chái bếp, thả vào đó một nhúm muối hột thô của vùng biển Thuận An. Muối tan ra, làm dịu đi độ nồng của nước. Khi bọt nước bắt đầu lăn tăn sủi đều dưới đáy nồi, tỏa ra hơi ấm dìu dịu xua tan cái lạnh cắt da của buổi sớm mùa đông xứ Huế, My thả các miếng mít đã bổ thành từng khúc lớn vào chần sơ. Hơi nóng vừa chạm vào từng thớ thịt mít, My liền gạt bớt than hồng, hạ nhỏ lửa để giữ cho nồi nước chỉ sôi liu riu chừng năm phút. Luộc sơ qua nước muối loãng là bí quyết gia truyền mà người phụ nữ xứ Huế nào cũng nằm lòng để tống khứ toàn bộ vị chát đắng còn sót lại trong nhựa mít, đồng thời giữ cho thớ mít giữ được màu trắng sữa tinh khiết, không bị xỉn đen hay ngả màu thâm tím khi tiếp xúc với không khí bên ngoài.

Vớt những khúc mít nóng hổi ra chiếc rổ tre thưa đặt trên kệ cho ráo nước và nguội bớt, My ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc đã mòn vẹt bốn chân. Gió bấc từ bờ sông luồn qua kẽ lá chuối thổi vào hiên, lành lạnh phả sau gáy. Bây giờ mới là công đoạn đòi hỏi sự nhẫn nại và tinh tế nhất của người nấu: xé mít. Bà Lành đã gạch dưới dòng chữ này hai lần bằng mực đỏ trong cuốn sổ tay sờn gáy: *“Món canh mít của người Huế kỵ nhất là dùng dao xắt lát. Dao thái làm phẳng mặt cắt, ép chặt các mao mạch, sợi mít trơ lì không ngấm được nước dùng, khi ăn miếng mít cứ sần sật vô hồn. Phải dùng mười đầu ngón tay thuận theo chiều dọc của thớ thịt mà tước ra từng sợi tơi xốp như xơ gà. Có như rứa, khi nấu lên mít mới ngậm trọn vị ngọt của tôm, vị đậm đà sâu thẳm của ruốc.”*

My hít một hơi thật sâu, đón lấy khúc mít đã nguội bớt trên tay. Cẩn thận và tỉ mẩn, cô dùng các đầu ngón tay tách nhẹ từng thớ thịt non. Từng sợi mít trắng ngần tơi xốp, mềm mại và dẻo dai bung đều dưới tay cô, chầm chậm rơi xuống chiếc mẹt tre con đã được lót một tấm lá chuối tươi xanh mướt. Từng sợi, từng sợi một buông lơi như những sợi bông gòn trắng muốt. Những hạt mít non mềm như sụn, trong vắt như thạch ngọc, cũng được My dùng móng tay bẻ đôi thật khéo léo để riêng sang một góc mép mẹt.

Cảm giác từng sợi mít rười rượi, mềm mại lướt qua kẽ ngón tay mang lại cho cô một sự tĩnh tại kỳ lạ, như một khoảng lặng hiếm hoi neo giữ tâm hồn giữa những chênh vênh. Đã bao lâu rồi cô không ngồi yên một chỗ như thế này, chỉ để chăm chút cho một thức rau, một ngọn cỏ? Mỗi động tác thủ công chậm rãi, nhịp nhàng này dường như đang gột rửa dần những ồn ã, vội vã, những bon chen toan tính của chuỗi ngày quay cuồng trong các chiến dịch truyền thông bạc tỷ, những bảng số liệu KPI khô khốc và ánh đèn màn hình xanh xao nơi phố thị phồn hoa.

Tiếng cánh cổng sắt cũ kỹ kêu ken két khe khẽ cắt ngang dòng suy nghĩ miên man của My. Bước chân quen thuộc vang lên trên lối đi lát đá chẻ. Thiện bước vào sân, chiếc áo len màu tàn tro đã sờn ở cổ tay phơ phất trong gió bấc, trên tay xách một chiếc giỏ tre nhỏ đậy bằng mảnh vải màn ướt át. Nụ cười hiền hậu, điềm đạm quen thuộc nở trên gương mặt phong trần đượm vẻ thư sinh của người thầy giáo dạy nhạc đã gắn bó với xóm kiệt này qua bao thăng trầm.

“Sớm ni dậy sớm hè? Mít tước sợi khéo ghê, đều tăm tắp như chỉ giăng rứa,” Thiện đặt chiếc giỏ tre lên chiếc bàn gỗ cạnh sàn nước, đưa mắt nhìn mẹt mít non tơi xốp của My đầy vẻ tán thưởng chân thành.

“Anh Thiện sang sớm rứa,” My quệt vội giọt mồ hôi rịn trên trán dù trời đang buốt lạnh, nở nụ cười nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng băn khoăn. “Cháu cứ lo mình xé sợi không đúng độ dày, sợ sợi to quá thì dai, mà sợi nhỏ quá nấu lên lại nát bấy ra nồi.”

“Không nát mô. Thớ mít luộc vừa tới độ, còn đanh sợi mà đã mềm ruột, xé như ri là đúng chuẩn bài của mệ Lành rồi đó,” Thiện vừa nói vừa khẽ lật tấm vải màn ẩm trên miệng giỏ tre ra. Bên trong là nửa cân tôm rảo tươi rói, con nào con nấy vỏ mỏng tang, thân trong suốt ánh lên sắc xanh xám đặc trưng của vùng nước lợ, đuôi còn khẽ búng lách tách làm bắn tung tóe những giọt nước nhỏ. “Tôm rảo ni tôi phải sang tận bến Đập Đá từ lúc trời còn tối đất để đón thuyền của mấy mệ cất rớ từ đầm Cầu Hai lên đó. Nấu canh mít non là nhất định phải dùng tôm rảo tươi sống, vỏ mỏng thịt ngọt đanh và đậm đà phong vị đầm phá, chứ dùng tôm nuôi nước ngọt thì nước canh lạt nhách, vô vị, mất đi cái hồn cốt mộc mạc của đất kinh kỳ.”

Thiện vén cao hai tay áo sơ mi, ngồi xuống chiếc đẩu gỗ đối diện My bên hiên bếp chái. Anh không sốt sắng làm thay cô, mà với lấy chiếc cối đá hoa cương xám xịt đặt trên bệ bếp, ân cần chỉ dẫn cho cô từng thao tác căn bản: “Tôm rảo lột sạch vỏ, khẽ khàng rút bỏ sợi chỉ đen nơi sống lưng đi cho sạch ruột. Nhưng nhớ kỹ, đừng vứt đầu và vỏ tôm, bỏ hết vào chiếc nồi con ni đun sôi kỹ lấy nước ngọt làm nước dùng. Còn phần thịt tôm tươi rói, cháu trút hết vào lòng cối đá ni giùm tôi.”

My tỉ mẩn bóc từng con tôm rảo. Thịt tôm tươi sống dính chặt vào đầu ngón tay, trong suốt, săn chắc và giòn sần sật. Sau khi bóc xong, cô cho toàn bộ phần thịt tôm vào lòng chiếc cối đá. Thiện móc từ trong chiếc túi vải thô ra một vốc củ nén trắng tròn xoe, bóc nhanh lớp vỏ lụa khô bên ngoài rồi thả vào cối cùng với phần tôm rảo.

“Người Huế mình nấu tôm, nấu cá hay nấu mít non là tuyệt đối không thể thiếu củ nén,” Thiện vừa giảng giải, vừa đưa chiếc chày đá nhẵn bóng cho My. “Củ nén có vị cay the nhẹ, thơm nồng đượm nhưng không hắc nồng như tỏi miền Bắc, cũng không cay gắt như hành tím củ tròn miền Nam. Cháu giã dập vừa phải thôi, đừng giã nhuyễn nhừ như quết chả lụa. Phải giã sao cho hạt nén dập vỡ tiết trọn tinh dầu thơm, thịt tôm dập mình, dính quyện vào nhau nhưng vẫn còn giữ được từng miếng thớ thịt giòn ngọt. Thêm nửa muỗng cà phê muối hột, chút xíu tiêu sọ Tiên Phước giã dập nữa là vừa vặn.”

Tiếng chày đá gõ lách cách nhịp nhàng, tròn trịa vào lòng cối đá vang lên ấm cúng trong gian bếp chái sau, xua bớt đi vẻ quạnh quẽ của ngôi nhà rường cổ sau ngày bà Lành tạ thế. Thịt tôm đập dập quyện lấy củ nén trắng ngà, tinh dầu nén tiết ra gặp vị mặn của muối hột thô và tiêu sọ Tiên Phước cay nồng, lập tức tỏa ra một mùi thơm the the, ngọt lịm đặc trưng không thể trộn lẫn của ẩm thực xứ này.

Khi mọi thứ đã tươm tất đâu vào đấy, My bắc chiếc nồi đất nung Phước Tích màu nâu thẫm lên chiếc bếp than hoa đang ủ đỏ rực. Theo lời Thiện chỉ dẫn tỉ mỉ từng bước, cô múc một muỗng mỡ lợn gáy trắng tinh thả vào đáy nồi. Lớp mỡ vừa nóng già, My trút toàn bộ phần tôm rảo giã dập cùng củ nén vào. Tiếng mỡ xèo xèo reo vang rộn rã, làn khói thơm ngậy ngào ngạt bốc lên cuồn cuộn làm bừng sáng cả góc bếp ẩm lạnh. Củ nén chín tới chuyển dần sang màu vàng ngà óng ả, thịt tôm cong mình chuyển sang sắc hồng gạch rực rỡ, săn chắc lại.

“Khoan đã, đừng trút mít vội,” Thiện đứng sát bên cạnh, trầm giọng nhắc nhở đúng lúc khi thấy tay My toan nhấc mẹt mít lên. “Lấy một muỗng nhỏ mắm ruốc ngấu ở hũ sành số ba nơi góc chạn, hòa tan với nửa chén nước lạnh cho lắng bớt cặn cát, rồi gạn lấy phần nước ruốc trong rưới quanh mép nồi xào cùng tôm.”

My làm theo răm rắp, từng cử chỉ cẩn trọng như một người thợ đang hoàn thiện bức tranh khảm. Nước ruốc trong veo vừa chạm vào đáy nồi đất đang nóng rực lập tức dậy lên một mùi thơm nồng nàn, sâu thẳm—thứ mùi vị linh hồn của đất kinh kỳ nghèo khó mà kiêu hãnh, mặn mòi phong vị biển khơi mà không hề gắt gỏng, ngọt hậu và đầy đặn tầng hương. Khi thịt tôm đã săn lại hoàn toàn, ngấm trọn vị đậm đà của ruốc và hương nén phi ngào ngạt, My mới trút toàn bộ mẹt mít non xé sợi tơi xốp vào nồi.

Đôi đũa tre trên tay My đảo đều thoăn thoắt, nhẹ nhàng nâng từng lớp mít non cuộn lấy thịt tôm và mỡ hành thơm nức. Từng sợi mít trắng ngần ban đầu trong phút chốc nhuốm màu vàng ươm của gạch tôm, bóng bẩy dưới lớp mỡ lợn mỏng mảnh. My đảo đều tay trên ngọn lửa than vừa phải trong chừng bốn phút để từng thớ mít non háu đói uống no vị béo của mỡ, vị ngọt đậm của tôm tươi và vị mặn mà đượm đà của ruốc ngấu.

“Giờ thì châm nước dùng vỏ tôm đã lọc trong vào,” Thiện khẽ gật đầu, ánh mắt đầy khích lệ.

Dòng nước dùng ngọt lịm sôi sùng sục trút vào nồi đất, bọt trắng mịn màng sủi lên tăm tắp quanh thành nồi. My giữ cho than cháy thật đều, không quạt quá mạnh để lửa bùng lớn làm đục nước canh. Khi nồi canh mít non sôi trào lên những đợt sóng nhỏ lăn tăn, mùi thơm ngọt thanh của mít chín tới quyện vào mùi tôm rảo và mắm ruốc bốc khói nghi ngút, lan tỏa khắp gian nhà rường cổ, luồn qua từng khe liếp cửa gỗ lim. My dùng chiếc muôi con nếm thử một thìa nhỏ nước dùng: vị ngọt đậm đà nơi đầu lưỡi hoàn toàn là vị ngọt tự nhiên, thanh tao của tôm tươi và nước hầm vỏ tôm, xen lẫn chút bùi bùi, beo béo, ngai ngái dịu dàng của thớ mít non vừa độ, hậu vị thanh sạch, ấm áp vô cùng.

Trước khi nhấc nồi canh ra khỏi bếp, My lấy nắm lá lốt tươi vừa hái ngoài bờ rào dâm bụt trước ngõ, rửa sạch từng chiếc lá xanh bóng, vỗ cho ráo nước, cuộn tròn lại thành một lọn chặt rồi dùng dao bài thái chỉ thật mịn màng. Những sợi lá lốt xanh thẫm, mỏng manh như tơ tằm rơi bồng bềnh xuống mặt nồi canh đang sôi lục bục. Mùi thơm hăng nồng, ấm áp của tinh dầu lá lốt lập tức bốc lên ngùn ngụt, át đi mọi sự lạnh lẽo của buổi sáng mùa đông, hoàn thiện tầng hương vị cuối cùng cho món canh dân dã mà vô cùng tinh tế của xứ sở trầm tích này.

My cẩn thận múc từng muỗng canh đầy đặn vào chiếc âu sứ hoa lam sâu lòng có nắp đậy—chiếc âu gia bảo của bà Lành để lại từ thuở xưa. Từng sợi mít non mềm mại đan xen với những miếng tôm rảo hồng hào, điểm xuyết những sợi lá lốt xanh biếc như ngọc và vài hạt tiêu đen li ti rải đều trên mặt nước canh trong veo màu hổ phách. Hơi nóng từ âu canh bốc lên nghi ngút, truyền qua lớp men gốm sưởi ấm đôi bàn tay My đang tê cóng vì gió sớm.

Thiện lấy chiếc nắp đậy âu canh lại, khẽ phủi bụi than trên tay áo, nhìn My bằng ánh mắt đầy thấu hiểu và trầm mặc: “Âu canh nấu xong rồi đó. Rất thanh, rất đượm và rất thơm. Giờ thì bưng sang cho bà mụ Diệu đi cháu. Bà ở căn nhà ngói cũ có giàn hoa giấy tím ngay đầu kiệt đối diện. Nhớ đi chậm thôi, giữ cho thăng bằng kẻo canh sánh ra ngoài, uổng mất cái công sớm giờ của hai chú cháu.”

My ôm chiếc âu canh nóng vào lòng, hơi ấm xuyên qua lớp sứ dày sưởi ấm lồng ngực cô. Bước chân cô rời khỏi bậc thềm đá xanh của căn nhà rường rêu phong, chầm chậm bước ra con kiệt nhỏ An Cựu.

Sương mù ban sáng đã tan bớt đôi phần, nhường chỗ cho một làn mưa bụi mỏng manh giăng mắc trên những mái ngói rêu phong cổ kính. Con kiệt nhỏ buổi sớm vắng lặng, chỉ có tiếng chổi tre quét lá khô lẹt xẹt, đều đặn của một người hàng xóm phía xa vọng lại. My bước qua con hẻm hẹp chỉ vừa hai chiếc xe máy tránh nhau, sang phía đối diện. Căn nhà của bà Lê Thị Diệu nép mình khiêm nhường sau hàng rào dâm bụt được cắt tỉa cẩn thận, giàn hoa giấy tím sẫm ướt đẫm những giọt mưa đông buốt giá. Ngôi nhà ngói ba gian quét vôi vàng đã ngả màu rêu mốc theo năm tháng, toát lên vẻ tĩnh mịch, trầm mặc của một gia đình nề nếp xứ Huế xưa cũ, khép kín với những ồn ã xô bồ ngoài phố lớn.

My đứng trước chiếc cổng gỗ hai cánh đã phai màu sơn son, khẽ cất tiếng gọi lễ phép: “Dạ, có bà Diệu ở nhà không ạ?”

Một lát sau, bên trong gian nhà có tiếng dép lê lẹt xẹt nhẹ nhàng, rồi tiếng then cài bằng gỗ lách cách vang lên. Cánh cửa gỗ mở ra, một bà lão ngoài bảy mươi tuổi xuất hiện sau cánh cổng. Bà Diệu có vóc người nhỏ nhắn, lưng đã hơi còng theo thời gian nhưng dáng điệu vẫn còn rất nhanh nhẹn, mực thước và dứt khoát. Mái tóc bà bạc trắng như cước, được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc kẹp đồi mồi sẫm màu. Đôi mắt bà hằn sâu những vết chân chim của năm tháng gió sương nhưng ánh nhìn vẫn sáng ngời, điềm đạm và đong đầy sự bao dung, trắc ẩn của một người cả đời đã đón đỡ biết bao sinh linh bé bỏng cất tiếng khóc chào đời.

Bà Diệu nhìn My, rồi ánh mắt bà dừng lại nơi chiếc âu sứ hoa lam nghi ngút khói đang tỏa ra mùi thơm ngào ngạt trên tay cô. Đôi đồng tử của người nữ hộ sinh già khẽ rung lên một nhịp rất khẽ, như chạm phải một mảnh ký ức sâu kín: “Cháu là... My, cháu nội của chị Lành phải không?”

“Dạ thưa bà, cháu là My ạ,” My cúi đầu lễ phép, hai tay cẩn trọng nâng âu canh nóng. “Cháu... cháu nấu âu canh mít non nấu tôm rảo theo đúng cuốn sổ công thức của mệ Lành để lại, mang sang biếu bà ạ.”

Bà Diệu đứng lặng đi vài giây giữa làn mưa bụi giăng mắc. Gương mặt trầm tĩnh, nghiêm nghị của bà thoáng chốc mềm lại, một tiếng thở dài thật khẽ trượt qua kẽ môi. Bà mở rộng cánh cửa gỗ, nghiêng người nép sang một bên: “Vào nhà đi con. Mưa gió lạnh buốt quá, mau vào trong kẻo ốm.”

Gian nhà của bà Diệu ngăn nắp, sạch sẽ đến kinh ngạc. Mọi thứ từ bộ bàn ghế gỗ gụ lau chùi bóng loáng, chiếc tủ chè khảm ốc xà cừ ánh lên sắc xà cừ ngũ sắc, cho đến những tấm bằng khen, kỷ niệm chương vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân của ngành y tế treo ngay ngắn trên tường vôi đều phảng phất mùi cồn y tế thoang thoảng lẫn với mùi trầm hương bài ấm áp. Trên chiếc bàn con cạnh khung cửa sổ trông ra vườn có đặt sẵn một ấm trà nóng ủ trong chiếc giỏ mây lót bông gòn dày dặn.

Bà Diệu bảo My đặt âu canh lên chiếc khay gỗ trên bàn, rồi bà lặng lẽ đi vào chái trong lấy ra hai chiếc chén nhỏ bằng sành tráng men da lươn và một đôi đũa mun. Khi chiếc nắp sứ hoa lam vừa được mở ra, mùi thơm ngào ngạt của mít non quyện với tôm rảo đầm phá, củ nén phi thơm lừng và lá lốt thái chỉ lập tức lan tỏa, ủ ấm cả gian phòng khách tĩnh mịch, xua đi cái buốt giá của cơn gió mùa đông bắc ngoài hiên.

Bà Diệu ngồi xuống chiếc ghế bành bọc nỉ sờn, hai bàn tay gầy guộc với những ngón tay thon dài, nhẵn nhụi—đôi bàn tay kỳ diệu từng đỡ đẻ cho hàng trăm đứa trẻ trong xóm kiệt này suốt hơn nửa thế kỷ qua—khẽ run rẩy cầm lấy chiếc thìa sứ hoa đào. Bà múc một thìa canh đầy đủ cả sợi mít non tơi xốp, một miếng tôm rảo hồng hào và vài sợi lá lốt xanh thẫm, từ từ đưa vào miệng.

Căn phòng chìm vào tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ còn nghe tiếng gió đông khẽ lay những chùm hoa giấy ướt sũng ngoài thềm ba và tiếng tích tắc đều đặn của chiếc đồng hồ quả lắc treo tường.

Bà Diệu nhai thật chậm, đôi mắt bà khép hờ để đón nhận trọn vẹn từng tầng hương vị đang lan tỏa. Nước canh ngọt lịm tan chảy nơi đầu lưỡi, vị bùi béo ngầy ngậy của mít non ngậm no vị ruốc và tôm, thơm nồng nàn hương nén và lá lốt ấm áp. Khi ngụm canh ấm trôi xuống cổ họng, một làn hơi ấm dịu dàng lan tỏa khắp lồng ngực, đánh thức từng tế bào đã mỏi mệt vì năm tháng. Khi mở mắt ra, My nhìn thấy khóe mắt người nữ hộ sinh già đã đỏ hoe tự bao giờ, hai giọt nước mắt trong suốt lăn dài trên gò má nhăn nheo, đọng lại nơi khóe miệng.

“Đúng vị của chị Lành rồi...” giọng bà Diệu nghẹn ngào, rung lên từng chập trong cổ họng. “Mấy mươi năm rồi, cái vị ngọt thanh mà đượm tình ni không hề sai lệch một chút mô cả. Cháu nấu khéo lắm, con gái à. Y như chị Lành của ngày xưa còn đứng bên bếp than hồng...”

“Dạ... mệ Lành cháu dặn phải tước mít bằng tay, giã tôm tươi sống với củ nén...” My ngập ngừng, lòng dâng lên một nỗi xúc động khó tả, cảm thấy mọi nhọc nhằn thức khuya dậy sớm đều tan biến hết.

Bà Diệu đặt chiếc thìa xuống chiếc đĩa sứ nhỏ, đưa tay áo chấm nhẹ khóe mắt ươn ướt, rồi ngước nhìn My bằng ánh mắt xa xăm, sâu thẳm như đang quay ngược về một miền ký ức xa xôi đầy bão táp: “Cháu có biết vì răng năm mô cứ đến ngày sinh nhật của chú Vinh cháu, chị Lành cũng tự tay nấu một âu canh mít non như ri mang sang tạ ơn bà già ni không?”

My khẽ lắc đầu, nín thở lắng nghe từng lời của bà.

Bà Diệu rót một chén nước chè ấm đẩy về phía My, giọng bà trầm xuống, thì thầm như tiếng thì thầm của dĩ vãng vọng về từ một đêm mưa xa xôi: “Chuyện xảy ra hơn bốn mươi năm trước rồi, cái năm bão lụt lịch sử ở xứ Huế ni. Đêm đó mưa tầm tã trút nước xuống như thác đổ, nước sông An Cựu dâng ngập trắng bờ, tràn cả qua ngõ, mấp mé vào tận thềm nhà rường. Điện toàn thành phố mất sạch, gió bão giật tung từng mảng ngói trên mái nhà rên xiết từng hồi. Đúng cái đêm kinh hoàng nớ thì chị Lành trở dạ sinh chú Vinh của cháu.”

Bà Diệu ngừng lại một nhịp, đôi bàn tay đan chặt vào nhau trên mặt bàn gỗ gụ, những khớp xương gầy guộc nổi rõ: “Đó là một ca đẻ khó thập tử nhất sinh. Chú Vinh bị ngôi ngược, chân ra trước, lại thêm tràng hoa quấn cổ hai vòng nghẹt thở đến tím tái. Chị Lành thì kiệt sức hoàn toàn sau bao cơn đau quằn quại, rồi băng huyết dữ dội, máu ra ướt đẫm cả chiếc chiếu hoa trải trên giường gỗ. Trong cái cảnh nước lụt ngập đến bắp chân ngoài sân, gió bão rít từng cơn điên dại ngoài song sắt, trạm xá thì ở xa tít mù khơi, phố xá ngập sâu không đò bè mô qua lại được, một mình bà mụ ni chỉ với cây đèn bão leo lét đặt đầu giường và nắm bông băng, thuốc men thiếu thốn đã phải giành giật mạng sống của cả hai mẹ con suốt từ nửa đêm cho tới rạng sáng hôm sau.”

My nghe tim mình thắt nghẽn lại, từng mạch máu như ngừng chảy. Cô hình dung ra gian nhà rường tăm tối, lạnh lẽo trong cơn đại hồng thủy năm ấy, tiếng gió bão gầm rú man dại trên mái ngói và nỗi đau đớn, cô độc cùng cực của người bà nội mà cô hằng yêu kính, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mỏng manh như một sợi tơ trời.

“Lúc kéo được thằng Vinh ra ngoài, người nó tím ngắt, mềm oặt như một tàu lá chuối héo, không thở được một hơi mô cả,” bà Diệu xúc động kể tiếp, giọng run run như nghẹn lại. “Bà phải dốc ngược hai chân nó lên, dùng miệng hút sạch đờm nhớt trong mũi họng cho nó, rồi kiên trì vỗ lưng, hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt suốt hơn hai mươi phút đồng hồ trong tuyệt vọng. Đến khi thằng nhỏ cất được tiếng khóc oe oe đầu đời yếu ớt giữa tiếng mưa bão gầm rú, thì chị Lành trên giường mới hé nở một nụ cười nhợt nhạt rồi lịm đi vì kiệt sức. Sáng hôm sau nước rút bớt ra sông, bà lại lội bùn qua bờ rào đi hái nắm lá lốt, kiếm mớ tôm rảo của người ta vừa cất rớ về nấu cho chị Lành một bát canh mít non nghi ngút khói để vừa bồi dưỡng phục hồi khí huyết, vừa kích sữa cho con bú. Kể từ cái ngày sinh tử nớ, chị Lành coi bà như người đã sinh ra chú Vinh lần thứ hai. Mấy mươi năm ròng rã, năm mô cũng rứa, cứ đúng ngày sinh nhật thằng Vinh, chị Lành lại tự tay nhóm bếp than hoa, nấu một âu canh mít non tơi xốp bưng sang biếu bà, chẳng bao giờ trễ một ngày, dẫu mưa to gió lớn hay đau yếu.”

My cúi đầu, hai tay siết chặt vạt áo len. Ân tình của thế hệ trước sâu nặng, bền bỉ và thủy chung đến nhường nào. Một âu canh dân dã, thanh đạm nơi góc bếp sau vườn mà chứa đựng cả một giao ước sinh tử, một lời tạ ơn thầm lặng kéo dài suốt cả một đời người.

“Chị Lành thương thằng Vinh lắm,” bà Diệu bỗng đổi giọng, ánh mắt bà nhìn thẳng vào My đầy vẻ nghiêm nghị xen lẫn nỗi xót xa khôn tả. “Nhưng bà biết, trong cái gia đình họ Kiều ni, nhất là cháu và ba cháu ở trong Sài Gòn, người ta vẫn thường nghĩ sai về nó. Người ta nghĩ thằng Vinh cộc cằn, thô lỗ, thực dụng, suốt ngày chỉ biết tính toán tiền nong chi li, thậm chí muốn bán phắt căn nhà rường cổ của tổ tiên đi để lấy tiền chia chác, có phải rứa không?”

Câu hỏi thẳng thắn và sắc bén của bà Diệu như một nhát dao khía thẳng vào góc khuất tăm tối trong lòng My. Cô đỏ bừng mặt, bờ môi khẽ run lên bối rối mà không sao thốt nên lời. Đúng là cô từng nghĩ như thế. Trong cuộc họp gia đình đầy căng thẳng hôm trước, cô đã từng dùng ánh mắt phán xét, từng oán trách chú Vinh tàn nhẫn khi chú lớn tiếng đòi bán đi căn nhà kỷ niệm của dòng họ, từng quy chụp chú chỉ biết nghĩ đến những món nợ và lợi ích vật chất trước mắt mà quên đi cội nguồn gia phong.

Bà Diệu không đợi My trả lời. Bà thở dài một tiếng nặng nề, đứng dậy bước chầm chậm về phía chiếc tủ chè gỗ gụ đặt sát tường. Bà lấy chùm chìa khóa nhỏ trong túi áo bà ba, mở ngăn kéo tủ có khóa đồng kêu cái cạch khô khốc. Từ trong ngăn kéo, bà cẩn thận lấy ra một tập tài liệu dày cộp được bọc kỹ lưỡng trong chiếc túi nilon màu xanh đã ố vàng theo thời gian. Bà quay lại bàn, đặt tập tài liệu xuống ngay trước mặt My.

Đó là một quyển sổ theo dõi sức khỏe cũ kỹ bìa màu xanh xám của Bệnh viện Trung ương Huế, các góc bìa đã sờn rách, bong tróc và được ai đó dán lại tỉ mỉ bằng những lớp băng dính trong suốt.

“Mở ra xem đi con,” bà Diệu khẽ bảo, giọng bà run lên một nỗi xót xa nghẹn ứ nơi lồng ngực. “Đây là sổ y bạ theo dõi sức khỏe suốt năm năm trời của chị Lành, từ ngày chị bị cơn tai biến mạch máu não đầu tiên cho đến những ngày cuối đời nằm liệt giường. Bà là người theo dõi huyết áp, hỗ trợ thuốc men cho mệ từ đầu nên chú Vinh gởi lại tập hồ sơ ni chỗ bà để tiện làm thủ tục chuyển viện mỗi lần mệ trở nặng cấp cứu.”

Ngón tay My run rẩy đưa ra, lật mở từng trang giấy đầu tiên đã ngả màu ố vàng.

Từng trang, từng trang giấy hiện ra trước mắt cô với những dòng chữ ghi chép chằng chịt, nguệch ngoạc của các bác sĩ khoa Thần kinh và Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Trung ương Huế. Những mốc thời gian lạnh lùng như những vết cứa: năm 2019, năm 2020, năm 2021, năm 2022... Những chẩn đoán bệnh lý nghiệt ngã nối tiếp nhau: nhồi máu não diện rộng tái phát lần hai, liệt nửa người bên phải, loét tỳ đè vùng cùng cụt độ ba, viêm phổi tắc nghẽn mãn tính, suy tim sung huyết độ bốn...

Nhưng điều khiến tim My như bị một bàn tay vô hình bóp nghẽn lại, từng giọt máu trong huyết quản đông cứng buốt lạnh, chính là phần chữ ký của người nhà bệnh nhân dưới mỗi tờ giấy cam kết phẫu thuật nguy hiểm, cam kết điều trị kỹ thuật cao và hàng xấp biên lai nộp viện phí tạm ứng.

Hàng trăm chữ ký. Hàng trăm lần đặt bút cam kết chịu trách nhiệm sinh tử cho một mạng người. Và ở tất cả những trang giấy định mệnh ấy, người ký tên duy nhất, bằng nét mực bi xanh quen thuộc, run rẩy vì lo âu nhưng dứt khoát đến đau lòng, luôn luôn là một cái tên:

*Kiều Đức Vinh. Quan hệ với người bệnh: Con trai.*

Nước mắt My bắt đầu ứa ra nơi khóe mi, nhòe đi những dòng chữ in dấu mộc đỏ chót trên các tờ biên lai viện phí kẹp lộn xộn bên trong: *Biên lai tạm ứng viện phí ngày 14 tháng 11 năm 2020: 35.000.000 đồng — Người nộp: Kiều Đức Vinh.* *Cam kết phẫu thuật đặt ống mở khí quản ngày 08 tháng 03 năm 2021 — Thân nhân: Kiều Đức Vinh.* *Biên lai thanh toán máy thở oxy dòng cao tại nhà: 28.000.000 đồng — Người thanh toán: Kiều Đức Vinh.* *Hóa đơn thuốc kháng sinh thế hệ mới điều trị nhiễm trùng huyết: 16.500.000 đồng — Người nhận: Kiều Đức Vinh.*

Bà Diệu nhìn My đang ngồi chết lặng, đôi vai gầy run rẩy khóc không thành tiếng. Giọng người nữ hộ sinh già trầm buồn vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch, từng lời từng chữ như gõ thẳng vào lương tri cô: “Năm năm trời chị Lành nằm liệt một chỗ, nửa người bất toại, cháu có biết ai là người nâng giấc, thay từng miếng tã lót dính đầy xú uế, lau rửa từng vết lở loét hoại tử do nằm lâu cho mệ không? Là thằng Vinh. Ba cháu ở trong Sài Gòn mỗi năm gởi về được đôi ba triệu bạc coi như phụ giúp hương khói giỗ chạp, nhưng tiền thuốc men đặc trị, tiền xe cấp cứu chuyển viện giữa đêm hôm khuya khoắt, tiền thuê máy thở oxy mỗi đợt mệ khó thở tím tái... toàn tiền chục triệu, tiền trăm triệu, một tay thằng Vinh phải chạy vạy lo liệu hết, không thiếu một đồng.”

Từng lời bà Diệu nói như những tảng đá ngàn cân đè nặng lên tâm can My.

“Có những đợt chị Lành trở bệnh nguy kịch giữa đêm đông rét buốt như ri này, thằng Vinh một manh áo mỏng, cõng mẹ trên lưng chạy bộ từ trong kiệt sâu ra đầu đường lớn gọi xe cấp cứu, chân không kịp xỏ đôi dép. Suốt hai tuần chị nằm phòng hồi sức tích cực cách ly, thằng Vinh thức trắng đêm ngồi co ro ngoài hành lang bệnh viện lạnh ngắt, ai cho ổ bánh mì thì gặm nửa ổ cầm hơi, để dành nửa ổ cho bữa sau. Để có tiền mua chiếc máy thở oxy duy trì sự sống cho mệ đợt nớ, nó phải mang chiếc xe máy cà tàng đi cắm, rồi đi làm thợ hồ phụ vữa, bốc vác ban đêm, rồi vay mượn nóng khắp nơi quen biết. Nó không bao giờ dám hé răng than thở một lời với anh Quang trong nớ, vì chính mệ Lành nắm tay dặn nó: ‘Anh con gánh nặng vợ con trong Sài Gòn, đường sá xa xôi, việc làm bấp bênh, đừng làm anh con phải bận lòng thêm khổ’. Thằng Vinh nghe lời mẹ, cắn răng chịu đựng một mình suốt ngần ấy năm trời.”

Nước mắt My tuôn rơi lã chã, từng giọt mặn chát rơi lộp độp ướt đẫm cả mặt giấy sổ y bạ cũ kỹ.

Ký ức về buổi họp gia đình căng thẳng nghẹt thở hôm nào bỗng dội về như một cơn ác mộng cắn rứt. Cô nhớ lại ánh mắt hằn sâu những tia máu đỏ quầng thâm và vẻ mặt đầy phòng thủ, cay đắng, gay gắt của chú Vinh khi chú quẳng cọc biên lai nợ hơn bốn trăm triệu đồng lên mặt bàn gỗ rường. Cô nhớ tờ giấy báo học phí đại học mười tám triệu rưỡi của em Ánh Nguyệt bị vò nát, rơi chơ vơ nơi góc nhà rường mà chú đã cúi xuống nhặt lên với bàn tay run rẩy. Lúc đó, cô đã mù quáng đến mức nào khi nghĩ rằng chú chỉ là một kẻ cộc cằn, chỉ muốn tống khứ căn nhà rường cổ kính đi để lấy tiền chia chác, để rũ bỏ trách nhiệm thờ phụng tổ tiên. Cô đã tự cho mình cái quyền phán xét chú từ vị thế của một kẻ trở về mang đầy mặc cảm đạo đức giả tạo và sự thanh cao rỗng tuếch.

Hóa ra, người giữ cho căn nhà rường này còn chút hơi ấm sự sống, người đã đánh đổi cả thanh xuân, sức khỏe và danh dự để giữ cho bà nội sống thêm được năm năm quý giá trên cõi đời này, người âm thầm gánh vác mọi nhọc nhằn, cay đắng, nợ nần ngập đầu mà không một lời oán thán kể công... lại chính là người chú mà cô từng xem là thực dụng và vô tình nhất.

“Chị Lành thương thằng Vinh nhất trần đời cũng vì cái đức hy sinh thầm lặng, chịu thương chịu khó nớ của nó,” bà Diệu khẽ thở dài, đưa bàn tay ấm áp nhăn nheo xoa nhẹ lên mái tóc ướt mưa của My. “Mệ cháu lập ra cuốn sổ mười hai món ăn ni, cháu có nghĩ mệ chỉ muốn cháu đi trả ơn người ngoài xóm kiệt không? Không mô con à. Món canh mít non ni mang sang cho bà, thực chất là mệ Lành muốn mượn miệng bà già ni để mở mắt cho con cháu trong nhà thấy được cái ân nghĩa, cái gánh nặng mà thằng Vinh đã oằn lưng gánh vác suốt một đời. Chăm sóc một người già ốm đau liệt giường không phải chỉ bằng vài ba câu thương xót đãi bôi hay vài đồng bạc gởi từ phương xa về, mà là máu, là nước mắt, là mồ hôi và những đêm thức trắng kiệt cùng sức lực đó con.”

My nghẹn ngào, hai bờ vai run bần bật, không thốt nên được một lời nào trọn vẹn. Cô ôm chặt quyển sổ y bạ cũ sờn vào lòng, cảm nhận từng nếp gấp rách nát của nó như chính những vết thương hằn sâu trong tâm hồn người chú ruột. Nỗi ân hận tột cùng cắn xé tâm can cô xót xa. Cô đã quá bận rộn với những hào nhoáng thị thành, với những mục tiêu danh vọng hão huyền, để rồi mù quáng trước sự hy sinh vĩ đại và lặng lẽ nhất ngay bên cạnh mình.

Bà Diệu đứng dậy, cẩn thận múc phần canh mít non còn lại trong âu sứ lớn vào một chiếc âu nhỏ hơn có nắp đậy kín kẽ, rồi đặt lại vào đôi bàn tay run rẩy của My: “Canh vẫn còn ấm nóng lắm. Cầm lấy âu canh ni sang nhà thằng Vinh đi con. Hôm ni... cũng chính là ngày sinh nhật của nó đó.”

Trời đất như chao đảo trước mắt My. Hôm nay là ngày sinh nhật chú Vinh. Vậy mà từ sáng đến giờ, không một ai trong gia đình họ Kiều nhớ đến—từ người anh ruột ở phương Nam xa xôi cho đến chính cô—ngoài âu canh mít non mà bà Lành đã cẩn thận ghi lại trong di nguyện từ trước khi nhắm mắt xuôi tay.

My cúi đầu thật sâu gập người tạ ơn bà Diệu, hai tay ôm chặt âu canh nóng và quyển sổ y bạ vào lồng ngực. Cô bước nhanh ra khỏi cánh cổng gỗ, bỏ lại sau lưng giàn hoa giấy tím ướt đẫm mưa đông.

Gió lạnh từ dòng sông An Cựu thốc qua con kiệt hẹp buốt giá, nhưng hơi ấm từ âu canh mít non và quyển sổ y bạ áp sát ngực đang sưởi cháy lồng ngực My. Cô không còn cảm thấy cái lạnh thấu xương của mùa đông xứ Huế nữa, chỉ có một ngọn lửa cắn rứt và hối hận đang thôi thúc từng bước chân.

My bước thẳng về phía căn nhà của chú Vinh ở cuối kiệt, tay cầm theo âu canh mít non ấm nóng.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories