Ba bức tranh trong một phòng
Phòng họp của văn phòng luật sư Nguyễn Hoài Thu nằm ở tầng ba một căn biệt thự Pháp cổ được gia cố cách âm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, nhưng bên trong lại được thiết kế theo chuẩn mực ánh sáng khắt khe của một phòng giám định bảo tàng hạng nhất. Không có những chùm đèn chùm lộng lẫy hay ánh sáng vàng ấm tạo cảm giác vỗ về thường thấy ở các văn phòng tư vấn tài chính tư nhân; thay vào đó, toàn bộ không gian được bao phủ bởi hệ thống máng đèn LED tuyến tính treo thả trần, sở hữu chỉ số hoàn màu CRI đạt mức tuyệt đối trên chín mươi tám và nhiệt độ màu chuẩn định ở mức năm nghìn Kelvin.
Dưới luồng quang năng lạnh lùng, thuần khiết ấy, mọi góc tối, mọi bóng đổ khuất tất và mọi ảo ảnh thị giác do hiện tượng tán xạ ánh sáng hay ánh phản quang bề mặt đều bị triệt tiêu không thương tiếc. Trên chiếc bàn làm việc dài hình bầu dục bọc khung thép không gỉ, một dải thảm dạ nỉ màu đen tuyền, dệt dày và không phản xạ hạt sáng, đã được trải phẳng phiu từ đầu này sang đầu kia.
Bầu không khí trong phòng quánh đặc một thứ mùi hỗn hợp kỳ dị: mùi ẩm mốc ngai ngái bốc lên từ lòng đất sau cơn mưa rào tháng Mười hắt qua các khe cửa thông gió cũ kỹ, quyện lẫn với mùi hăng nồng đặc trưng của nhựa cây sơn ta chưa khô kiệt, mùi dung môi hữu cơ bay hơi từ các hợp chất pha chế công nghiệp, và thoảng qua là mùi da bò thuộc đắt tiền bốc ra từ chiếc ghế bành bọc nệm của vị khách đối diện. Tiếng máy điều hòa trung tâm phả ra từng đợt hơi lạnh khô khốc, rì rầm như tiếng thở dài của một cỗ máy đã vận hành quá tải.
Ở đầu bàn phía bên trái, Phạm Đức Lâm vẫn ngự trị trên chiếc ghế xoay da cao cấp bằng một tư thế ngồi vắt chéo chân đầy vẻ vương giả. Bộ âu phục ba mảnh màu xám tro cắt may thủ công từ chất liệu len lông cừu nguyên chất phẳng phiu đến mức không gợn một nếp gấp nhỏ; từng đường kim mũi chỉ chạy dọc ve áo đều toát lên quyền lực của đồng tiền và sự kiểm soát tuyệt đối. Bàn tay trái của ông ta đặt hờ trên tay vịn bọc da, ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn ngọc bích chạm khắc hoa văn cổ nhịp đều đặn, khoan thai, phát ra những tiếng gõ *cộc, cộc* khô khốc. Điệu bộ ấy không hề giống một kẻ đang bị dồn vào chân tường trong một cuộc đối chất pháp lý căng thẳng có thể dẫn tới cánh cửa nhà tù, mà giống hệt một nhà tài phiệt đang tham gia một buổi đàm phán thương mại thông thường, nơi ông ta biết rõ mình nắm đằng chuôi của mọi thỏa thuận.
Đứng sừng sững ngay phía sau lưng Lâm là Hoàng Sơn. Gã vệ sĩ kiêm trợ thủ đắc lực cao gần một mét chín, thân hình vạm vỡ như một khối đá hoa cương được bọc trong chiếc áo khoác da màu nâu sẫm. Hai bàn tay hộ pháp đan chéo trước bụng, đôi mắt một mí ti hí của hắn đảo liên tục khắp căn phòng như loài săn mồi đang cảnh giới, và vết sẹo dài lồi lõm chạy xéo từ thái dương xuống đuôi lông mày trái lại khẽ giật giật mỗi khi có một vệt sáng đèn LED hắt ngang qua gò má gồ ghề.
Đối diện với họ, ở phía bên kia dải thảm dạ đen, Trương Minh Khang ngồi sụp xuống mép ghế như một người đã bị rút hết xương sống. Hai bàn tay người thừa kế trưởng của dòng họ Trương đan chặt vào nhau, đặt chết trên hai đầu gối run rẩy bần bật không tài nào kiểm soát nổi. Chiếc áo sơ mi trắng đắt tiền giờ đây nhăn nhúm, hai bên nách và bờ lưng áo ướt đẫm mồ hôi chua chát; từng giọt mồ hôi lạnh rịn ra trên trán, chảy dài qua sống mũi rồi rơi xuống mặt bàn. Kể từ giây phút phiên đấu giá kín tại khách sạn Riverside Grand bị đình chỉ khẩn cấp bởi lực lượng chức năng, và bóng ma của khoản nợ bảo lãnh ba mươi tỷ đồng từ các chủ nợ ngầm ngày càng siết nghẹt lấy cuống họng, Khang đã hoàn toàn suy sụp. Gương mặt từng một thời phong lưu của gã giờ trắng bệch như xác chết trôi, đôi mắt trũng sâu quầng thâm dại đi vì hoảng loạn, bấu víu vào từng biểu cảm trên gương mặt điềm tĩnh của Lâm như kẻ sắp chết đuối nhìn thấy một cọng rơm khô.
Nằm nép mình ở góc bàn gần lối ra vào, bà Trương Thanh Mai ngồi thẳng lưng nhưng hai vai co rúm lại. Người phụ nữ trung niên với mái tóc điểm bạc búi chặt sau gáy ôm khư khư chiếc túi xách bằng vải thô vào lòng; bên trong lớp vải ấy là bức thư sám hối mà cha bà — cố danh họa Trương Diệp — đã để lại trước lúc trút hơi thở cuối cùng. Ánh mắt bà đau đớn, trĩu nặng sự dằn vặt của một đứa con đã vô tình tiếp tay cho những toan tính xé lẻ di sản gia đình, không rời một tích tắc khỏi từng động thái của nhóm giám định kỹ thuật.
Luật sư Nguyễn Hoài Thu đứng tựa lưng vào mép bàn phụ gần tủ hồ sơ tài liệu. Trên tay bà là tập vi bằng dày cộp đã được kẹp sẵn bút kim loại và con dấu của văn phòng luật sư. Ánh mắt bà sắc sảo, kiên nghị sau cặp kính gọng titan mảnh mai. Bà đưa tay đẩy nhẹ gọng kính, rồi cất giọng phá tan bầu không khí đặc quánh đang đè nặng lên màng nhĩ của tất cả những người có mặt:
— Căn cứ vào biên bản làm việc khẩn cấp được thiết lập ngay tại sảnh khách sạn Riverside Grand lúc mười chín giờ ba mươi phút tối nay, sau khi phiên giao dịch tác phẩm nghệ thuật ngoài sổ bộ bị cơ quan chức năng tạm đình chỉ theo đơn yêu cầu ngăn chặn khẩn cấp của bà Trương Thanh Mai và cô Trương Bảo Châu, cuộc đối kiểm kỹ thuật tại văn phòng này là bước bắt buộc để xác định tính pháp lý và bản chất hiện vật mà ông Phạm Đức Lâm mang tới. Tôi xin nhắc lại để các bên ghi nhận: toàn bộ quá trình đối chiếu, kiểm tra bằng thiết bị quang học và vật lý bề mặt dưới sự chứng kiến của các bên tại bàn này đều được ghi hình liên tục bằng ba góc máy độc lập, và mọi kết luận giám định độc lập của kỹ sư phục chế Trương Bảo Châu cùng chuyên gia Quách Nhật Nam sẽ được lập tức đính kèm vào vi bằng có giá trị chứng cứ đầy đủ trước Tòa án Nhân dân Thành phố.
Quách Nhật Nam không ngẩng đầu lên nhìn bất kỳ ai. Toàn bộ tâm trí và sự tập trung của anh lúc này dồn trọn vào đôi bàn tay đang cẩn trọng xoay nhẹ các núm vặn ren bằng đồng, điều chỉnh bốn chân đế cao su giảm chấn của chiếc giá đỡ chữ L bọc nhung đen chuyên dụng đặt ở giữa bàn.
Trước mặt anh, ba phiên bản vật chất liên quan trực tiếp đến số phận của bức tranh thứ mười ba — kiệt tác thất lạc mang tên *Người Giữ Nền* — lần đầu tiên được đặt song song thẳng hàng trên nền vải dạ đen tuyền, phơi bày toàn bộ bản chất của chúng dưới ánh sáng trung tính:
Nằm ở ngoài cùng bên tay trái là tấm vóc dở dang mà Mai Quốc Huy đã vội vã nhét vào két sắt tại tư gia của cố danh họa trước khi cuống cuồng đào tẩu lên Đà Lạt trong đêm mưa. Tấm vóc ấy thô kệch một cách đáng thương hại: bề mặt phủ một lớp lá bạc công nghiệp mỏng manh, cắt gọt cơ học vuông vức theo khổ chuẩn mười phẩy chín xăng-ti-mét, bên trên quét vội vài đường sơn then bằng loại cọ sợi tổng hợp thô ráp, để lại những vệt xước chân lông nham nhở. Đáng sợ hơn cả là lớp phủ bóng bề mặt nồng nặc mùi dung môi butyl acetate — mùi dầu chuối hắc búa chuyên dùng trong sơn công nghiệp rẻ tiền nhằm ép màng sơn đóng rắn cấp tốc. Đó chỉ là một bản sao chép hạng hai, vụng về và trơ trẽn, một thứ mồi nhử rẻ tiền chỉ đủ sức đánh lừa thị giác của những kẻ mở két trong vài giây hoảng loạn ngắn ngủi trước khi rời hiện trường.
Ở vị trí trung tâm, ngự trị trên giá đỡ chữ L bọc nhung, là bức tranh sơn mài bọc viền gỗ mun bóng bẩy mà chính tay Hoàng Sơn vừa cẩn thận nhấc ra từ chiếc hộp gỗ trắc bọc khăn nhung đỏ thẫm. Tác phẩm này ở một đẳng cấp chế tác hoàn toàn khác biệt. Bề mặt tranh có kích thước chuẩn ba mươi nhân bốn mươi xăng-ti-mét, toát lên một vẻ thâm trầm lộng lẫy dưới ánh đèn bảo tàng. Từng mảng then đen sâu thẳm như đáy vực không đáy, bóng loáng và huyền ảo, điểm xuyết những vạt son chu sa đỏ trầm mặc, ấm áp, cùng những đường nét lượn sóng tinh tế của vàng quỳ dát mỏng ẩn hiện dưới các tầng quang dầu mài nhẵn. Ở góc trên bên trái, dòng lạc khoản *“Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền”* hiện lên sắc sảo, thanh thoát như nét bút rồng bay phượng múa của một bậc thầy, bên cạnh là biểu tượng chiếc lá sơn mài khuyết mất một đường gân phụ. Nếu đặt tác phẩm này dưới ánh sáng vàng dịu trong phòng khách của một biệt thự sang trọng, hay trong không gian mờ ảo của một sàn đấu giá quốc tế, thì bất kỳ nhà sưu tập lão luyện nào cũng sẽ đinh ninh rằng mình đang chiêm ngưỡng tuyệt tác đỉnh cao bị thất lạc của Trương Diệp.
Và ở phía bên phải là màn hình chuyên dụng Eizo ColorEdge hai mươi bảy inch đã được Trương Bảo Châu cân chỉnh màu sắc bằng thiết bị quang phổ kế đạt chuẩn Delta-E nhỏ hơn một. Màn hình đang hiển thị bộ ảnh chụp macro độ phân giải cực cao, ghi lại từng góc cạnh của bức tranh gốc dưới ánh sáng xiên mười lăm độ mà cô đã bí mật thực hiện trong đêm trước ngày diễn ra tang lễ của ông ngoại. Đặt cạnh chân đế màn hình là xấp bản in ảnh kích thước tỷ lệ một–một trên giấy ảnh baryta trung tính không chứa axit. Từng sợi gai dệt tay, từng bọt khí li ti bị giữ lại trong lớp sơn ủ, từng vết rạn nứt tế vi chạy ngầm dưới địa tầng của bức tranh nguyên bản hiện lên rõ mồn một như một tấm bản đồ giải phẫu bệnh học chi tiết đến tận tế bào.
— Giám định viên Quách Nhật Nam, — Phạm Đức Lâm cất giọng, âm vực trầm ấm, nhả chữ tròn vành rõ nét nhưng ngập tràn vẻ mỉa mai ngạo nghễ. — Tôi đã nhẫn nại ngồi đây, chấp nhận hoãn một giao dịch trị giá sáu triệu đô la Mỹ để mang bức tranh gia bảo này đến tận văn phòng theo đúng yêu cầu mang tính hình thức của luật sư Thu. Cậu có thể tùy ý sử dụng toàn bộ những thứ đồ chơi quang học đắt tiền nhập khẩu từ Đức hay Nhật của cậu để soi rọi. Nhưng với tư cách là một người đã lăn lộn trên thị trường nghệ thuật Đông Dương gần ba mươi năm nay, tôi khuyên cậu đừng mất thì giờ vào những chi tiết vô nghĩa. Bức tranh này do chính tay cụ Trương Diệp hoàn tất vào mùa thu năm 1984. Nhìn vào độ chín của lớp sơn then kia đi, nhìn vào độ sâu hun hút của sắc son chu sa kia đi! Không một xưởng chép tranh nào ở cái đất Sài Gòn hay ngoài đất Bắc này đủ trình độ đẩy chất màu lên tới cảnh giới đó. Cậu định dùng mớ lý thuyết sách vở để phủ nhận một sự thật hiển nhiên bằng cách nào?
Nam chậm rãi thò tay vào hộp, rút ra đôi găng tay cotton dệt mịn màu trắng không bột. Anh từ tốn xỏ từng ngón tay vào găng, vuốt phẳng các nếp vải ở cổ tay một cách cẩn trọng. Ánh mắt anh bình thản như mặt hồ đóng băng, hoàn toàn không bị lay chuyển bởi những lời khiêu khích mang nặng tính tâm lý chiến của người đàn ông đối diện. Trong thế giới của giám định vật lý cổ vật, mọi ngôn từ hùng biện, mọi bản lý lịch tác phẩm được thêu dệt và mọi uy danh của giới buôn tranh đều chỉ là lớp bọt xà phòng vô nghĩa trước tiếng nói lạnh lùng của cấu trúc phân tử và địa tầng vật liệu.
— Trong giám định sơn mài truyền thống, đôi mắt trần của con người là công cụ dễ bị đánh lừa nhất, thưa ông Lâm, — Nam điềm đạm lên tiếng, giọng nói đều đều nhưng dứt khoát. — Bằng kỹ thuật đánh bóng bề mặt bằng bột than củi xoan nghiền siêu mịn kết hợp với vài giọt dầu hỏa tinh luyện và lòng bàn tay của một thợ mài lành nghề, người ta hoàn toàn có thể tạo ra một độ trong quang học hoàn hảo, đánh lừa giác quan về một "độ sâu không đáy". Nhưng cấu trúc địa tầng nằm bên dưới lớp màng urushiol thì không bao giờ biết nói dối. Nó lưu giữ toàn bộ niên đại, kỹ thuật xử lý và hành vi cơ học của người làm ra nó.
Nam với tay kéo chiếc kính hiển vi kỹ thuật số cầm tay có độ phân giải quang học cao, tích hợp vòng đèn LED phân cực tròn chống lóa. Chiếc máy được kết nối trực tiếp với một màn hình phụ đặt ở mép bàn. Anh vặn cần điều chỉnh của ngọn đèn rọi sợi quang góc hẹp, hạ thấp luồng sáng vàng ấm xuống một góc mười lăm độ so với mặt phẳng tranh, để tia sáng quét là là sát mặt lớp sơn bóng.
Ngay tức khắc, luồng ánh sáng xiên làm nổi bật lên những gờ nổi vi mô, những vết lượn sóng li ti của bề mặt sơn mà mắt thường khi nhìn trực diện hoàn toàn không thể phát hiện.
— Chúng ta hãy bắt đầu từ lớp mặt ngoài cùng, — Nam vừa nói vừa rê nhẹ đầu kính hiển vi qua mảng son đỏ trầm mặc nằm ở trung tâm bố cục. — Tôi phải thừa nhận rằng người đứng sau quá trình thực hiện bức tranh này là một bậc thầy thực sự về kỹ thuật pha chế chất màu cổ truyền. Sắc son này không hề dùng bột màu công nghiệp azo hay oxit sắt đỏ rẻ tiền; nó sử dụng bột chu sa tự nhiên được nghiền mịn từ quặng cinnabar nguyên chất, lớp sơn then pha muội than củi bồ đề có độ khúc xạ ánh sáng rất sâu, và độ chuyển tiếp giữa các mảng màu cho thấy một kỹ thuật mài ủ vô cùng điêu luyện. Nếu chỉ nhìn lướt qua lớp quang dầu bóng bẩy này, nó có thể đạt tới chín mươi phần trăm phong cách tạo hình và thủ pháp xử lý màu của cụ Trương Diệp vào giai đoạn đỉnh cao năm 1984.
Ngồi ở phía đối diện, Trương Minh Khang như vớ được cọc, mắt sáng rực lên. Gã vội vã chồm người về phía trước, hai tay đập mạnh xuống mặt bàn: — Cậu thấy chưa! Cậu vừa tự miệng thừa nhận rồi đấy nhé! Tôi đã bảo từ đầu mà, đây chính là tranh thật của ba tôi! Anh Lâm là người đàng hoàng, anh ấy bỏ tiền ra thu gom lại từ các mối quen để cứu danh dự cho dòng họ Trương, anh ấy không đời nào lừa chúng ta! Luật sư Thu, bà nghe rõ rồi chứ?
— Xin ông Khang giữ trật tự và ngồi lùi lại phía sau, — luật sư Thu lạnh lùng ngắt lời, ngòi bút kim loại trong tay bà gõ dứt khoát xuống mặt bàn kính phát ra tiếng *cạch* đanh thép. — Giám định viên Quách Nhật Nam vẫn chưa hoàn thành phần kết luận kỹ thuật. Mọi sự can thiệp thô bạo vào quy trình giám định đều sẽ được ghi nhận vào biên bản vi phạm.
Phạm Đức Lâm khẽ nhếch mép cười khẩy, ánh mắt lộ vẻ đắc thắng nhìn Khang như nhìn một con rối vừa hoàn thành tốt vai diễn.
Thế nhưng, trên gương mặt Nam không hề có một gợn sóng cảm xúc. Khóe môi anh khẽ mỉm cười kín đáo. Anh không tiếp tục săm soi lớp son chu sa tráng lệ ấy nữa, mà từ từ xoay nghiêng tấm tranh trên giá đỡ chữ L, đưa đầu thấu kính hiển vi áp sát vào mép vát bốn mươi lăm độ ở cạnh sườn của tấm vóc — nơi tiếp giáp trực tiếp giữa lớp sơn mài nhiều tầng và khung viền nẹp gỗ mun. Nam vặn núm chỉnh tiêu cự, đẩy độ phóng đại quang học từ hai mươi lần lên thẳng một trăm lần.
Hình ảnh truyền tải về màn hình phụ lập tức thay đổi hoàn toàn diện mạo.
Thay vì cấu trúc thớ gỗ mít tự nhiên với những mạch dẫn nhựa uốn lượn bất đối xứng, đan xen cùng các sợi gai thô ráp ngấm đẫm sơn sống của kỹ thuật làm vóc cổ truyền, màn hình hiện lên một cấu trúc đồng nhất, mịn mằn và nhân tạo đến mức kỳ dị.
Nam dùng đầu bút cảm ứng chỉ thẳng vào hình ảnh phóng đại trên màn hình: — Cốt vóc truyền thống của cụ Trương Diệp nói riêng và các nghệ nhân xưởng thợ Tương Bình Hiệp nói chung từ trước thập niên chín mươi luôn tuân thủ một quy trình bất di bất dịch: cốt gỗ phải là gỗ mít già hoặc gỗ mù u xẻ xuôi thớ, ngâm bùn ao tối thiểu sáu tháng để khử sạch nhựa cây và triệt tiêu mầm mống mối mọt, sau đó phơi trong bóng râm cho ngót tự nhiên rồi mới tiến hành công đoạn bó vóc bằng vải gai dệt tay ngâm đẫm sơn sống, trước khi phủ liên tiếp năm đến bảy lớp hom bằng đất phù sa sông trộn sơn sống và mùn cưa mịn. Nhưng xin mời các vị hãy nhìn kỹ vào mặt cắt ngang ở mép vát của tấm tranh này. Bên dưới lớp hom mỏng manh chỉ dày chưa đầy nửa milimét được quét bên ngoài để làm hàng mã, toàn bộ phần lõi chịu lực thực chất là ván ép công nghiệp HDF mật độ cao!
Sắc mặt của Phạm Đức Lâm khẽ biến đổi. Ngón tay trỏ đeo nhẫn ngọc bích của ông ta đang gõ nhịp trên tay vịn bỗng khựng lại giữa không trung. Tuy nhiên, bản lĩnh của một tay trùm buôn bán cổ vật lão luyện giúp ông ta nhanh chóng lấy lại vẻ mặt trơ tráo:
— Thật là nực cười. Một tấm vóc sơn mài đã trải qua tròn bốn mươi năm thăng trầm, từng nằm trong kho ẩm rồi qua tay nhiều đời bảo quản, việc người ta gia cố lại phần mép biên bằng keo hiện đại để chống cong vênh hay mối mọt là chuyện hết sức bình thường trong giới bảo tồn. Cậu định dựa vào một chút keo sửa chữa và mùn cưa ở cạnh biên để vội vã quy kết cả một tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao là đồ giả sao? Lập luận như vậy thì non nớt quá đấy, cậu Nam ạ!
— Đây hoàn toàn không phải là kỹ thuật sửa chữa hay gia cố mép biên, thưa ông Lâm, — Nam ngước mắt lên, ánh nhìn sắc lạnh như dao cạo găm thẳng vào đôi mắt hơi hẹp của đối phương. — Nếu là gia cố mép biên, cốt gỗ tự nhiên bên trong vẫn phải tồn tại và có ranh giới phân tách vật liệu rõ ràng. Đằng này, toàn bộ tấm phôi nền này dày chính xác mười hai milimét phẳng tuyệt đối từ tâm ra mép, sai số bề mặt đo bằng thước panme điện tử không vượt quá không phẩy không hai milimét trên toàn bộ diện tích ba mươi nhân bốn mươi xăng-ti-mét. Gỗ mít tự nhiên được đẽo gọt bằng tay, ủ trong buồng ẩm thủ công vào năm 1984 không bao giờ và không thể nào sở hữu một độ phẳng cơ học hoàn hảo của máy móc công nghiệp như thế này! Kẻ làm ra tấm vóc này đã lấy một tấm ván sợi công nghiệp cắt định hình bằng máy CNC, sau đó quét một lớp bột gỗ mịn trộn keo sữa PVA lên bề mặt để tạo độ xốp giả mạo thớ gỗ mộc, rồi mới dán một lớp vải màn thưa lên trên nhằm đánh lừa những giám định viên chỉ có thói quen soi kính lúp ở phần mặt tranh!
Chưa để Lâm kịp mở miệng phản bác, Trương Bảo Châu đã bước lên phía trước. Động tác của cô dứt khoát, mái tóc buộc đuôi ngựa khẽ lay động sau lưng. Đôi mắt người kỹ sư phục chế trẻ tuổi từng tu nghiệp nhiều năm tại Pháp rực sáng một ngọn lửa nghề nghiệp đanh thép. Cô không cần dùng đến kính hiển vi điện tử; cô rút từ túi áo ra chiếc kính lúp phóng đại quang học chuyên dụng có tích hợp thước đo trắc vi vi mô, đặt nhẹ nhàng lên bề mặt bức tranh, rồi bật chiếc đèn pin cầm tay phát ra tia cực tím UV-A có bước sóng chuẩn 365 nanômét, chiếu chếch một góc ba mươi độ so với mặt tranh.
— Để tôi cho ông thấy thêm một bằng chứng không thể chối cãi nữa về sự "cổ kính bốn mươi năm" của kiệt tác sáu triệu đô la này, ông Lâm, — giọng Châu vang lên, trong trẻo nhưng chứa đựng sức nặng đè bẹp mọi sự ngụy biện.
Dưới luồng ánh sáng cực tím tím ngắt kết hợp với ánh sáng xiên góc hẹp, bề mặt láng bóng của bức tranh lập tức phát quang và làm lộ rõ một mạng lưới những đường nứt chân chim li ti chằng chịt, đan xen ngang dọc khắp lớp sơn cánh gián. Thoạt nhìn lướt qua, mạng lưới này mang lại cảm giác vô cùng chân thực về một tác phẩm cổ xưa bị thời gian tàn phá, tạo nên lớp rạn men cổ kính mà giới chơi tranh thường gọi là "vết nứt thời gian".
Châu chỉ đầu ngón tay đeo găng cotton vào hình ảnh đang truyền trực tiếp từ camera macro của cô lên màn hình Eizo: — Trong quá trình lão hóa tự nhiên của sơn ta truyền thống qua bốn thập kỷ, thành phần urushiol trong mủ sơn bị oxy hóa cực kỳ chậm rãi dưới tác động tuần hoàn của độ ẩm không khí và sự co ngót vi mô theo mùa của cốt gỗ mít bên dưới. Các vết nứt chân chim tự nhiên luôn phát triển theo hướng đẳng hướng hoặc men theo hướng chạy của thớ gỗ ngầm. Mặt cắt của một vết nứt tự nhiên luôn có dạng hình chữ V sâu hoắm, mép nứt hơi co nhẹ vào trong do tính đàn hồi tự nhiên của màng polyme hữu cơ, đáy vết nứt tích tụ bụi thời gian và có độ mềm mại nhất định.
Châu xoay vòng chỉnh nét của ống kính macro, đẩy độ phóng đại lên mức cực đại hai trăm lần, chiếu thẳng vào một nút giao của ba đường nứt nằm gần góc phải bức tranh:
— Nhưng xin mời ông Lâm và mọi người nhìn kỹ vào cấu trúc vết nứt trên bức tranh này! Mạng lưới nứt này hoàn toàn không tuân theo quy luật tự nhiên của thớ gỗ. Chúng phân bố theo những đường vân tròn đồng tâm tỏa ra từ trung tâm tấm vóc hướng ra bốn góc. Quan trọng hơn cả: đáy của các rãnh nứt này nông hoét, bằng phẳng và có hình chữ U, mép vết nứt sắc nhọn, gãy vụn cơ học y hệt như bề mặt của một tấm kính cường lực vừa bị nung nóng rồi dội nước lạnh!
Một khoảng im lặng nghẹt thở bao trùm lấy căn phòng. Tiếng kim giây của chiếc đồng hồ treo tường trên vách thạch cao nhảy từng nhịp khô khốc: *tạch, tạch, tạch*.
— Đây là dấu vết đặc trưng không thể tẩy xóa của phương pháp gia nhiệt cưỡng bức bằng đèn sấy hồng ngoại công nghiệp! — Giọng Châu đanh lại, sự khinh bỉ lộ rõ trong từng âm tiết. — Để đẩy nhanh quá trình khô của sơn ta — vốn đòi hỏi phải ủ trong buồng ẩm kín gió có độ ẩm tương đối từ tám mươi đến chín mươi phần trăm và mất hàng tháng trời ròng rã cho mỗi lớp sơn — kẻ làm giả đã đưa tấm tranh vừa quét lớp cánh gián vào một buồng sấy nhiệt hồng ngoại để nướng chín cưỡng bức. Nhiệt độ cao làm lớp sơn mặt ngoài cùng bị co rút và đóng rắn đột ngột chỉ trong vòng vài chục phút, trong khi các lớp sơn lót và lớp hom bên dưới vẫn còn ướt và chưa kịp ổn định cấu trúc. Ứng suất nhiệt bề mặt cực lớn đã xé toạc màng sơn cánh gián ra thành những vòng nứt đồng tâm! Ông Lâm, ông không hề mang đến đây một kiệt tác bốn mươi năm tuổi. Ông đang mang đến một "bà già nhân tạo", một tấm vóc công nghiệp bị nướng chín ép trong lò sấy hồng ngoại cách đây chưa đầy vài tháng!
Trương Minh Khang ngồi chết lặng trên ghế. Đôi mắt gã trợn ngược lên, nhìn chòng chọc vào những đường nứt hình chữ U sắc nhọn trên màn hình Eizo. Toàn bộ hy vọng cuối cùng về việc dùng bức tranh thật để giải tỏa khoản nợ khổng lồ bỗng chốc tan thành mây khói. Gã quay sang nhìn Lâm, bờ môi run rẩy lắp bắp: — Lâm... anh Lâm... có thật... có thật như cô Châu nói không? Bức tranh này... bức tranh này bị sấy trong lò thật sao? Không phải... không phải do cụ Diệp vẽ năm 1984 sao? Anh nói gì đi chứ!
Phạm Đức Lâm hoàn toàn phớt lờ sự tồn tại của Khang. Cơ mặt của ông ta khẽ co giật một nhịp rất nhẹ dưới gò má trái. Nụ cười ngạo mạn, trịch thượng ban nãy đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một vẻ mặt lạnh tanh, xám xịt như tro tàn. Bàn tay đeo nhẫn ngọc bích siết chặt lại quanh mép tay vịn chiếc ghế da. Dẫu vậy, con cáo già của thị trường nghệ thuật vẫn cố vớt vát chút thể diện cuối cùng bằng giọng điệu cứng rắn giả tạo:
— Tất cả những thứ vừa rồi... từ phân tích cốt gỗ ép cho đến giả thuyết về buồng sấy nhiệt hồng ngoại... suy cho cùng cũng chỉ là những suy đoán mang tính học thuật của hai chuyên gia phục chế trẻ tuổi háo danh. Các người lấy cái gì làm hệ quy chiếu tuyệt đối? Một mớ lý thuyết vật lý quang học hay những bức ảnh chụp lén trong đêm tối không ai kiểm chứng? Thưa luật sư Thu, bà là người điều hành văn phòng này dựa trên các nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Hình sự. Liệu một vài phân tích hình ảnh phóng đại có đủ tư cách pháp lý để tuyên bố một tác phẩm nghệ thuật thuộc sở hữu hợp pháp của tôi là đồ giả mạo, khi bên nguyên đơn không hề đưa ra được vật đối chứng nguyên bản để đối chiếu trực tiếp?
Nguyễn Hoài Thu khẽ mỉm cười. Nụ cười của nữ luật sư kỳ cựu lạnh lẽo như băng tuyết mùa đông: — Ông Lâm nói rất trúng một nguyên tắc tố tụng cơ bản: chúng ta cần một chứng cứ vật chất mang tính duy nhất, một dấu ấn không thể ngụy tạo và chỉ thuộc về bản gốc duy nhất do cụ Trương Diệp hoàn thành năm 1984. Và chuyên gia Quách Nhật Nam đã chuẩn bị chính xác điều đó để trả lời ông.
Nam gật đầu với luật sư Thu. Anh quay lại bàn phím điều khiển của màn hình Eizo, ngón tay gõ một phím tắt để mở tính năng so sánh song song hai khung hình ở độ phân giải 4K nguyên bản.
— Đây chính là bằng chứng vật lý mang tính kết liễu đối với món đồ trên bàn của ông, ông Lâm, — Nam cất tiếng, âm lượng không lớn nhưng từng lời rơi xuống sàn nhà như những khối chì nặng ngàn cân.
Trên nửa màn hình bên trái, bức ảnh chụp macro góc dưới cùng bên phải, sát mép đáy của bức tranh gốc hiện lên sắc nét. Dưới góc chiếu xiên mười lăm độ, người xem có thể nhìn thấy rõ một chi tiết dị thường: một dải vải sợi gai dệt tay dài đúng một phẩy năm xăng-ti-mét, bề rộng chưa đầy ba milimét, nằm chéo một góc bốn mươi lăm độ ngay góc đáy của tấm vóc.
— Hãy nhìn kỹ vào cấu trúc của dải sợi gai này, — Nam giải thích, đầu bút chỉ vào từng thớ sợi xù xì đang ngậm chặt chất sơn sống. — Khi cụ Bùi Tấn Phúc và cụ Nguyễn An — hai bậc thầy làm vóc lừng danh của xưởng Cây Sơn — thực hiện tấm phôi vóc cho bức tranh thứ mười ba này vào mùa thu năm 1984 theo đơn đặt hàng đặc biệt của cụ Trương Diệp, một nan tre bên trong kết cấu khung xương vóc đã bị hiện tượng "vặn tim" do gỗ mít già ngót không đều sau khi vớt khỏi bùn ao. Sự vặn xoắn cơ học ấy đã tạo ra một vết nứt ngầm dài gần hai phân ở góc dưới bên phải. Một người thợ ẩu sẽ vứt bỏ tấm vóc đó đi, nhưng cụ Bùi Tấn Phúc tiếc tấm phôi gỗ mít đã ngâm bùn sáu tháng ròng rã, nên cụ đã dùng một mẩu vải gai dệt tay tẩm đẫm sơn sống nguyên chất, vá đè chéo lên vết nứt của nan tre, rồi dùng bay thép miết thật chặt cho sợi gai lún sâu vào thớ gỗ trước khi phủ các lớp hom phù sa sông Truồi lên trên.
Nam chuyển sang nửa màn hình bên phải — bức ảnh chụp trực tiếp góc dưới bên phải của bức tranh mà Phạm Đức Lâm vừa mang tới, được chụp bằng chính ống kính macro ấy, dưới cùng một góc chiếu sáng xiên mười lăm độ và cùng một cường độ sáng năm nghìn Kelvin.
— Lớp vá sợi gai lệch mép này là một lỗi ngẫu nhiên mang tính duy nhất trong lịch sử tạo tác của bức tranh *Người Giữ Nền*. Nó đóng vai trò như một "vân tay sinh học" ăn sâu vào địa tầng của tấm vóc nguyên bản, tạo ra một gờ nổi vi mô cao đúng không phẩy một milimét trên bề mặt hoàn thiện — một gờ nổi mà chỉ có ánh sáng xiên góc cực hẹp mới có thể làm lộ diện bóng đổ của nó. Còn bây giờ, tôi xin mời ông Lâm, mời ông Khang và luật sư Thu hãy tự mình nhìn xuống tấm vóc đang nằm trên giá đỡ kia.
Nam cầm ngọn đèn rọi sợi quang, hạ thấp sát mặt thảm dạ đen, chiếu thẳng một luồng sáng xiên quét qua góc dưới bên phải bức tranh của Lâm.
Bề mặt góc tranh hiện lên dưới ánh sáng: phẳng lì, trơn tru, bóng loáng không một tì vết. Lớp sơn then và son chu sa ở góc ấy phản chiếu ánh sáng đều tăm tắp như bề mặt của một tấm gương tráng bạc công nghiệp. Hoàn toàn không có bất kỳ một gờ sợi gai nào gồ lên. Hoàn toàn không có dấu vết của một nan tre bị vặn tim được vá thủ công cách đây bốn mươi năm.
— Tấm vóc của ông quá đỗi hoàn hảo, thưa ông Lâm, — giọng Nam chùng xuống, mang theo một phán quyết tàn nhẫn của sự thật trần trụi. — Những kẻ làm giả bức tranh này đã dựa vào những bức ảnh chụp tư liệu rò rỉ từ phòng tranh của cụ Diệp. Nhưng những bức ảnh chụp thẳng bằng đèn flash thông thường đã triệt tiêu hoàn toàn bóng đổ của gờ sợi gai li ti này. Kẻ làm giả không hề biết đến sự tồn tại của nan tre bị vặn tim, nên đã dùng máy chà nhám công nghiệp để tạo ra một góc vóc phẳng phiu cơ học không tì vết. Và chính sự hoàn hảo nhân tạo đó... chính là bản án tử hình tước đoạt toàn bộ tính xác thực của bức tranh này!
Căn phòng rơi vào một sự câm lặng chết chóc.
Trương Minh Khang run rẩy buông thõng hai tay, cả thân hình gã đổ ụp xuống mặt bàn dạ đen, hai bàn tay bấu chặt lấy mớ tóc rối bù, miệng lẩm bẩm trong cơn hoảng loạn tột cùng: — Hết rồi... Thế là hết thật rồi... Ba mươi tỷ... Tiền đâu ra mà trả... Ba ơi, con giết cả cái nhà này rồi...
Đứng sau lưng Lâm, hai mắt Hoàng Sơn tóe lửa. Bàn tay hộ pháp của gã siết chặt lại thành nắm đấm gân guốc, cơ bắp cuộn lên dưới lớp áo khoác da. Hắn liếc nhanh về phía cánh cửa sổ thông gió hé mở, rồi nhìn chằm chằm vào gáy của Lâm, toàn thân căng cứng như một con thú dữ chờ lệnh phá vây.
Thế nhưng, Phạm Đức Lâm vẫn ngồi bất động như một pho tượng sáp giữa mùa đông.
Ánh sáng trắng lạnh từ dải đèn trần rọi xuống khuôn mặt góc cạnh của người đàn ông quyền lực từng thao túng vô số phiên đấu giá ngầm. Từng thớ thịt trên gò má ông ta giật liên hồi. Chiếc mặt nạ điềm tĩnh, hào hoa và ngạo nghễ mà ông ta dày công tạo dựng suốt mấy chục năm qua trên thương trường mỹ thuật cuối cùng đã rạn vỡ thành trăm mảnh vụn. Đứng trước mặt ông ta lúc này không phải là những nhà sưu tập thừa tiền nhưng mù mờ về kỹ thuật, mà là hai chuyên gia thực thụ nắm giữ từng bí mật của vật liệu, từng thớ gỗ mít, từng sợi chỉ dệt tay của di sản nghệ thuật.
Luật sư Nguyễn Hoài Thu kéo chiếc ghế đối diện Lâm, ngồi xuống một cách uy nghiêm. Bà mở chiếc cặp da đen, rút ra một tập hồ sơ tố tụng đã được đánh máy sẵn và đóng dấu niêm phong:
— Ông Phạm Đức Lâm. Hành vi ngụy tạo tác phẩm nghệ thuật nhằm mục đích tổ chức bán đấu giá trái phép với giá trị bảo lãnh lên tới sáu triệu đô la Mỹ, cấu kết với đối tượng sử dụng giấy tờ ủy quyền giả mạo chữ ký để rút tài sản khỏi kho ngoại quan Gia Định, có dấu hiệu cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự. Những tài liệu và chứng cứ kỹ thuật vừa được lập biên bản tại đây là quá đủ để Viện Kiểm sát phê chuẩn lệnh khởi tố bị can và bắt tạm giam ngay trong đêm nay. Tổ công tác của Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu hiện đang túc trực tại tầng trệt của tòa nhà này, chỉ chờ tín hiệu từ tôi.
Bà Thu đẩy cây bút kim loại cùng tờ biên bản ghi lời khai hợp tác về phía trước mặt Lâm: — Ông chỉ có đúng mười giây để đưa ra quyết định: Hoặc là ông bước ra khỏi căn phòng này để ngồi vào chiếc xe thùng đang chờ sẵn dưới kia với tư cách một kẻ chủ mưu trong vụ đại án lừa đảo mỹ thuật xuyên quốc gia, hoặc là ông hợp tác toàn diện với cơ quan giám định và luật sư đại diện gia đình, giao nộp toàn bộ hồ sơ xuất xứ giả mạo và khai báo sự thật tuyệt đối về đường đi của bức tranh thật!
Lâm nhắm nghiền hai mắt lại. Lồng ngực ông ta phập phồng dữ dội sau lớp áo gile bằng len xám. Mọi toan tính tinh vi, mọi đường dây chuyển tiền ngầm qua các tài khoản bình phong tại Hồng Kông và Singapore, mọi bản hợp đồng thế chấp ba mươi tỷ đồng dùng để trói buộc gã khờ Trương Minh Khang... tất cả đã hoàn toàn sụp đổ chỉ vì một mẩu vải gai vá nan tre dài chưa đầy hai xăng-ti-mét.
Khi Lâm mở mắt ra, tia sáng ngạo mạn trong mắt ông ta đã tắt ngấm, chỉ còn lại sự đục ngầu, mệt mỏi và rệu rã của một kẻ thua cuộc trắng tay.
— Đủ rồi... — Lâm thốt lên, giọng khàn đặc, khô khốc như tiếng củi mục bị bẻ gãy. — Cất cây bút lại đi, bà Thu.
Lâm khẽ nghiêng đầu, đưa tay ra hiệu cho người vệ sĩ phía sau. Hoàng Sơn đứng chôn chân mất vài giây, lồng ngực gã phập phồng vì ức chế, nhưng trước ánh mắt dứt khoát của chủ nhân, gã đành buông lỏng nắm đấm. Hắn thò tay vào trong lớp áo khoác da dày cộm, rút ra một tập hồ sơ bọc bìa da màu xanh đậm có khóa cài bằng đồng, đặt mạnh lên mặt bàn dạ đen phát ra một tiếng *thịch* nặng nề.
— Bức tranh trên giá đỡ kia... quả thực không phải là bức tranh lấy ra từ két sắt phòng tranh của cụ Diệp trong đêm tang lễ, — Lâm cay đắng thừa nhận, từng lời nói thốt ra như tự tay bóc trần sự xảo trá của chính mình. — Nó chỉ là một bản vóc thử nghiệm được tôi đặt hàng từ sáu tháng trước, ngay khi biết tin cụ Diệp bị đột quỵ lần thứ hai và khó qua khỏi. Tôi đã chi ra hơn hai tỷ đồng cho một nhóm thợ phục chế tay nghề cao ở làng nghề ngoài Bắc, cung cấp cho họ những bức ảnh chụp tư liệu rò rỉ từ các cuốn sổ phác thảo cũ của cụ Diệp để dựng lại một phiên bản có độ giống thật cao nhất. Tôi chuẩn bị nó như một quân cờ dự phòng... nhằm mục đích ép hội đồng thừa kế nhà họ Trương phải đồng ý định giá và chia nhỏ bộ tranh để bán lẻ trả nợ.
Lâm run rẩy mở khóa chiếc cặp da xanh. Bên trong là một tập chứng từ lưu trữ nghệ thuật ố vàng, các chứng chỉ thẩm định mang tên một viện nghiên cứu tư nhân tại nước ngoài, và các bản kê khai niên đại tác phẩm có đóng dấu mộc đỏ.
Nam bước tới, dùng nhíp chuyên dụng lật từng trang tài liệu dưới luồng đèn rọi kỹ thuật. Đôi mắt anh nheo lại đầy vẻ khinh bỉ: — Tập hồ sơ xuất xứ này... toàn bộ các dòng chữ ghi niên đại "Tháng 11 năm 1984" đều có dấu vết cạo sửa cơ học rất tinh vi. Lớp mực in sắt nguyên bản đã bị tẩy sạch bằng dung dịch hóa chất gốc clo, sau đó được gõ đè lên bằng một chiếc máy đánh chữ cơ học cổ thập niên 90 để làm giả dấu mộc chứng thực của Hội Mỹ thuật Thành phố. Ông đã cố tình biến một bản chép tranh thử nghiệm thành một tác phẩm có lý lịch lưu trữ hoàn hảo để lừa gạt các nhà đầu tư trong phiên đấu giá kín tối nay.
— Phải, — Lâm gục đầu xuống, giọng nói gần như nghẹn lại. — Tôi muốn dùng phiên đấu giá kín tại Riverside Grand để tạo ra một kỷ lục giao dịch khống trị giá sáu triệu đô la Mỹ, từ đó hợp thức hóa quyền sở hữu bức tranh, đồng thời hợp thức hóa việc cấn trừ toàn bộ số nợ ba mươi tỷ đồng của thằng Khang vào danh mục tài sản của tôi. Nhưng các người... các người đã chặn đứng nó quá nhanh.
Châu không giữ nổi bình tĩnh, cô bước vội lên sát mép bàn, hai mắt long lên sòng sọc nhìn chằm chằm vào Lâm: — Còn bức tranh thật thì sao? Bức tranh mà thằng Huy đã lén lút chuyển vào kho ngoại quan Gia Định lúc bốn giờ ba mươi lăm phút sáng ngày mười tám tháng mười... Chiều nay Hoàng Sơn đã mang giấy ủy quyền đến rút nó ra! Hiện giờ bức tranh thật của ông ngoại tôi đang ở đâu? Ông giấu nó ở chỗ nào rồi?
Lâm ngẩng đầu nhìn Châu. Trên gương mặt nhợt nhạt của người đàn ông buôn tranh bỗng nở một nụ cười méo mó, thảm hại và đầy cay đắng: — Cô nghĩ tôi đang giấu bức tranh thật sao? Cô nghĩ nếu tôi thực sự có bức tranh gốc của cụ Diệp trong tay, tôi lại ngu xuẩn đến mức phải vác cái tấm ván ép nướng trong lò sấy này đến đây để chịu nhục nhã trước mặt một thằng giám định viên vô danh và một con bé phục chế như các người à?
Nam giật thót mình. Một linh cảm chẳng lành vụt lóe lên trong tâm trí anh như một tia chớp xé rách màn đêm: — Ý ông là sao? Nói rõ ra!
Lâm run rẩy chỉ ngón tay đeo nhẫn vào tập chứng từ nằm trong bìa da xanh, nơi kẹp một tờ biên lai giao nhận kho vận thực tế của Công ty Lưu kho & Ngoại quan Gia Định: — Chiều nay, đúng mười bốn giờ ba mươi phút, thằng Sơn mang giấy ủy quyền có chữ ký của thằng Khang đến kho ngoại quan Gia Định để làm thủ tục giải tỏa kiện hàng mang mã định danh D.S.–N.G.N.–8402. Khi nhân viên kho mở khoang lạnh số 3 để bàn giao chiếc hộp gỗ trắc niêm phong, chiếc hộp đó... thực chất chỉ chứa chính bức tranh thử nghiệm bằng ván ép này!
— Cái gì? — Châu thốt lên bàng hoàng, bước chân cô lùi lại một nhịp như vừa bị một cú đấm vô hình giáng vào ngực. — Điều đó là không thể! Chính mắt Mai Quốc Huy đã khai rằng nó đã đóng gói bức tranh thật lấy từ két sắt của ông tôi vào chiếc hộp gỗ trắc bọc khăn nhung đỏ kia mà!
— Thằng Huy đã bị lừa, hoặc chính bản thân nó cũng chỉ là một con tốt thí bị người khác giật dây! — Lâm thở hắt ra một hơi dài, cả người ngả hẳn ra lưng ghế như một kẻ vừa trút bỏ gánh nặng nhưng lại rơi vào một hố sâu tuyệt vọng mới. — Kiện hàng gửi tại kho Gia Định thực chất đã bị đánh tráo từ trước khi nó được nhập vào hệ thống khoang lạnh, hoặc đã có một sự nhầm lẫn chết người trong quá trình điều phối luân chuyển nội bộ. Khi tôi cho mở chiếc hộp ra tại phòng khánh tiết khách sạn Riverside Grand vào lúc mười tám giờ tối nay để chuẩn bị cho buổi gặp gỡ các đại diện quỹ đầu tư, tôi đã suýt phát điên khi nhận ra đây chính là bản vóc thử nghiệm mà nhóm thợ ngoài Bắc gửi vào cho tôi từ ba tháng trước. Ai đó... đã có một kẻ nào đó đi trước chúng ta một bước rất dài! Hắn đã tráo đổi chiếc hộp ngay dưới mũi thằng Huy và chuyển hướng bức tranh thật đi một nơi khác mà không để lại bất kỳ dấu vết nào!
Không khí trong phòng họp chùng xuống, đặc quánh và lạnh lẽo đến rợn người.
Bà Trương Thanh Mai run rẩy đưa chiếc khăn tay thêu hoa lên che miệng, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu tuôn rơi lã chã trên đôi gò má nhăn nheo. Trương Minh Khang ngồi bất động như một cái xác không hồn, đôi mắt đờ đẫn nhìn vào khoảng không vô định trước mặt. Món nợ ba mươi tỷ đồng vẫn còn nguyên đó, nhưng chiếc phao cứu sinh mang tên bức tranh thứ mười ba giờ đây đã hoàn toàn bốc hơi vào cõi hư vô.
Luật sư Nguyễn Hoài Thu nhanh chóng cầm lấy tập hồ sơ xuất xứ đã bị cạo sửa và bản biên lai kho vận của Công ty Gia Định. Ngón tay bà lật nhanh từng trang tài liệu, kiểm tra kỹ lưỡng các con dấu giáp lai, chữ ký của thủ kho và mã vạch lưu trữ in nhiệt trên mép giấy.
— Bản biên lai giao nhận kho vận này ghi nhận rất rõ ràng, — luật sư Thu chỉ đầu bút vào một dòng chữ in kim mờ nhạt nằm ở góc dưới cùng của tờ giấy nhận hàng. — Kiện hàng mang mã số D.S.–N.G.N.–8402 khi được bàn giao tại kho Gia Định vào rạng sáng ngày mười tám tháng mười có kèm theo một phiếu chuyển phát nội địa bổ sung. Tuy nhiên, phần cuống phiếu chuyển phát đã bị xé rời khỏi biên bản lưu kho.
Quách Nhật Nam không nói một lời. Ánh mắt quan sát tỉ mỉ của một chuyên gia giám định hiện trường bắt đầu quét dọc khắp phòng họp. Ánh nhìn của anh lướt qua mặt bàn dạ đen, qua tập hồ sơ da xanh của Lâm, qua gót giày da bóng loáng của Hoàng Sơn, rồi bất chợt dừng lại ở chiếc thùng rác bằng inox sáng bóng đặt nép sát cạnh chân chiếc ghế xoay mà Phạm Đức Lâm đang ngồi.
Bên trong chiếc thùng rác, một mẩu giấy carbon màu vàng nhạt bị vo tròn nằm lăn lóc bên cạnh những mẩu khăn giấy lau kính và tàn thuốc lá chưa châm. Đó chính là mảnh giấy mà Lâm đã tiện tay vò nát và ném đi trong lúc sốt ruột kiểm tra lại các giấy tờ trước khi Nam và Châu bước vào phòng đối chất.
Nam bước vòng qua mép bàn làm việc. Anh không dùng tay trần mà lấy chiếc nhíp gắp mẫu bằng thép không gỉ từ hộp đồ nghề, cúi người xuống gắp mẩu giấy carbon màu vàng ra khỏi thùng rác.
Cẩn thận từng li từng tí, Nam đặt mẩu giấy nhăn nhúm lên mặt thảm dạ đen ngay dưới luồng đèn rọi sợi quang. Dùng hai đầu nhíp phẳng, anh từ tốn vuốt phẳng từng nếp gấp cơ học bị vò nát, mở rộng bề mặt tờ giấy dưới sự chứng kiến nín thở của tất cả mọi người.
Đó là một tờ vận đơn chuyển tiếp hàng hóa đặc biệt của dịch vụ bưu chính ủy thác đường bộ, liên lưu chuyển nội bộ chuyên dụng dành cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và cổ vật dễ vỡ. Dòng chữ viết tay bằng mực bút bi màu xanh trên nền giấy carbon đã bị nhòe một góc do mồ hôi tay của Lâm khi ông ta vò nát nó, nhưng những thông tin cốt lõi nhất vẫn hiện lên vô cùng sắc nét dưới ánh sáng có chỉ số hoàn màu cao:
Mã kiện hàng chuyển tiếp: *DS-CS-8402/POST*. Ghi chú nội dung hàng hóa: *Vóc sơn mài mộc — Kèm mẫu thử Cây Sơn*. Người gửi ủy thác: *Đại diện Văn phòng Di sản (ủy thác qua dịch vụ kho Gia Định)*.
Đọc kỹ tờ vận đơn chuyển tiếp bị Lâm vứt lại trong thùng rác, Nam thấy một mã bưu cục đóng dấu tại thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương.