Bóng Tối Sau Hành LangCh.28 / 30
Chapter 28

Lần Này Không Thiếu Một Người

Đầu dây cáp kim loại bọc một lớp cao su lưu hóa dày sẫm màu giãy giụa bần bật trên mặt sàn thép chống trượt, quất những vệt xám ngoét vào không khí nén đặc quánh trước khi năm ngón tay lấm lem dầu mỡ công nghiệp chộp cứng lấy mấu nối khóa chốt.

Lâm Vy quỳ rạp cả hai đầu gối xuống mặt sàn gồ ghề của khoang đệm số Tám. Dưới lớp vải bạt cách điện của bộ đồ bảo hộ đã sờn rách mép, xương bánh chè của cô tì nghiến lên những gờ thép hình mắt cáo sắc lẹm, buốt nhức từng cơn. Hai hàm răng cô cắn chặt vào nhau đến mức cơ hàm căng cứng, mồ hôi túa ra cay xè nơi khóe mắt, trượt dài theo sống mũi rồi đọng lại thành từng giọt mặn chát nơi mép đệm silicon của mặt nạ dưỡng khí. Cô dồn toàn bộ trọng lượng nửa thân trên, tì cả lồng ngực và khớp vai xuống chiếc cờ-lê định lực dài nửa mét, ép nghiêng đầu khẩu hợp kim vào ngàm cáp đang rung bần bật bởi lực giằng vô hình từ các thớ không gian uốn cong.

Xung quanh ngưỡng cửa rỗng hoác của khoang đệm, tàn dư của lớp bụi oxit đồng từ thực thể hồi âm vừa tan rã vẫn chưa chịu lắng xuống. Chúng lơ lửng như một màn sương tĩnh điện màu hung đỏ mờ đục, dính bám vào các thanh giằng, phát ra những chuỗi âm thanh lách tách li ti như than hồng gặp nước mỗi khi hạt bụi tích điện va quẹt vào lớp vỏ bọc bằng sợi aramid bện chặt. Mùi ozon khét lẹt quyện với mùi gỉ sắt ẩm mốc của mười bảy năm tù hãm xộc thẳng qua van thở than hoạt tính. Không một giây chần chừ, ngón tay cái của Vy miết mạnh, đẩy chốt hãm lò xo cơ học vào đúng rãnh ba nấc.

*Cạch! Cạch! Tách!*

Âm thanh kim loại va đập khô khốc nổ giòn trong không gian hẹp. Mấu kẹp ba chấu bằng hợp kim đồng-beryl—loại vật liệu chịu mỏi cực cao không sinh tia lửa điện—ngậm phập vào cọc tiếp địa phụ trợ. Cọc đồng này đã được Đinh Hòa đóng sâu nửa mét vào sống dầm chịu lực chính của khoang đệm từ nhiều chu kỳ trước, xuyên qua lớp bê tông xỉ quặng để bám thẳng vào khung xương thép nguyên thủy của trạm.

Khoảnh khắc mạch tiếp xúc kim loại khép kín hoàn toàn, tạo nên một đường dẫn thô bạo nhưng bất khả dịch nối thẳng vào lòng trạm, một xung chấn cơ học thuần túy giật ngược dọc theo chiều dài ba trăm mét của sợi cáp đồng 1,2 mm. Sợi dây đang rung bần bật bỗng căng phắt ra như dây đàn đại phong cầm. Trên mặt chiếc đồng hồ vạn năng dã chiến bọc vỏ cao su chống sốc đặt nghiêng bên bệ cửa, vạch kim cơ học nhảy giật lùi từ ký hiệu vô cực, đập dứt khoát về mức 0,18 ohm. Đó không phải là một con số tượng trưng—đó là giá trị điện trở thuần của một trục vật lý toàn vẹn vừa xuyên thủng qua các nếp gấp méo mó của Vùng Chồng, xác lập một tọa độ thực không thể bị bóp méo giữa lòng hư vô.

Vy cúi rạp người xuống sát ngàm kẹp, kề sát vành môi nứt nẻ vào ống truyền âm màng rung cơ học bằng đồng thau gắn chết ở đầu mấu cáp. Tiếng cô qua màng kim loại rung lên đanh gọn, không một chút tạp âm điện tử:

“Anh An! Em đã khóa cọc tiếp địa khoang Tám! Ba nấc đã sập lẫy! Dây căng tối đa, mạch kín hoàn toàn, điện trở 0,18 ohm, không có suy hao từ trường! Đưa người của anh vào ngay, trước khi áp suất khoang trôi dạt!”

Cách đó chừng ba mươi mét theo đường chim bay—nếu như không gian ở đây còn giữ được sự phẳng lặng của hình học Euclid—nhưng lại bị ngăn cách bởi ba khúc gãy vặn xoắn kỳ dị của Hành lang số Không, Lâm An đang đứng chôn chân trên một tấm sàn thép nghiêng mười lăm độ. Bàn tay đeo găng da bò thuộc dày cộp của anh nắm chặt lấy đoạn cáp đồng vừa rung lên bần bật.

Xung động cơ học truyền qua lớp cốt thép aramid không phải là những dao động điều hòa nhân tạo sinh ra từ các biến tần điện từ giả mạo. Nó là ba nhịp gõ ngắn, tiếp nối bằng ba nhịp gõ dài dằn mạnh, rồi lại ba nhịp ngắn dứt khoát. Đó là mật mã thợ máy của xưởng cơ khí gia đình họ từ ba thập kỷ trước, thứ tín hiệu không một thực thể lặp nào trong Vùng Chồng có thể tái tạo nếu không có một bàn tay sống bằng xương bằng thịt ghì búa gõ vào đe.

“Tín hiệu tiếp đất đã thông suốt,” Lâm An ngoái đầu lại sau lưng, giọng nói trầm và đặc quánh hơi ẩm dội vào lớp kính quan sát của mặt nạ phòng hộ. Anh hướng về phía bóng đen đang đứng áp lưng vào góc dầm chịu lực phía sau đúng ba bước chân. “Điện trở đáy ổn định. Không có hiện tượng trễ xung hay biến dạng sóng phản xạ. Điểm Neo số Một đang ghim chặt toàn bộ chiều dài tuyến cáp này vào mặt phẳng thực của thân trạm.”

Bùi Duy không đáp ngay. Khẩu súng xung kích trên tay anh vẫn nằm ở tư thế sẵn sàng bắn, mũi nòng chúc xuống một góc ba mươi độ hướng về khoảng tối mù mịt của ngách rẽ chữ T. Ngón tay trỏ của anh hơi nới lỏng khỏi vành bảo vệ của chốt an toàn cơ học, nhưng toàn bộ cơ bắp trên bả vai và gáy vẫn căng như dây chão. Đôi mắt sắc lạnh của người đội trưởng cứu hộ quét dọc theo các đường gân thép rỉ sét trên vách ngăn, nơi những giọt nước ngưng tụ đang chầm chậm chảy tràn qua lớp sơn lót màu vàng nghệ đã bong tróc từng mảng lớn.

Anh liếc nhanh xuống mặt chiếc đồng hồ cơ khí bấm giờ đeo ngoài cổ tay áo bảo hộ. Ba chiếc kim thép xanh vẫn nhích từng nấc cơ học dưới mặt kính khoáng dày cộp: *06:24:15*.

Chu kỳ điện đêm của trạm đang trôi về những phút cuối cùng. Từng giây trôi qua khô khốc, mang theo sự đe dọa vô hình về một đợt đảo pha từ trường cục bộ có thể quét sạch mọi cấu trúc tạm bợ nếu hệ thống neo không kịp khép kín chu trình.

“Đi thôi,” Bùi Duy gằn giọng qua màng lọc khí. Luồng hơi thở nóng của anh phả ra ngoài van xả, lập tức ngưng tụ thành một vệt sương trắng mỏng rồi biến mất trong bầu không khí lạnh ngắt có áp suất chỉ đạt 42 kPa của vùng chuyển tiếp. “Cuộn cáp số Một đã xả hết tầm. Tôi bọc hậu, cậu dẫn đầu tuyến. Bám sát mặt sàn, tuyệt đối không bước chệch khỏi lằn ranh sợi cáp dù chỉ nửa bước chân. Giữ mắt nhìn thẳng vào vệt kim loại!”

Lâm An gật đầu, siết lại quai đeo túi đồ nghề bên hông rồi xoay người bước tới. Bước chân của hai người đàn ông nện xuống mặt sàn thép vang lên những tiếng *cộp... cộp...* nặng nề và dứt khoát. Dưới đế ủng đinh thép chuyên dụng dùng cho môi trường chân không, sợi cáp aramid màu vàng sẫm bị miết chặt xuống rãnh sàn gỉ sét. Sợi dây cáp đồng ấy lúc này không đơn thuần là một sợi dây kim loại vô tri; nó là một chiếc sống lưng bằng đồng kéo căng qua hư vô, vạch ra ranh giới duy nhất giữa thực tại vật chất rắn rỏi với những khoảng trống không đáy của các khúc gấp không gian lặp.

Khi họ vượt qua khúc ngoặt thứ hai—nơi một khung dầm chữ I bị lực cắt không gian vặn xoắn thành một góc kỳ dị như một cành cây gãy—những mảng oxit đồng sẫm màu dưới chân họ rạn vỡ, rơi lả tả xuống sàn như vảy gỉ sắt khô giòn. Đó là tất cả những gì còn sót lại của thực thể hồi âm vừa mang nhân dạng của chính Bùi Duy mười phút trước. Khi bị lột trần bằng cú đoản mạch tiếp địa của Lâm An, nó đã sụp đổ hoàn toàn. Dưới ánh đèn pin đội đầu, lớp tro kim loại ấy không hề có một giọt máu, không có bất kỳ tế bào hữu cơ hay sợi collagen nào của cơ thể sống. Nó chỉ là một lớp cặn vô cơ xám xịt pha lẫn mạt đồng bị nung chảy cục bộ, bốc lên mùi khí ozon xộc buốt lên tận hốc mũi.

Lâm An bước qua đống tro bụi ấy không một chút do dự. Ánh đèn pin cơ học gắn trên vai áo anh quét một luồng sáng vàng ấm áp xuyên qua ngưỡng cửa của khoang đệm số Tám.

Cánh cửa khoang bằng thép đúc dày mười phân vẫn giữ nguyên trạng thái đóng kín ngàm cơ học bằng hệ thống then cài chữ thập. Phía sau tấm kính quan sát nhỏ bằng bàn tay đã bị ố mờ vì muối kiềm, ba mươi bóng người gầy guộc, xơ xác đang nép chặt vào nhau dưới những thanh giằng chịu lực của vách ngăn áp lực. Ba mươi gương mặt hốc hác, tái nhợt như những bức tượng thạch cao, với những đôi mắt mở to thảng thốt. Trong đáy mắt họ là nỗi kinh hoàng nguyên thủy đã tích tụ suốt mười bảy năm đằng đẵng—mười bảy năm bị giam hãm trong một khoang rỗng biệt lập, không ánh sáng tự nhiên, sống dựa vào những bánh lương khô tái chế và từng ngụm nước lọc qua ba tầng màng thẩm thấu đã thủng lỗ chỗ.

Đinh Hòa đứng tựa lưng vào vách tôn mạ kẽm ở góc khoang. Lồng ngực người kỹ sư già phập phồng từng cơn ngắt quãng, mỗi nhịp thở dường như đều cào rách cuống họng ông. Một bàn tay gầy guộc, chằng chịt những vết sẹo bỏng hồ quang của ông đang ôm chặt lấy mạng sườn trái—nơi một mảnh hợp kim từ vụ nổ năm xưa vẫn còn nằm im lìm sát màng phổi. Bàn tay còn lại của ông giữ chặt lấy chiếc đồng hồ bấm giây cơ khí vỏ đồng thau. Tiếng bánh răng hồi chuyển bên trong lớp vỏ kim loại ấy vẫn gõ nhịp *tách... tách... tách...* đều đặn, khô khốc nhưng bền bỉ như nhịp đập của một trái tim bằng thép.

Bên cạnh ông, Lâm Vy đứng sừng sững như một chiếc cọc tiêu. Bộ đồ bảo hộ lao động màu xám tro của cô bị cào rách một mảng lớn ở bả vai trái, để lộ lớp vải lót chống cắt màu trắng đục. Hai bàn tay cô vẫn nắm chặt chiếc cờ-lê định lực đặt ngang trước ngực, mũi ngàm hợp kim hướng về phía cửa như một thứ vũ khí phòng vệ cuối cùng sẵn sàng giáng xuống bất kỳ thứ gì dám bước qua ranh giới tiếp địa.

Khi bóng hình cao lớn của Lâm An hiện ra sau ngưỡng cửa, với đầu dây cáp đồng bọc aramid móc trực tiếp vào chiếc khóa chữ D bên hông đai an toàn, đôi vai căng cứng của Vy khẽ chùng xuống. Cô thở hắt ra một hơi dài run rẩy, làm mờ đi lớp kính bảo hộ, nhưng ánh mắt cô lập tức lấy lại sự sắc lạnh kiên định vốn có.

“Anh Hai.”

“Anh đây,” Lâm An bước qua bậu cửa thép, tháo chiếc găng tay bảo hộ dày cộp bên tay phải ném xuống sàn. Anh vươn những ngón tay chai sần, bám đầy dầu mỡ và bụi kim loại áp chặt lên bờ vai lành lặn của em gái.

Hơi ấm da thịt truyền qua lớp vải bạt dày. Cảm giác run rẩy rất khẽ nhưng nhịp nhàng của một cơ thể sống, của những đường gân máu đang đập rộn rã dưới lớp biểu bì, xua tan ngay lập tức mọi bóng ma lạnh lẽo của Vùng Chồng đang lẩn khuất ngoài hành lang.

“Không còn hình nhân nào ngoài kia nữa,” Lâm An nói, giọng anh trầm ấm nhưng dứt khoát như một mệnh lệnh thi công. “Dây tiếp địa đã cắm sâu vào xương trạm. Chúng ta đưa mọi người về nhà.”

Bùi Duy sải bước tiến qua cửa khoang, đôi ủng thép dẫm mạnh lên bậu cửa. Anh không lãng phí một giây nào cho những cái ôm hay lời an ủi. Giọng nói mang âm hưởng đanh thép của một chỉ huy đội cứu nạn lập tức bao trùm lấy không gian ngột ngạt của khoang đệm:

“Toàn bộ cư dân chú ý! Giữ nguyên vị trí tại chỗ! Tuyệt đối không ai được tự ý mở khóa an toàn cá nhân hay bước ra khỏi phạm vi tấm sàn tiếp địa!”

Ánh mắt anh lướt nhanh qua từng nhóm người đang co cụm, phân loại tình trạng thể chất của họ chỉ trong vài tích tắc:

“Chúng ta sẽ di chuyển theo quy chuẩn thám sát khẩn cấp cấp độ Bốn: mỗi lượt di chuyển đúng năm người. Móc khóa an toàn cá nhân chữ D phải được bấm trực tiếp vào sợi cáp đồng tiếp địa đang căng dưới sàn. Người đi sau cách người đi trước đúng một sải tay, giữ chặt dây liên kết. Khi bước ra ngoài, đầu luôn cúi thấp, mắt chỉ được phép nhìn chăm chú vào gót giày của người phía trước và vệt cáp kim loại dưới chân! Tuyệt đối không ngẩng đầu nhìn lên trần dầm, không nhìn vào các ngách rỗng hai bên vách ngăn, và đặc biệt: không được lắng nghe hay đáp lại bất kỳ âm thanh nào vang lên từ các đường ống thông gió!”

Lâm Vy lập tức hạ chiếc cờ-lê định lực xuống, cùng Đinh Hòa bắt tay vào việc chia nhóm theo danh sách quản lý cư dân mà ông lão đã thuộc nằm lòng suốt mười bảy năm qua.

Năm người đầu tiên bước ra khỏi hàng là hai cụ già bị thoái hóa khớp háng nặng nề do thiếu trọng lực và ba người phụ nữ đang trong tình trạng suy kiệt, môi tím tái vì thiếu oxy mãn tính. Lâm An quỳ một gối xuống sàn, đích thân đón từng chiếc móc hợp kim nhôm-titan từ thắt lưng của họ, đưa vào thân cáp aramid rồi bóp mạnh lẫy khóa.

*Tách. Tách.*

Tiếng lò xo hồi vị của từng chiếc móc bấm vang lên đanh gọn trong bầu không khí tĩnh mịch. Mỗi tiếng *tách* là một chiếc mỏ neo của sự sống được ghim chặt vào thực tại vật lý.

“Bác Ba, nhìn vào chân cháu,” Lâm An nắm lấy cánh tay gầy trơ xương của một người đàn ông tóc bạc trắng, đôi chân ông lão đang run rẩy bần bật trong đôi ủng cũ kỹ được chắp vá bằng nhiều lớp săm cao su xe tải. “Đế ủng của bác cứ đặt thẳng lên sợi dây đồng này mà bước. Chừng nào lòng bàn chân bác còn cảm nhận được gờ kim loại và xung rung của trạm, không gian xung quanh có vặn xoắn thế nào cũng không thể nuốt chửng được bác.”

Đoàn người sơ tán bắt đầu nhích từng bước rời khỏi ngưỡng cửa khoang đệm số Tám.

Khung cảnh của Hành lang số Không mở ra trước mắt họ như một vết nứt địa chấn bị đóng băng giữa lưng chừng các chiều kích. Hai bên vách thép dày đặc những đường ống kỹ thuật uốn lượn ngoằn ngoèo, nhiều đoạn ống bỗng nhiên đứt gãy giữa không trung rồi lại xuất hiện ở một vị trí cách đó vài mét theo một góc nghiêng không tưởng. Không gian ở đây không tối hoàn toàn mà chập chờn một thứ ánh sáng tán xạ màu xám tro nhờ nhờ, lạnh lẽo.

Thỉnh thoảng, từ sâu thẳm trong các hốc tối của trần dầm và các ngách kỹ thuật phụ trợ, những luồng gió lạnh buốt mang theo áp suất âm rít lên từng hồi ma quái. Trong tiếng rít ấy lẫn lộn những tạp âm nhại lại đầy quỷ quyệt: tiếng còi báo động xé ruột của thảm họa vỡ vách ngăn mười bảy năm trước, tiếng kim loại bị xé rách ken két, và cả những tiếng gọi tên thân thuộc—tiếng người mẹ gọi con, tiếng người chồng gọi vợ—bằng những ngữ điệu méo mó, ngân dài như tiếng vọng từ đáy giếng sâu. Những luồng sóng âm giả tạo ấy cố vươn những chiếc vòi vô hình ra mặt sàn, tìm cách đánh lạc hướng tâm trí của những kẻ đang run rẩy bước đi.

Nhưng sợi cáp đồng bọc aramid đang nằm thẳng băng dưới sàn nhà, nối dài từ khoang Tám về thẳng Điểm Neo số Một, đóng vai trò như một thanh ray định hướng tuyệt đối kiên cố.

Dưới bước chân chậm rãi nhưng dồn dập của đoàn người sơ tán, mỗi lần gót ủng đinh thép giẫm qua một ngạch cửa hay một khúc nối dầm, lớp bụi dẫn đặc thù tích tụ trên mặt sàn lại bị nghiền nát dưới áp lực cơ học. Đó là một hỗn hợp vật chất phức tạp: oxit đồng nung chảy từ các đợt đoản mạch hồ quang, mạt silicate thô vỡ vụn từ lớp cách nhiệt của vách ngăn, và những giọt dầu bôi trơn gốc flo-silicon đã khô cứng qua năm tháng. Dưới ma sát của những đế giày di chuyển liên tục, hỗn hợp ấy bị mài phẳng, để lại một vệt hằn xám bạc sáng rõ, thẳng tắp dọc theo tuyến cáp.

Không một ai bước lệch ra ngoài vệt sáng xám bạc ấy. Không một ảo ảnh âm thanh nào có thể bẻ cong bước chân của họ, bởi lẽ ở đầu bên kia của sợi cáp, máy phát trường ổn định của Điểm Neo số Một đang liên tục phóng ra những xung sóng điện từ tần số thấp đồng bộ với nhịp rung cơ học, tạo thành một lá chắn hình ống vô hình bao bọc lấy toàn bộ tuyến đường, triệt tiêu mọi nỗ lực bẻ cong cấu trúc không gian của Vùng Chồng.

Năm người của nhóm đầu tiên vượt qua vách ngăn số Bảy an toàn. Móc khóa trượt trên dây cáp phát ra tiếng *rẹt... rẹt...* đều đặn.

Tiếp đó là nhóm thứ hai gồm những thanh niên mang vác tài liệu kỹ thuật cũ; nhóm thứ ba là những gia đình có phụ nữ mang thai; nhóm thứ tư là những thợ máy còn sót lại của kíp trực cũ. Bùi Duy cùng Lâm Vy trực tiếp áp tải nhóm thứ năm, vừa đi vừa liên tục kiểm tra lực căng của các vòng dây liên kết.

Lâm An và Đinh Hòa đi cùng nhóm thứ sáu—nhóm cuối cùng rời khỏi khoang đệm số Tám. Người kỹ sư già bước đi xiêu vẹo, lồng ngực ông phát ra những tiếng rên rỉ khò khè như một chiếc ống bễ rách. Từng búng máu tươi sẫm màu trào ra khóe miệng, thấm ướt đẫm qua ba lớp vải lọc của chiếc mặt nạ dã chiến, nhưng đôi mắt mờ đục của ông không hề rời khỏi mặt số đồng hồ cơ đang cầm trên tay.

Mỗi tiếng gõ *tích tắc* của con lắc kim loại là một chiếc búa nện vào tâm trí ông, nhắc nhở rằng thời gian mà họ đang thở là thời gian thực của trạm, sự sống mà họ đang nắm giữ là sự sống hữu cơ được tạo thành từ xương thịt và tế bào, không phải là những hình nhân hồi âm rỗng tuếch sinh ra từ sự giao thoa sóng phản xạ của những chiều kích gãy vụn.

Khi nhóm cuối cùng vượt qua khúc ngoặt cuối cùng của Hành lang số Không và bước vào bán kính bảo vệ mười mét của Điểm Neo số Một, một luồng ánh sáng vàng ấm áp rực rỡ từ những bóng đèn sợi đốt công nghiệp công suất lớn đột ngột ập vào mắt họ.

Cùng với ánh sáng là tiếng rù rù êm ái, trầm hùng và ổn định của máy phát trường trọng lực nhân tạo. Âm thanh ấy đối với những kẻ vừa thoát khỏi cõi chết không khác gì khúc ca khải hoàn của sự sống trần thế.

Trường lực của Điểm Neo số Một lúc này đang vận hành ở mức công suất cực đại 100%. Cuộn cảm ứng lõi ferit-oxit đồng phát ra một từ trường xoay tròn ổn định, tạo thành một bức tường biên giới vô hình nhưng vững chắc như một khối thép đúc. Khi từng người trong số ba mươi cư dân của Khoang Lặng bước qua lằn ranh kim loại sáng rõ trên mặt sàn, không có bất kỳ tiếng nổ lách tách hay tia hồ quang phân rã nào bùng lên.

Họ không biến thành những đám tro bụi vô cơ như trường hợp của thực thể giả mạo Đỗ Minh trong những chu kỳ trước. Thay vào đó, ánh đèn trạm rọi trần trụi vào những dấu vết tàn khốc của sinh học: da thịt họ nhăn nheo, sạm xịt vì thiếu thốn ánh sáng mặt trời; các khớp ngón tay và khớp đầu gối biến dạng, sưng to vì phải chống chọi với môi trường vi trọng lực và áp suất thấp trong thời gian quá dài; lồng ngực họ thở dốc, từng nhịp phập phồng đau đớn vì nồng độ dưỡng khí trong phế nang đang chạm ngưỡng đáy. Họ vượt qua ngưỡng cửa kiểm soát hoàn toàn nguyên vẹn—những con người bằng xương bằng thịt trở về với thế giới thực tại mà không hề bị không gian nuốt chửng hay xé rách.

Ngay phía sau vòng bảo vệ của Điểm Neo số Một, khu vực tiếp nhận dã chiến của Bệnh xá Mười Hai đã được thiết lập hoàn chỉnh từ trước đó ba giờ đồng hồ.

Bác sĩ Hạ Nhiên đứng ở vị trí tiền trạm của hàng rào khử khuẩn. Khoác bên ngoài bộ đồ bảo hộ chì nặng nề là chiếc áo choàng y tế kháng khuẩn màu xanh thẫm đã ngả màu vì dung dịch sát trùng. Đôi mắt cô bình thản, sắc bén như một lưỡi dao mổ, liên tục quét qua thể trạng của từng nạn nhân vừa được dìu qua vạch sơn vàng. Đội ngũ y tá và kỹ thuật viên y tế dưới quyền cô lập tức hành động, nhịp nhàng và chính xác như những bánh răng trong một cỗ đồng hồ cơ.

“Cấp dưỡng khí áp lực dương ngay lập tức!” Giọng Hạ Nhiên vang lên qua loa phóng thanh nội bộ, dứt khoát và không cho phép bất kỳ sự chậm trễ nào. “Mỗi cá nhân một bình oxy dã chiến ba mươi lít! Đặt van giảm áp ở mức một phẩy hai atmosphere, nồng độ oxy chuẩn hai mươi mốt phần trăm! Tuyệt đối không được tháo mặt nạ để họ hít thở không khí tự do của hành lang lúc này—phế nang của họ đã thích nghi với mức áp suất bốn mươi hai kilopascal suốt mười bảy năm, việc tăng áp đột ngột sẽ làm vỡ toàn bộ mao mạch phổi!”

Những bình dưỡng khí bằng hợp kim nhôm sáng loáng được các nhân viên y tế thoăn thoắt lắp đặt. Tiếng van xả khí *xì... xì...* vang lên đều đặn khắp khu vực tiếp nhận.

Hạ Nhiên bước nhanh tới bên cạnh Đinh Hòa, người vừa quỵ hẳn hai đầu gối xuống sàn thép ngay khi bước chân ông vừa vượt qua lằn ranh neo. Cô quỳ xuống, một tay đỡ lấy bờ vai gầy guộc của người kỹ sư già, tay kia rút chiếc ống nghe cơ học bằng đồng áp chặt vào khoang liên sườn bên trái của ông. Qua màng rung kim loại, cô lắng nghe tiếng rì rào phế nang thô ráp, kèm theo tiếng lạo xạo bất thường như tiếng lá khô bị vò nát ở đáy phổi.

“Tràn khí màng phổi tái phát mức độ nặng,” Hạ Nhiên quay sang người y tá phụ tá đứng cạnh, giọng nói vẫn giữ được sự bình tĩnh đến lạnh lùng. “Mang bộ chọc hút dẫn lưu màng phổi số Ba lại đây ngay! Chuẩn bị một ống thông mười sáu gauge! Tiêm tĩnh mạch chậm tám mươi miligam kháng sinh phổ rộng và mười miligam morphin giảm đau. Nhanh lên!”

Cô quay lại nhìn Đinh Hòa, ánh mắt dịu đi đôi chút sau lớp kính bảo hộ:

“Ông Hòa, nghe tôi nói rõ không? Ông làm tốt lắm rồi. Đừng cố nói nữa. Ông đã về đến trạm an toàn rồi.”

Những ngón tay run rẩy, gầy guộc của Đinh Hòa nắm chặt lấy ống tay áo choàng y tế của Hạ Nhiên. Từ khóe mắt nhăn nheo hằn sâu những rãnh thời gian của người đàn ông già nua, hai giọt nước mắt đục ngầu ứa ra, lăn dài qua lớp bụi bám trên gò má rồi rơi xuống sàn thép. Cổ họng ông nghẹn lại, chỉ thốt lên được những âm thanh đứt quãng:

“Bác sĩ... bác sĩ Hạ... đủ... đủ ba mươi người... Danh sách... không thiếu một tên... Lần này... chúng ta không bỏ lại ai... không một ai cả...”

Cách đó vài bước chân, Đỗ Minh thật—chân trái vẫn còn mang chiếc nẹp hợp kim titan cố định kéo dài từ đùi xuống mắt cá, tay chống một chiếc nạng nhôm dã chiến—đang cùng mẹ mình là bà Vũ Sương phát từng tấm chăn giữ nhiệt mạ bạc cho những đứa trẻ sinh ra trong lòng Khoang Lặng.

Khi nhìn thấy hình ảnh chiếc nẹp titan sáng rõ trên tấm phim chụp X-quang cầm tay mà Hạ Nhiên vừa giơ lên ngược sáng để kiểm tra một ca gãy xương đòn cũ cho một thiếu niên, Đỗ Minh khẽ siết chặt lấy bàn tay thô ráp của mẹ. Chiếc nẹp titan ấy, cùng những vết sẹo mô xơ lồi lõm trên bắp chân anh, là bằng chứng vật chất sống động nhất: cơ thể con người mang theo những tổn thương, những vết cắt cơ học và ký ức của nỗi đau thể xác—thứ mà không một cấu trúc sao chép nào của Vùng Chồng có thể tái tạo hoàn hảo trên những khối tro oxit đồng rỗng tuếch.

Trong khi khu vực tiếp nhận của bệnh xá đang hối hả giành giật từng nhịp thở cho các nạn nhân, Lâm An bước tới đứng cạnh Bùi Duy bên cạnh bệ máy của Điểm Neo số Một. Ánh mắt cả hai người đều đổ dồn về phía bảng đồng hồ đo công suất toàn tuyến đang nhấp nháy những vệt sáng đỏ cảnh báo. Cả hai người đều hiểu rất rõ rằng cuộc giải cứu ba mươi con người này mới chỉ là nửa đầu của một phương trình sinh tử.

Tuyến ống kỹ thuật 11-C đã sụp đổ hoàn toàn sau vụ nổ rút lui. Điểm neo giữ duy nhất còn lại cho toàn bộ mạng lưới phân phối lực của phân khu B—Điểm Neo số Hai đặt tại tầng Mười Bốn—hiện tại chỉ còn là một đống phế tích cháy đen do khối lệnh phá hoại ngầm của Phạm Khang kích hoạt.

“Chúng ta phải khôi phục Điểm Neo số Hai ngay trong chu kỳ này,” Bùi Duy đưa mu bàn tay quệt ngang vệt mồ hôi đọng trên trán, vô tình để lại một vệt muội than dài cắt ngang gò má góc cạnh. “Khoảng cách giữa chu kỳ điện đêm và điện ngày chỉ còn chưa đầy bốn mươi phút. Nếu không có Điểm Neo số Hai ghim lại trục chịu lực tầng Mười Bốn trước khi dòng điện đổi chiều, độ lệch từ thông sẽ tạo ra một lực xoắn cực đại giật sập toàn bộ Điểm Neo số Ba và số Bốn. Khi cấu trúc phân khu B mất cân bằng ba điểm, Khoang Lặng và toàn bộ các khoang lân cận sẽ bị nghiền nát thành bột vụn trong nếp gấp không gian.”

“Tôi... tôi đi với các cậu,” Đinh Hòa thều thào từ trên chiếc cáng cứu thương, cánh tay vừa được gắn kim truyền dịch cố gạt tay người y tá đang giữ chặt ngực ông. Dù cơn đau từ màng phổi bị rách khiến trán ông vã mồ hôi hột, người kỹ sư già vẫn kiên quyết nhổm dậy. “Tôi là người duy nhất... nắm rõ thông số cảm ứng từ... của cuộn sơ cấp trên khung kim loại đời đầu... Không có bảng bù trừ từ thông của tôi... các cậu cắm điện vào chỉ làm cháy thêm một khối máy nữa thôi... Bùi Duy... cậu có... có cuộn dẫn dự phòng thật không?”

Bùi Duy cúi người xuống, nhìn thẳng vào mắt Đinh Hòa rồi gật đầu dứt khoát. Anh xoay người, vỗ mạnh bàn tay đeo găng vào chiếc hộp hợp kim titan vuông vức đang được hai thợ máy thuộc Đội Neo cẩn trọng đặt trên một chiếc xe đẩy tay:

“Cuộn cảm ứng đồng oxit nano CL-NEO-04 nguyên bản. Thiết bị này được lấy trực tiếp từ kho niêm phong vật tư đặc biệt của Ủy ban Cứu trợ khẩn cấp, có đầy đủ ba chữ ký kiểm định độc lập của kỹ sư Liên và Mai Chi trên lớp chì niêm phong. Đây là hàng chuẩn của xưởng đúc trung tâm, không phải khối nhôm phế liệu quấn dây tạp chất mà Khang từng tráo đổi vào hệ thống.”

Mười lăm phút sau, tại ngách kỹ thuật tầng Mười Bốn dẫn thẳng vào phòng máy của Điểm Neo số Hai.

Không khí ở đây nồng nặc mùi nhựa phenolic cháy khét lẹt quyện với mùi hồ quang điện nung chảy các linh kiện bán dẫn. Hộp điều khiển mang mã hiệu CTRL-BOX-02 đã bị phá hủy hoàn toàn sau khi khối lệnh ngầm SRV_MAINT_SEC02 kích hoạt lệnh xả quá áp từ hệ thống tụ điện chính. Cả một mảng tường thép chịu lực phía sau hộp máy bị thiêu rụi thành một màu đen xám xịt, những vệt kim loại bắn tung tóe bám chặt vào vách ngăn như những chùm rễ cây chết khô. Lõi đồng oxit cũ bên trong khung máy đã biến thành một khối xỉ lỏng đông cứng méo mó, bốc khói nghi ngút.

Bùi Duy và Đinh Hòa lập tức bắt tay vào việc, không lãng phí dù chỉ một chuyển động thừa.

Dưới sự chỉ dẫn bằng giọng nói ngắt quãng nhưng chuẩn xác đến từng góc độ của Đinh Hòa—người đang ngồi tựa vào một thùng đồ nghề với ống dẫn lưu màng phổi đang liên tục hút dịch ra một bình chứa thủy tinh—Bùi Duy dùng kìm cắt thủy lực hạng nặng cắt đứt toàn bộ các đoạn cáp pha sơ cấp đã bị nhiệt độ cao làm biến tính lớp vỏ bọc. Lâm An quỳ rạp bên khung máy, dùng một chiếc giũa thép bản rộng đánh mạnh vào các cọc tiếp xúc kim loại, cạo sạch lớp muội than và xỉ hàn bám dày, để lộ ra lớp đồng đỏ nguyên chất sáng loáng bên dưới.

Chiếc hộp titan niêm phong được bật mở bằng chìa khóa lục giác đặc chủng.

Bên trong lớp xốp chống sốc định hình, cuộn cảm ứng nano CL-NEO-04 hiện ra hoàn hảo. Hàng nghìn vòng dây đồng oxit nano siêu mịn được bọc một lớp men cách điện màu cánh gián bóng loáng, cuộn chặt chẽ quanh một lõi gốm từ tính màu xanh đen. Hai người thợ máy cẩn trọng nâng khối thiết bị nặng gần bốn mươi kilôgam lên, căn chỉnh chính xác từng rãnh trượt rồi ấn mạnh vào khung đỡ kim loại của Điểm Neo số Hai.

*Cạch.*

Tiếng khóa ngàm cơ học ăn khớp vang lên giòn giã.

Bùi Duy cầm lấy chiếc cờ-lê định lực, tra đầu khẩu vào từng chiếc bu-lông lục giác cỡ mười tám. Anh siết chặt từng con ốc theo đúng sơ đồ hình chữ thập đối xứng để đảm bảo lực ép phân bố đều trên mặt tiếp xúc. Mỗi lần cánh tay anh gồng lên, tiếng *tách* báo hiệu lực siết đạt đúng giá trị quy chuẩn 35 N·m lại vang lên dứt khoát.

Đinh Hòa cầm chiếc đồng hồ đo điện trở cách điện, ấn que đo mạ vàng vào từng cọc tiếp điểm, giọng ông run rẩy đọc to từng thông số:

“Ốc số Một: 35 N·m. Điện trở cách điện: 120 megaohm. Đạt chuẩn!”

“Ốc số Hai: 35 N·m. Tiếp địa vỏ máy: 0,05 ohm. Hoàn hảo!”

“Ốc số Ba... ốc số Bốn... toàn bộ ngàm chịu lực đã khóa cứng!”

Khi con ốc cuối cùng được niêm phong bằng sơn đỏ đánh dấu, Bùi Duy hít một hơi sâu, vươn tay nắm chặt lấy chiếc cần gạt cầu dao cấp nguồn phụ trợ—đường dây bypass khẩn cấp vừa được kéo nối trực tiếp từ Điểm Neo số Một sang.

Anh dằn mạnh cần gạt xuống vị trí đóng mạch.

*Rắc!*

Một tia lửa điện nhỏ màu xanh lam lóe lên bên trong buồng dập hồ quang chân không. Ngay sau đó, một âm thanh trầm thấp, mạnh mẽ và sâu thẳm—*u... u... u...*—bắt đầu vang lên từ lòng cuộn cảm ứng nano mới được lắp đặt. Âm thanh ấy rung chuyển nhẹ nhàng qua sàn thép, truyền thẳng vào lòng bàn chân của những người đang đứng trong ngách kỹ thuật.

Trên mặt bảng điều khiển phụ trợ, chiếc kim đồng hồ đo từ thông cơ học rung lên bần bật rồi bật dậy dứt khoát, kim chỉ dừng lại chính xác ở con số 1,02 tesla—chỉ số cảm ứng từ chuẩn mực của một điểm neo hoạt động ở trạng thái lý tưởng.

Ngay khoảnh khắc ấy, sự rung giật méo mó của các vách ngăn tầng Mười Bốn bỗng nhiên dừng bặt. Những tiếng cọt kẹt của các mối hàn chịu lực bị kéo căng dần dần lắng xuống, phẳng lặng và bất động như mặt hồ đóng băng sau một cơn bão tuyết. Toàn bộ nếp gấp không gian dọc theo tuyến ống kỹ thuật 11-C bị lực từ trường cực đại kéo căng trở lại, ép thẳng tắp vào đúng hệ tọa độ vật lý nguyên bản của bản vẽ thiết kế trạm. Điểm Neo số Hai đã thực sự hồi sinh—không phải bằng bất kỳ phép màu hay sự may rủi nào, mà bằng kỷ luật thép của kỹ thuật cơ khí chính xác và sự kiên định của những người thợ máy.

Cùng lúc đó, tại không gian tĩnh lặng đến ngột ngạt của Phòng Bản Đồ Mù ở trung tâm điều hành.

Mai Chi đang ngồi bất động dưới ánh sáng trắng sắc lạnh của chiếc đèn bàn chụp kim loại cỡ lớn. Căn phòng không hề có bất kỳ màn hình điện tử nào hoạt động; toàn bộ không gian làm việc của cô được lấp đầy bởi các dụng cụ đo đạc cơ học, kính hiển vi quang học và những xấp giấy can kỹ thuật dày cộp.

Trên mặt bàn gỗ sồi bọc thép, những vật chứng thu thập được từ hiện trường vụ phá hoại được xếp ngay ngắn trên các khay sứ màu trắng tinh: những mảnh vỡ bị nung chảy vặn xoẹo của hộp điều khiển CTRL-BOX-02; những đoạn dây dẫn điện ba pha bị cắt đứt bằng kìm bấm có vết cắt nghiêng bốn mươi lăm độ đặc trưng; và những mảng keo dán công nghiệp epoxy gia cường bột gốm chịu nhiệt—thứ vật liệu chỉ được cấp phát cho các kỹ sư trưởng phân khu.

Mai Chi đeo đôi găng tay cao su mỏng màu trắng, dùng một chiếc nhíp y tế bằng thép không gỉ gắp từng mẩu vật chứng nhỏ nhất, đặt cẩn thận vào từng chiếc túi polyetylen trong suốt. Mỗi chiếc túi sau đó đều được cô ép nhiệt niêm phong miệng, dán nhãn ghi mã số hiện trường và đóng dấu niêm phong bằng sáp đỏ của Tổ Điều Tra Ngưỡng Độc Lập.

Bên tay phải cô, chiếc kính hiển vi quang phổ cơ học đang chiếu một chùm sáng hẹp màu xanh lục xuyên qua phiến kính chứa mẫu bụi dẫn thu thập được từ ngưỡng cửa van áp lực B-04 và khoang đệm số Tám. Mai Chi ghé sát mắt vào thị kính, cẩn thận đối chiếu các dải vạch hấp thụ quang phổ hiện ra trên thước đo khắc độ vi mét.

Kết quả phân tích phân tầng hiện ra rành mạch và không thể chối cãi. Mẫu bụi dẫn có ba lớp cấu trúc vật lý tách biệt hoàn toàn:

Lớp đáy dày nhất là xỉ silicate thô—vật liệu mài mòn tự nhiên từ các hành lang công cộng của trạm qua nhiều năm vận hành.

Lớp thứ hai nằm ở giữa là bột oxit đồng siêu mịn, sản phẩm của quá trình phóng điện hồ quang liên tục từ van B-04, sinh ra do các bu-lông siết ngàm tiếp địa đã bị ai đó dùng cờ-lê nới lỏng cố ý ba vòng ren trước khi chu kỳ điện đêm bắt đầu.

Và lớp trên cùng—lớp bụi quyết định bản chất của vụ việc—là mạt dầu bôi trơn gốc flo-silicon đặc chủng pha phụ gia chống đông, loại dầu kỹ thuật cao cấp có số lô sản xuất FS-902, thứ duy nhất chỉ được lưu trữ và sử dụng độc quyền tại xưởng bảo trì cơ mật PK-02 dưới quyền quản lý trực tiếp của Phạm Khang.

Mỗi một lần vượt qua ngưỡng cửa của Vùng Chồng, các dòng hạt vật chất đều để lại một lớp bụi dẫn đặc trưng mang dấu vết cơ học không thể xóa nhòa. Không có bất kỳ sự can thiệp siêu nhiên nào ở đây; mọi hiện tượng uốn cong không gian, mọi cái chết và sự mất tích suốt mười bảy năm qua đều để lại dấu vết vật chất từ bàn tay của con người.

Mai Chi lật mở cuốn sổ nhật ký hành trình bằng giấy kẻ ô bọc da đen. Cạnh đó là chiếc đồng hồ bấm giây cơ khí đang chạy tíc tắc đồng bộ với hệ thống thời gian chuẩn của trạm. Cô dùng bút mực đen ghi nhận lại từng mốc thời gian nhảy số của áp suất dưỡng khí và các đỉnh tiêu thụ điện năng 400V bất thường được ghi lại trên các cuộn giấy than của hệ thống rơ-le cơ học tự ghi.

Mọi mốc thời gian tiêu thụ điện năng tăng vọt đều trùng khớp một cách tàn nhẫn đến từng giây với thời điểm khối lệnh ngầm SRV_MAINT_SEC02 tự động giải nén và kích hoạt chu trình phá hủy Điểm Neo số Hai.

Bằng một cây bút chì kỹ thuật 2B vót nhọn hoắt và chiếc thước đo độ chính xác bằng thép không gỉ, Mai Chi cúi người xuống tấm bản đồ lưu trữ mang mã hiệu MAP-BK-409. Cô cẩn thận đặt cục tẩy cao su kỹ thuật lên những đường cong mực đỏ bị vẽ lệch ba milimét—những nét vẽ gian lận từng biến tuyến ống 11-C thành một "vùng chết không thể tiếp cận" trên giấy tờ. Từng vụn tẩy đen rơi xuống, xóa sạch sự dối trá kéo dài gần hai thập kỷ. Cô đặt thước, vẽ lại một đường thẳng tắp, dứt khoát nối từ Điểm Neo số Một xuyên thẳng qua tầng Mười Bốn tới tận vách ngăn Khoang Lặng.

Tuyến hành lang phân khu B trên bản đồ chu kỳ hiện hành đã được nắn thẳng hoàn toàn theo đúng tọa độ vật lý mà Điểm Neo số Hai vừa tái lập. Minh bạch, chính xác đến từng milimét, và không còn một hốc mù nào có thể bị lợi dụng để che giấu tội ác nữa.

Cạnh tấm bản đồ đã hoàn thiện, một tập hồ sơ dày cộp đóng bìa cứng màu xám mang dòng chữ in hoa sắc nét: “TẬP HỢP VẬT CHỨNG CƠ HỌC VÀ ĐIỆN NĂNG: HÀNH VI CỐ Ý PHÁ HOẠI HỆ THỐNG NEO VÀ BẢN ĐỒ KHÔNG GIAN CỦA PHẠM KHANG” đã được bấm ghim thép dày mười phân và niêm phong bằng ba con dấu kẹp chì đỏ tươi. Bản cáo trạng bằng vật chất này đã sẵn sàng để đưa kẻ thủ ác ra trước phiên tòa xét xử tối cao của trạm.

Tại khu vực tiếp nhận sau lằn ranh Điểm Neo số Một, khi công tác cấp cứu ban đầu đã tạm thời ổn định và trục chịu lực tầng Mười Bốn đã được giữ vững bởi Điểm Neo số Hai vừa hồi sinh, bầu không khí bỗng chùng xuống trong một khoảnh khắc trang nghiêm kỳ lạ.

Lâm An cùng Lâm Vy và Bùi Duy bước chậm lại bên thanh dầm kim loại sáng bóng của bệ neo. Vy đã tháo bỏ chiếc mũ bảo hộ nặng nề và chiếc mặt nạ phòng độc ngột ngạt. Mái tóc cắt ngắn của cô bết dính mồ hôi vào vầng trán, gương mặt lấm lem muội than và bụi đồng đỏ, nhưng đôi mắt cô sáng trong và rực rỡ một niềm kiêu hãnh thầm lặng khi nhìn về phía khu hồi sức dã chiến.

Dưới ánh đèn trạm rực rỡ, ba mươi cư dân Khoang Lặng ngồi nép bên nhau trong những tấm chăn giữ nhiệt mạ bạc sáng lấp lánh. Giữa họ, người phụ nữ trung niên bế chặt đứa con nhỏ mười bảy tháng tuổi—sinh linh bé bỏng sinh ra trong bóng tối của khoang đệm, lần đầu tiên trong đời được tắm mình trong ánh sáng đèn trần công cộng và hít thở bầu dưỡng khí chuẩn của thân trạm. Đứa trẻ áp má vào ngực mẹ, đôi mắt thơ ngây chớp chớp nhìn trần vòm thép vững chãi, nơi những luồng khí ấm áp từ miệng thổi thông gió đang phả xuống đều đặn.

Người phụ nữ khẽ cúi đầu, bàn tay gầy gò run rẩy xoa nhẹ lên lớp bụi dẫn xám bạc bám trên mũi ủng—dấu tích của bước chân vừa đưa mẹ con chị vượt qua vạch sơn vàng và lằn ranh kim loại tiếp địa. Không còn ranh giới nào bị cắt đứt, không còn bóng ma nào có thể bẻ cong bước đường trở về của họ nữa.

Mỗi tiếng thở dốc, mỗi giọt mồ hôi và tiếng va chạm cơ học khô giòn của những chiếc móc khóa chữ D khi nãy dường như vẫn còn dội lại dọc theo các vách ngăn kim loại. Âm thanh ấy là lời tuyên bố đanh thép rằng thực tại đã chiến thắng, rằng sự sống hữu cơ bằng xương bằng thịt đã tìm lại được vị trí của mình trên mặt phẳng trần thế, vĩnh viễn không còn bị lay chuyển hay nuốt chửng bởi những nếp gấp hư vô của Vùng Chồng.

Lâm An siết nhẹ bờ vai em gái, khẽ gật đầu với Bùi Duy và Hạ Nhiên. Toàn bộ ba mươi con người, không thiếu một ai, đã thực sự thoát khỏi vực thẳm lãng quên để trở về giữa đồng loại.

Bước chân cuối cùng qua lằn ranh neo kim loại: ánh đèn trạm rọi xuống ba mươi gương mặt đẫm nước mắt sau mười bảy năm lưu đày.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories