Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaCh.24 / 30
Chapter 24

Tình yêu chậm, lời hỏi phải rõ

Mặt hồ Tĩnh Minh chìm dần vào bóng hoàng hôn của một ngày tàn thu. Nước hồ phẳng lặng như một tấm gương đồng xám khói, thi thoảng mới rùng mình xao động khi từng đợt gió lạnh từ hướng bắc quét qua mặt đầm, gom những chiếc lá liễu vàng úa trôi dạt vào tận chân kè đá. Phía xa, vệt nắng cuối cùng của buổi tà dương hắt lên rặng cây ven bờ những dải sáng màu lòng đỏ trứng gà, nhợt nhạt và lạnh lẽo, trước khi bị bóng tối đặc quánh từ những dãy tường thành cao ngất của nội đình nuốt chửng.

Nằm chơ vơ nơi góc ngoặt của con đê đá ngăn giữa hồ và khu nha môn ngoại vi là một ngôi đình trà công cộng. Gọi là đình, nhưng thực chất đó chỉ là một căn chòi dựng bằng bốn cột gỗ mộc kê trên tảng đá tảng, mái lợp ngói vảy cá đã ngả màu rêu mốc. Đây vốn là trạm nghỉ chân của cánh phu kiệu chở đá, phu xe kéo hàng và những lại viên cấp thấp đổi ca muộn từ các kho cục ngoại thành. Giờ này, khi hồi trống báo tan nha từ phía cửa đông đã dứt hồi lâu, trạm trà hoàn toàn vắng bóng người qua lại. Tiếng xao xác của rặng liễu rủ ven bờ quyện với tiếng nước vỗ bì bõm vào bậc thềm đá rêu phong, tạo nên một sự tĩnh mịch hiếm thấy, tách biệt hẳn khỏi không khí ngột ngạt, căng như dây đàn đang bao trùm lấy các dãy hành lang của Ty Khảo Sổ và phố xá Vân Kinh suốt mấy ngày đối soát vừa qua.

Lục Hoài Cẩn đứng tựa vào một cột đình bên mé hiên. Chàng không mặc chiếc áo thụng dài màu lam thẫm thêu viền mây mang phẩm phục thường nhật của một Lại mục Ty Khảo Sổ. Chiếc thắt lưng da bọc đồng quen thuộc, thẻ bài ngà khắc phân bộ và chiếc túi gấm đựng bút lông cùng con dấu kiểm toán bằng gỗ lim đều đã được tháo bỏ. Hôm nay, chàng vận một bộ thường phục bằng vải thô dệt sợi gai màu xám tro, cổ áo cài khuy vải mộc mạc, vạt áo buông thẳng không một nếp gấp thừa thãi, đôi hài vải đen giẫm trên nền đất nện khô ráo. Không có vẻ uy nghiêm lạnh lùng của một viên quan đang cầm quyền sát hạch sổ sách, chàng đứng đó, dáng người dong dỏng cao gầy in trên nền trời chạng vạng, trầm mặc tựa như một nho sinh nghèo đang dừng chân chờ chuyến phà muộn.

Từ cuối con đường lát đá xanh chạy men theo mép nước, một bóng người mảnh dẻ chậm rãi bước tới.

Nguyễn An Trà bước đi thong thả, bước chân nàng dẫu mang theo vẻ nhọc nhằn sau một ngày dài đứng quầy trà, nhưng lưng nàng vẫn giữ một độ thẳng kiên định. Chiếc tạp dề vải thô đã được tháo ra gói ghém gọn gàng trong tay nải, trên vạt áo màu nâu nhạt của nàng vẫn còn vương vấn mùi hương thảo mộc thanh nhẹ quyện với mùi đường mía đun sém đặc trưng của Hiên Trà Sau Bếp. Nàng bước từng bước đều đặn, đôi mắt thoáng nét mỏi mệt vì phải liên tục căng ra nhìn từng dòng số liệu và quản lý lượng khách dồn về quán, nhưng sâu trong đáy mắt ấy lại ánh lên một sự nhẹ nhõm vô ngần khi được thoát khỏi bốn bức tường chật hẹp của khu bếp thực vụ.

Khi khoảng cách giữa hai người còn chừng hai trượng, Hoài Cẩn khẽ cử động. Chàng rời khỏi cột đình, bước ra phía trước đón nàng, nhưng khi khoảng cách rút ngắn lại còn đúng hai thước, chàng liền dừng chân, khẽ chắp tay thi lễ theo đúng chuẩn mực lễ nghi giữa nam nữ và đồng liêu. Chàng bước lùi lại nửa bước, nhường trọn lối đi rộng nhất bước lên thềm đình cho nàng.

"Nguyễn cô nương." Hoài Cẩn cất lời. Thanh âm của chàng trầm ấm, tròn trịa, rũ bỏ hoàn toàn sự đanh thép, lạnh lùng thường thấy nơi công đường hay những buổi cật vấn giữa các kho viện. "Làm phiền nàng phải cất công ra tận chốn hoang vắng này sau một ngày dài vất vả nơi quầy trà."

An Trà dừng bước nơi chân bậc thềm, nàng đưa mắt nhìn chàng, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười kín đáo nhưng chân thành: "Lục đại nhân khách sáo rồi. So với việc phải giam mình giữa những chồng sổ đối soát dày cộp, ngửi mùi mực tàu pha keo nồng nặc và đối diện với những cột số cộng trừ sai một ly là đi tong cả tháng tiền công, thì việc được đứng hóng gió thu, ngắm mặt hồ Tĩnh Minh lúc này quả thực là một đặc ân."

Hoài Cẩn nghe vậy, đôi mày thanh tú của chàng khẽ giãn ra, nét nghiêm nghị trên gương mặt dường như mềm lại đôi phần. Chàng nghiêng người, đưa tay làm dấu mời nàng bước vào trong lòng đình: "Trong đình này chỉ có hai dãy ghế gỗ dài đóng tạm. Một phía nhìn thẳng ra mặt hồ lộng gió, thoáng đãng nhưng gió thu về chiều hơi lạnh; một phía khuất sau rặng liễu rủ, kín gió và yên tĩnh hơn. Nàng cứ tự nhiên chọn chỗ ngồi nào cảm thấy dễ chịu và thuận mắt nhất."

An Trà không ngần ngại, nàng bước thẳng về phía dãy ghế dài kê sát lan can hướng ra mặt hồ. Nơi này tuy có gió lùa lành lạnh nhưng tầm nhìn mở rộng ra tận chân trời phía tây, có thể thu trọn vào mắt từng gợn sóng lăn tăn và bóng dáng những cánh chim thiên di vội vã. Không gian khoáng đạt ấy khiến nàng cảm thấy lồng ngực mình được giãn ra, hoàn toàn không có cảm giác bị vây bọc, dồn ép hay thẩm vấn như những lần nàng phải ngồi đối diện với chàng qua chiếc bàn kiểm toán bằng gỗ mun tráng sơn đen kịt ở Ty Khảo Sổ.

Nàng ngồi xuống, chỉnh lại vạt áo cho ngay ngắn. Hoài Cẩn đợi nàng ngồi yên vị xong xuôi, chàng mới đi tới chiếc ghế con đối diện bên kia chiếc bàn gỗ thô mộc xẻ từ một thân cây rừng chưa bào nhẵn vỏ. Chàng ngồi xuống, giữ đúng cự ly chừng ba bước chân—khoảng cách đủ gần để trò chuyện mà không cần lên giọng, nhưng cũng đủ xa để giữ gìn sự tôn trọng và chừng mực tuyệt đối cho một nữ tử.

Trên chiếc bàn gỗ thô ráp, Hoài Cẩn đã cẩn thận chuẩn bị sẵn từ trước. Đó là một chiếc ấm sành da lươn bình dân của đình trạm, loại ấm mà những người phu phu kiệu hay dùng để hãm nước vối hay chè tươi. Chàng bưng ấm, nghiêng tay rót ra hai chiếc bát sành men nâu có gờ miệng hơi sứt một mảnh nhỏ. Dòng nước màu hổ phách trong veo tuôn ra đều đặn, hơi khói mỏng bốc lên nhè nhẹ, phả vào không gian tĩnh mịch một mùi hương cỏ cây mộc mạc, thanh đạm và ấm áp.

Chàng không đẩy chiếc bát về phía nàng một cách vội vã hay suồng sã, mà chỉ hạ ấm xuống, khẽ nghiêng đầu ra hiệu: "Trà của trạm dịch phu dịch chỉ là lá chè mộc hái trên đồi hoang, vị hơi chát gắt, không thể sánh được với những danh trà tinh tế do chính tay nàng phối trộn ở Hiên Trà. Nhưng ấm nước này đun bằng nước giếng ngọt ở chân chùa ngoại thành, đun sôi già trên lửa củi trấu, uống vào có thể làm ấm bụng và xua bớt hơi ẩm của gió hồ. Mời nàng dùng thử."

"Đa tạ ngài."

An Trà đưa hai tay đón lấy chiếc bát sành. Lớp gốm nung thô dày truyền hơi nóng râm ran vào lòng bàn tay nàng, xua tan cái lạnh buốt đang ngấm dần vào từng khớp ngón tay vốn đã ê ẩm sau nhiều canh giờ cầm muôi, xới trà và cân đong từng lạng nguyên liệu. Nàng đưa bát lên gần mũi, hít một hơi thật sâu để đón nhận mùi hương chân chất của đồng nội, rồi nhấp một ngụm nhỏ. Vị chát đượm lan tỏa tức thì nơi đầu lưỡi, xộc thẳng lên vòm họng, nhưng ngay sau đó là một hậu vị ngọt thanh, mộc mạc và dai dẳng nơi cuống họng. Thứ nước chè thô ráp này không có sự ngọt ngào hoa mỹ của mật mía, không có hương hoa nhài hoa cúc ngạt ngào, nhưng nó mang lại một cảm giác vững chãi, thật thà, tựa như chính con người đang ngồi đối diện với nàng lúc này.

Cả hai người cùng rơi vào một khoảng lặng dài. Họ không vội cất lời, chỉ lặng lẽ nhìn ra mặt hồ mênh mang.

Mặt trời lúc này đã chạm hẳn vào đường viền mờ ảo của rặng núi phía xa. Sắc đỏ rực rỡ như chu sa ban nãy dần chuyển sang màu tím thẫm của quả dâu chín, dát lên từng con sóng nhỏ một lớp ánh sáng lấp lánh như vảy cá bạc. Sự im lặng giữa họ trong khoảnh khắc này không hề có nét ngột ngạt, căng thẳng của những màn đấu trí hay sự gượng gạo của hai kẻ xa lạ. Nó giống như một nốt lặng tự nhiên và quý giá trong một bản hòa tấu phức tạp, một khoảng nghỉ cần thiết sau chuỗi ngày dài đằng đẵng bị bủa vây bởi những lệnh niêm phong, những lời cật vấn gay gắt, những con số chênh lệch và những mối hiểm nguy chực chờ nơi góc tối của kinh thành.

Hoài Cẩn hạ bát trà trong tay xuống bàn. Ngón tay trỏ của chàng khẽ miết dọc theo gờ men thô ráp của miệng bát sành, từng nhịp gõ nhẹ nhàng và đều đặn như thể chàng đang đếm từng nhịp thở, cân nhắc từng từ ngữ trước khi mở lời. Một người vốn nổi tiếng khắp lục bộ về sự chuẩn xác, lạnh lùng, người có thể chỉ ra một nét mực thừa hay một đồng tiền thiếu trên bản thanh toán hàng trăm trang mà không hề chớp mắt, lúc này lại thoáng hiện một nét ngập ngừng hiếm thấy trên gương mặt cương nghị.

Chàng ngẩng đầu lên, ánh mắt chàng vượt qua làn khói trà mỏng manh, dừng lại trên gương mặt An Trà. Ánh nhìn ấy thẳng thắn, trong veo và không mang theo một chút phòng bị hay toan tính nào của chốn quan trường.

"Hôm nay hẹn nàng ra tận bờ hồ này vào lúc hết giờ công vụ, ta không mang theo bất kỳ cuốn sổ kiểm toán, phiếu nhập kho hay thẻ bài chức vụ nào." Chàng chậm rãi cất lời, giọng nói rành rọt từng tiếng một. "Ta chỉ muốn chia sẻ với nàng một chuyện... một chuyện mà suốt sáu năm qua, kể từ ngày đặt chân vào chốn Vân Kinh đầy dẫy những mạng lưới quyền lực chằng chịt này, ta chưa từng hé răng giãi bày cùng bất kỳ ai. Kể cả với những vị trưởng quan hay đồng liêu thân thiết nhất."

An Trà đặt nhẹ chiếc bát sành xuống mặt bàn gỗ, hai bàn tay đan vào nhau đặt ngay ngắn trên đùi. Nàng nhìn thẳng vào mắt chàng, ánh mắt nàng tĩnh lặng và chăm chú, sẵn sàng tiếp nhận những gì chàng sắp sửa trải lòng mà không hề có định kiến.

"Lục đại nhân xin cứ nói. Ta đang lắng nghe."

Hoài Cẩn khẽ thở hắt ra một hơi, ánh mắt chàng hướng ra ngoài mặt hồ xa xăm, nơi bóng tối đang dần phủ kín những rặng sậy ven bờ. Giọng chàng chùng xuống, mang theo âm hưởng của một ký ức xa xưa đầy đau đớn và dằn vặt:

"Sáu năm trước, khi ta mới đỗ đạt kỳ thi tuyển lại viên và được điều về Ty Khảo Sổ với tư cách một viên thư lại tập sự, lòng ta tràn đầy nhiệt huyết non trẻ. Khi ấy, ta ngây thơ tin rằng công lý nơi trần thế này là một thứ vô cùng giản đơn: chỉ cần nắm chắc từng điều khoản trong điển lệ của triều đình, tra xét thẳng thừng không nhân nhượng theo từng con chữ, từng nét mực trên giấy tờ thì ắt sẽ giữ trọn được sự công minh cho thiên hạ. Ta coi những trang giấy trắng mực đen là chân lý tuyệt đối, và coi bản thân mình như chiếc cân công lý không bao giờ được phép dao động."

Chàng ngừng lại một nhịp, đốt ngón tay siết chặt lại trên mặt bàn gỗ khiến các khớp xương trắng bệch ra:

"Năm đó, vụ việc lớn đầu tiên ta được giao phụ trách là rà soát toàn bộ sổ xuất nhập vật tư xây dựng bờ kè phía nam của Ty Doanh Lực. Khi đối chiếu giữa sổ giao của xưởng nung và phiếu nhập của kho công trình, ta phát hiện ra một khoản chênh lệch: thiếu hụt đúng hai mươi bao vôi sống. Hai mươi bao vôi đối với một đại công trình không phải là con số quá lớn, nhưng theo đúng quy chế lúc bấy giờ, bất kỳ sự hao hụt nào không có lý do hợp lệ đều bị quy vào tội biển thủ vật tư công. Ta khi ấy, mang theo sự háo thắng và cứng nhắc của một kẻ mới vào nghề, đã lập tức thảo một bản báo cáo sơ bộ dày năm trang, chỉ đích danh viên thư lại giữ ca trực xuất kho hôm ấy là người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn."

An Trà khẽ nhíu mày, nàng dường như đã lờ mờ đoán được bi kịch ẩn giấu sau những dòng quy chế lạnh lùng ấy.

"Ta đã không hề thẩm tra độc lập về cung đường vận chuyển," Hoài Cẩn tiếp tục, giọng chàng run lên một cách khó nhận biết, nghẹn ngào nơi cổ họng. "Ta không hề bước chân ra khỏi nha môn để xem xét điều kiện thời tiết của mười ngày trước đó. Ta không biết rằng trên đường vận chuyển qua đoạn đèo dốc hiểm trở, chiếc xe chở vôi đã gặp phải một trận lũ quét bất ngờ do mưa rừng đầu mùa. Nước lũ dâng cao cuốn trôi mất hai chiếc xe, hai mươi bao vôi sống ngấm nước mưa bốc khói mù mịt, sôi trào rồi tan thành bùn trắng trôi xuống vực sâu. Người phu xe vì sợ hãi bị đánh đòn phạt trượng nên đã giấu nhẹm sự việc, không dám báo lên trên, còn viên thư lại kia vì thương tình hoàn cảnh bần hàn của người phu xe góa vợ nuôi con mọn, nên đã tạm thời ghi nợ vào sổ phụ để chờ tìm cách bù đắp."

Chàng nhắm mắt lại, như thể không muốn nhìn thấy bóng hình của chính mình trong quá khứ:

"Bản báo cáo sơ bộ đầy tính quy kết của ta, với những con số khô khốc và những trích dẫn điển lệ không một kẽ hở, đã được cấp trên phê duyệt ngay lập tức. Viên thư lại nọ bị tước quyền làm việc, bị đình chỉ chức vụ không lương để chờ điều tra toàn diện. Ông ấy là một lão lại viên chất phác, cả đời cúc cung tận tụy nơi cửa công, chưa từng tơ hào một cọng cỏ của triều đình. Lương bổng bị cắt đứt đột ngột, trong nhà lại có một người mẹ già ngoài bảy mươi tuổi đang ốm liệt giường và ba đứa con thơ dại. Suốt bốn tháng trời ròng rã bị đình chức, gia đình ông ấy lâm vào cảnh bần cùng, cùng đường quẫn bách phải đi vay mượn của bọn cho vay nặng lãi ngoài chợ đen với lãi suất cắt cổ để có tiền đong gạo qua ngày."

Một cơn gió thu lạnh buốt thổi lùa qua khoảng trống giữa các cột đình, làm vạt áo xám của Hoài Cẩn bay phần phật.

"Đến khi cuộc phúc tra mở rộng do một vị thanh tra giàu kinh nghiệm khác tiến hành, người ta mới lặn lội xuống tận chân vực, tìm thấy xác chiếc xe bò gãy nát dưới lòng suối cạn và lấy được lời khai chuộc tội của người phu xe, chứng minh hai mươi bao vôi kia thực sự bị thiên tai cuốn trôi chứ không hề có hành vi biển thủ. Lệnh đình chỉ được thu hồi, Ty Khảo Sổ đã trả lại danh dự, truy lĩnh toàn bộ lương bổng và phục chức cho ông ấy. Nhưng... tất cả đã quá muộn màng. Mẹ già của ông ấy vì không có tiền mua thang thuốc cầm cự qua mùa đông giá rét, đã qua đời trong một căn lều dột nát chỉ ba ngày trước khi lệnh phục chức được ban bố."

Hoài Cẩn mở mắt ra. Đáy mắt chàng dâng lên một nỗi đau đớn sâu hoắm, một vết thương lòng dường như chưa từng khép miệng dù năm tháng đã trôi qua.

"Dù trên giấy tờ, ta không hề làm sai bất kỳ một điều lệ nào. Ta làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đúng trách nhiệm. Cấp trên không khiển trách ta, thậm chí còn khen ta có con mắt tinh đời, biết phát hiện sai sót. Nhưng nàng có hiểu không, An Trà? Nỗi đau mất mẹ của người đàn ông ấy, tiếng khóc xé lòng của những đứa trẻ thơ trong căn nhà tang tóc... tất cả những thứ đó không có bất kỳ một văn bản bồi hoàn hay số tiền lương truy lĩnh nào có thể bù đắp nổi. Ta chính là kẻ đã gián tiếp bức tử một mạng người bằng chính sự cẩu thả, nông cạn nhân danh quy chế của mình."

Chàng thở dài một hơi thật sâu, giọng nói trở nên khàn đặc:

"Kể từ ngày định mệnh ấy, ta tự răn mình một nguyên tắc sắt đá: Không bao giờ được phép hạ bút đưa ra một kết luận quy kết trách nhiệm cho bất kỳ ai, nếu chưa nắm chắc trong tay ít nhất hai nguồn chứng cứ độc lập, có thể kiểm chứng chéo từ nhiều góc độ. Nhưng... cũng chính vết thương lòng nghiệt ngã ấy đã dần biến ta thành một kẻ kỳ quái. Ta sợ hãi sự sơ suất của chính mình. Ta sợ rằng nếu ta để lộ ra một chút lòng trắc ẩn, một chút cảm thông hay mềm lòng, thì sự thương hại ấy sẽ làm mờ đi con mắt phán đoán khách quan, khiến ta bỏ sót sự thật và lại một lần nữa gián tiếp làm tổn thương một người vô tội khác. Thế nên, ta đã chọn cách khoác lên mình một lớp vỏ bọc bằng sắt thép. Ta biến quy chế, luật lệ và những cuộc thẩm tra khô khốc thành bức tường thành kiên cố để ngăn cách bản thân với mọi cảm xúc. Lâu dần, ta giấu kín mọi sự quan tâm chân thành phía sau những lời cật vấn gay gắt, biến mình thành một kẻ xa cách, lạnh lùng và đáng sợ trong mắt tất cả mọi người."

Hoài Cẩn nhìn sâu vào mắt nàng, giọng chàng run rẩy nhưng đầy sự thành khẩn:

"Khi ta nhận tập hồ sơ về món nợ ba mươi sáu quan ở Kho Bếp Đông, nhìn thấy tên nàng trên biên bản đối soát, ta cũng đã dùng chính vẻ mặt sắt đá và những quy tắc giáo điều nghiệt ngã ấy để ép nàng vào khuôn khổ kiểm tra. Ta biết, sự lạnh lùng và những câu hỏi dồn dập đến nghẹt thở của ta trong những ngày đầu tiên đã tạo ra không ít áp lực, uất ức và tổn thương cho nàng. Ta nợ nàng một lời tạ lỗi chân thành nhất."

Lắng nghe từng lời giãi bày gan ruột của Hoài Cẩn, An Trà cảm thấy một luồng hơi ấm lẫn xót xa dâng trào trong lồng ngực. Nàng nhìn người đàn ông đang ngồi trước mặt mình—người mà bấy lâu nay cả khu nội đình đều coi là một "hung thần" mặt sắt đen sì, một kẻ chỉ biết đến những con số chết tiệt trên giấy trắng mực đen—hóa ra bên dưới lớp áo giáp lạnh lùng ấy lại là một tâm hồn mang nặng vết sẹo của lương tâm, một người luôn tự trừng phạt bản thân vì một lỗi lầm trong quá khứ.

Nàng khẽ lắc đầu, khóe môi nở một nụ cười ấm áp, bao dung nhưng cũng phảng phất một nỗi chua xót của riêng mình:

"Lục đại nhân, ngài không cần phải tự trách mình như vậy nữa. Nếu như ngài mang trong mình vết thương vì một lần quá tin vào quy chế trên giấy tờ mà thiếu đi sự thấu hiểu thực tế, thì ta... ta lại mang trong mình nỗi ám ảnh của một kẻ từng thất bại thảm hại, từng gục ngã đến mức tan nát vì sự ngạo mạn và thói quen gánh vác một cách mù quáng."

An Trà dừng lại, nàng đưa mắt nhìn những ngọn sóng đang vỗ nhè nhẹ vào chân kè đá. Ký ức về cuộc đời trước—thế giới nơi nàng từng sống cách đây một kiếp người, với những tòa nhà chọc trời bằng kính và bê tông, những bảng tính điện tử nhảy số liên tục, những áp lực vô hình từ các bản báo cáo tài chính và sự hối hả đến nghẹt thở của guồng quay cơm áo—đột ngột dội về trong tâm trí nàng rõ nét đến từng chi tiết. Nàng không thể nói cho chàng nghe về thế giới hiện đại, không thể nói về hai chữ "xuyên không" kỳ ảo hoang đường, nhưng nỗi đau đớn, sự dằn vặt của một người từng gục ngã trên thương trường thì ở bất kỳ thời đại nào cũng đều mang cùng một vị đắng chát như nhau.

"Trước khi tỉnh lại ở Kho Bếp Đông sau trận sốt thương hàn thập tử nhất sinh ấy," An Trà chậm rãi cất lời, cẩn trọng lựa chọn từng từ ngữ sao cho chân thực nhất với trải nghiệm nội tâm của mình, "ở một đoạn đời xa xôi trước đây mà ta từng trải qua, ta cũng từng là người đứng đầu quản lý một cơ sở chuyên pha chế và buôn bán thức uống. Khi ấy, ta còn rất trẻ, ôm ấp quá nhiều tham vọng và luôn bị bủa vây bởi nỗi sợ hãi tột cùng về hai chữ thất bại. Áp lực doanh số, áp lực hoàn vốn đè nặng lên vai ta từng ngày từng giờ. Ta luôn sống trong tâm trạng hoảng loạn rằng mình sẽ mang nợ, rằng mình sẽ bị đào thải nếu không tiến về phía trước."

Bàn tay An Trà siết nhẹ lấy tà áo thô, giọng nàng chùng xuống, nghẹn ngào:

"Chính vì nỗi sợ hãi mù quáng ấy, ta đã đặt ra những chỉ tiêu sản xuất quá cao, tính toán sai lệch hoàn toàn năng lực vận hành thực tế của con người. Ta ép buộc mọi người phải chạy đua theo những dự báo viển vông do chính ta tự vẽ ra trên sổ sách. Ta tước đoạt thời gian nghỉ ngơi của họ, bắt họ làm việc quần quật bên những lò đun nóng rực. Và rồi, hậu quả khủng khiếp đã xảy ra: một người làm công nhật trẻ tuổi—một đứa trẻ mới lớn, vừa mới chập chững bước vào đời để kiếm miếng cơm manh áo—vì kiệt sức sau nhiều ngày làm việc quá tải, đã ngất xỉu rồi ngã chấn thương rất nặng ngay bên cạnh bếp lửa đang sôi trào."

Hình ảnh người thanh niên năm nào nằm bất tỉnh trên sàn gạch men lạnh ngắt, và cả khoảnh khắc Xuân Cúc suýt chút nữa ngã nhào vào chảo đường mía đang sôi sùng sục ở Hiên Trà Sau Bếp cách đây chưa lâu, bỗng chốc đan lồng vào nhau, khiến sống mũi nàng cay xè.

"Khoảnh khắc nhìn thấy người khác gặp nạn, nhìn thấy thân thể họ bị hủy hoại chỉ vì sự thúc ép mù quáng và lòng kiêu ngạo của bản thân, ta mới bàng hoàng nhận ra mình thảm hại và tàn nhẫn đến mức nào," An Trà nghẹn ngào nói tiếp, từng giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhưng ánh mắt nàng vẫn kiên định nhìn thẳng. "Nỗi ân hận ấy đã biến thành một bóng ma tâm lý khổng lồ, bám riết lấy ta không rời. Nó biến thành một nỗi sợ hãi bệnh hoạn đối với hai chữ 'nợ nần' và 'mang ơn'. Khi ta mở mắt ra ở chốn này, thấy mình trở thành một cung nữ thấp hèn nơi Kho Bếp Đông, trên đầu treo lơ lửng bản khế ước nợ ba mươi sáu quan tiền kèm theo nguy cơ bị tống vào ngục tối, ta đã hoảng loạn đến mức gần như mất đi lý trí."

Nàng hít một hơi thật sâu để nén lại cảm xúc đang dâng trào nơi lồng ngực:

"Vì quá sợ hãi việc phải mang ơn người khác, quá sợ hãi việc để những người xung quanh bị liên lụy vì món nợ của mình, ta đã rơi vào một cái bẫy tâm lý khác: ta luôn suy diễn mọi chuyện theo chiều hướng xấu nhất, luôn overthinking—luôn lo sợ thái quá về mọi rủi ro có thể xảy ra. Ta cố gắng ôm đồm tất cả mọi việc vào người, từ việc nhóm bếp, chọn củi, gánh nước, cân đo từng lạng trà cho đến việc toan tính từng đồng bạc lẻ. Ta tự huyễn hoặc bản thân rằng mình làm vậy là để bảo bọc cho người khác, là để gánh vác thay cho họ. Nhưng thực chất, đó chỉ là một sự trốn chạy hèn nhát! Đó là thói quen kiêu ngạo và ích kỷ, là sự tước đoạt quyền được cùng chung vai gánh vác, tước đoạt cơ hội được trưởng thành của các chị em đồng nghiệp xung quanh ta."

Nàng ngước nhìn Hoài Cẩn, ánh mắt sáng lên một tia tự thức tỉnh sâu sắc:

"Mãi đến khi xảy ra chuyện ở Hội Đồng Công, khi ta vì quá nôn nóng muốn trả sạch nợ nần mà suýt chút nữa đưa ra quyết định sai lầm làm thâm hụt quỹ chung, chính Tống tỷ và Vũ Mai đã thẳng thắn chỉ ra lỗi lầm ấy cho ta. Họ đã thức tỉnh ta, kéo ta ra khỏi vũng lầy của sự cô độc. Lúc ấy ta mới thấu hiểu một chân lý giản dị: một người tự gánh vác tất cả không phải là người mạnh mẽ, mà là một kẻ thiếu niềm tin vào người khác. Sức mạnh thực sự không nằm ở việc một mình mình làm được bao nhiêu việc, mà nằm ở chỗ mình có dám tin tưởng, dám sẻ chia và cùng đồng hành với những người xung quanh hay không."

Những lời tâm sự từ tận đáy lòng của An Trà rơi vào không gian tĩnh mịch của ngôi đình ven hồ, hòa cùng tiếng gió thu rì rào qua rặng liễu.

Hoài Cẩn chăm chú lắng nghe, không bỏ sót dù chỉ một cử chỉ nhỏ hay một sự biến đổi nhỏ nhất trong ánh mắt nàng. Chàng không hề ngắt lời, cũng không dùng những lời an ủi sáo rỗng để xoa dịu. Chàng nhìn sâu vào đôi mắt nàng—đôi mắt long lanh ngấn lệ nhưng lại ánh lên một vẻ kiên định, quật cường hiếm có. Trong mắt chàng lúc này, nàng không phải là một nữ tử quyền mưu khéo léo nơi cung cấm như những lời đồn thổi vô căn cứ của đám thái giám, cũng không phải một con buôn liều lĩnh chỉ biết chăm chăm vào lợi nhuận. Đứng trước chàng là một con người bằng xương bằng thịt, một tâm hồn từng trải qua đổ vỡ, từng mang đầy thương tích của sự thất bại, nhưng chưa bao giờ ngừng tự soi chiếu bản thân để tìm lại con đường ngay thẳng, nhân văn và tử tế nhất trong từng việc mình làm.

Hai con người ngồi đối diện nhau, xuất phát từ hai vị thế hoàn toàn trái ngược trong bộ máy vận hành của kinh thành: một người là hiện thân của quy chế, trật tự và kỷ luật kiểm toán lạnh lùng; một người là đại diện cho sức sống bền bỉ, sáng tạo và khát vọng tự do của tầng lớp lao động bình dân. Nhưng trong khoảnh khắc này, giữa làn sương thu lành lạnh của hồ Tĩnh Minh, họ lại tìm thấy một sự đồng điệu sâu sắc đến kinh ngạc nơi những vết thương lòng trong quá khứ—những vết thương được tạo nên từ chính tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp của mỗi người.

Hoài Cẩn khẽ đưa bàn tay phải của mình ra phía trước mặt bàn, nhưng khi ngón tay chàng chỉ còn cách mu bàn tay của An Trà chừng một đốt ngón tay, chàng liền dừng lại. Đôi mắt chàng nhìn nàng tràn ngập sự dịu dàng, trìu mến và một sự tôn trọng tuyệt đối dành cho người đối diện:

"Nàng đã đi qua một chặng đường vô cùng nhọc nhằn và cô độc, Nguyễn cô nương. Nhìn nàng từng bước dẫn dắt Hội Đồng Công đứng vững trước sóng gió, kiên quyết từ chối những bản khế ước độc quyền bẫy giá đầy cám dỗ của chưởng quầy Tạ Vinh, sẵn sàng chủ động cắt giảm sản lượng trà bán ra mỗi ngày chỉ để bảo vệ sức khỏe cho những người thợ làm cùng... ta hiểu rằng, nàng chưa bao giờ đánh mất đi thiên lương và đạo đức làm nghề của mình."

An Trà ngước nhìn chàng, cảm nhận được trọn vẹn luồng sinh khí ấm áp toát ra từ ánh mắt ấy. Đó không phải là ánh nhìn bề trên của một viên quan đang ban phát ân huệ hay sự che chở cho kẻ yếu thế, mà là ánh mắt của một người bạn đồng hành thực sự thấu hiểu và tôn trọng nhân cách của nàng.

"Lục đại nhân," nàng khẽ mỉm cười, nụ cười rạng rỡ và thanh thản đã hoàn toàn xua tan đi vẻ mệt mỏi ban nãy. "Cũng chính nhờ sự kiên định đến mức cố chấp của ngài trong việc tuân thủ nguyên tắc 'lưỡng chứng đối soát', mà ta mới hiểu ra một điều cốt lõi: muốn có được tự do thực sự, trước hết mọi thứ phải tuyệt đối minh bạch. Quy chế, luật lệ và những cuộc kiểm toán khắt khe sinh ra không phải để làm khó hay trói buộc con người, mà chính là tấm lá chắn vững chắc nhất để bảo vệ những người lao động chân chính trước sự lạm quyền và lòng tham của những kẻ quyền thế."

Màn đêm lúc này đã buông xuống hoàn toàn trên mặt hồ Tĩnh Minh. Vầng trăng non đầu tháng mỏng manh như một cánh hoa chuốt cong, treo lơ lửng giữa vòm trời thẫm màu mực tàu. Mặt nước hồ phẳng lặng phản chiếu ánh trăng bàng bạc, hòa cùng ánh sáng le lói của muôn vàn vì sao đêm.

Hoài Cẩn hít sâu một hơi. Chàng ngồi thẳng lưng, vẻ mặt trở nên vô cùng trang trọng, nhưng sâu thẳm trong đôi mắt chàng lại bừng lên một ngọn lửa tình cảm chân thành, ấm áp và dứt khoát hơn bao giờ hết:

"An Trà. Hôm qua, khi ta đặt bút ký vào bản Đơn Xin Thoái Thác Công Vụ gửi lên Bùi đại nhân để xin rút hoàn toàn khỏi cuộc kiểm toán trực tiếp đối với Hiên Trà Sau Bếp, ta đã xác định rất rõ ràng vị trí và tình cảm của lòng mình. Ta không muốn sự hiện diện mang danh nghĩa công vụ của ta làm vấy bẩn tính khách quan, làm lu mờ đi những nỗ lực tự thân chân chính mà nàng và các chị em trong Hội Đồng Công đã đổ bao mồ hôi nước mắt mới gây dựng nên. Nhưng hôm nay, khi đứng ở đây trước mặt nàng, rũ bỏ hoàn toàn thân phận Lại mục Ty Khảo Sổ, chỉ với tư cách một người đàn ông bình thường ngoài giờ làm việc... ta muốn hỏi nàng một lời từ tận đáy lòng."

Chàng nhìn thẳng vào mắt nàng, từng lời từng chữ thốt ra đều mang theo sức nặng của một lời hứa danh dự:

"Ta quý mến nàng. Ta khâm phục tài năng, nghị lực và tấm lòng ngay thẳng của nàng. Ta mong muốn được bước vào một mối quan hệ tìm hiểu nghiêm túc và lâu dài cùng nàng. Nhưng mối quan hệ này, nếu có thể bắt đầu, phải hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, tôn trọng ranh giới và bình đẳng tuyệt đối giữa hai chúng ta. Ta xin hứa: ta sẽ không bao giờ dùng quyền lực, địa vị hay những mối quan hệ nơi chốn quan trường để ban phát ân huệ hay bảo bọc nàng theo cách áp đặt của kẻ bề trên; ta cũng tuyệt đối không bao giờ cho phép tình cảm cá nhân xen vào, làm méo mó hay thay thế các trình tự pháp lý công minh của triều đình. Nàng vẫn sẽ là người hoàn toàn làm chủ công việc, làm chủ sinh kế, làm chủ ước mơ và sự nghiệp của riêng nàng. Nàng có bằng lòng... cho phép ta được đồng hành cùng nàng trên con đường phía trước theo cách như vậy không?"

Trái tim An Trà khẽ run lên từng nhịp rộn ràng. Nàng đã sống qua hai cuộc đời, từng nghe không ít những lời tán tỉnh đường mật, từng chứng kiến biết bao màn kịch tranh quyền đoạt lợi và những mối quan hệ phụ thuộc đầy toan tính nơi hậu cung cũng như chốn thương trường. Nhưng chưa từng có một ai trao cho nàng một lời tỏ tình rõ ràng, đàng hoàng, tôn trọng độc lập cá nhân và đầy tinh thần trách nhiệm đến như thế.

Người đàn ông này không hứa hẹn sẽ mang lại cho nàng nhung lụa giàu sang, không hứa sẽ dùng quyền uy để dẹp bỏ mọi chông gai cho nàng bước đi, mà chàng hứa sẽ tôn trọng ranh giới của nàng, giữ gìn phẩm giá cho nàng, và cùng nàng bước đi như hai thực thể độc lập, bình đẳng. Đó chính là sự thấu hiểu sâu sắc nhất mà nàng luôn tìm kiếm—một người đồng hành thực thụ, biết yêu thương bằng sự tôn trọng chứ không phải bằng sự chiếm hữu hay ban ơn.

Nàng nhìn chàng, ánh mắt sáng ngời sự kiên định, không một chút e dè hay né tránh:

"Lục Hoài Cẩn, ta cũng quý mến ngài. Ta quý mến sự liêm chính, tấm lòng trong sạch và cách ngài kiên quyết giữ gìn sự khách quan cho tất cả chúng ta. Ta đồng ý bước vào mối quan hệ này cùng ngài, với đúng những nguyên tắc mà chúng ta vừa cùng nhau ước hẹn: độc lập, bình đẳng, tôn trọng và sòng phẳng. Sau này, trên công đường hay dưới quầy trà, việc công dứt khoát ra việc công, tình cảm riêng tư dứt khoát ra tình cảm riêng tư. Ta sẽ tự mình cùng các chị em làm việc, tích cóp từng đồng tiền chân chính để trả sạch món nợ ba mươi sáu quan và mở rộng trà quán ra ngoài cung; còn ngài, hãy cứ tiếp tục làm một viên kiểm toán viên công minh, mẫn cán và kiên định nhất của Ty Khảo Sổ."

Nghe câu trả lời của nàng, Hoài Cẩn khẽ mỉm cười. Đó là một nụ cười rạng rỡ, trọn vẹn và ấm áp nhất mà An Trà từng thấy trên gương mặt chàng—một nụ cười xua tan hoàn toàn vẻ băng lãnh, khắc nghiệt thường trực, để lộ ra sự thuần khiết và chân thành của một tâm hồn vừa tìm thấy bến đỗ bình yên.

Chàng khẽ lật ngửa bàn tay đang đặt trên mặt bàn gỗ. Lần này, An Trà không hề chần chừ hay ngập ngừng, nàng chủ động đưa bàn tay thon thả nhưng chai sần vì lao động của mình đặt trọn vào lòng bàn tay chàng.

Bàn tay Hoài Cẩn khép lại, những ngón tay dài và ấm áp của chàng đan nhẹ vào những ngón tay nàng, siết chặt lại vừa đủ để truyền đi hơi ấm và sự chở che, nhưng cũng đủ dịu dàng để không làm nàng đau. Sự tiếp xúc da thịt ấm áp giữa đêm thu tĩnh lặng như một dấu mốc vô hình nhưng vững chắc, khép lại những tháng ngày cô đơn gồng mình chống chọi với nghịch cảnh của cả hai người, mở ra một chương mới của sự thấu hiểu và đồng hành đầy tin cậy.

Sự gắn kết giữa họ không cần đến những lời thề non hẹn biển viển vông, không cần những tín vật đắt giá hay những lời hứa hẹn hoa mỹ. Nó được đúc kết từ những nguyên tắc sống chân thực, sự thấu cảm sâu sắc đối với những tổn thương trong quá khứ, và lòng can đảm cùng nhau đối diện với sự thật trần trụi của cuộc đời.

Họ ngồi bên nhau trong đình trà thêm một tuần trà nữa, trò chuyện về những chuyện vụn vặt thường nhật, về cách ủ men chè, về những điều luật thuế khóa mới ban hành, cho đến khi trăng đã lên đến đỉnh đầu. Khi hai người đứng dậy rời khỏi đình trà bên hồ Tĩnh Minh để chuẩn bị cho trận chiến cam go sắp tới, màn đêm đã bao trùm hoàn toàn khắp các nẻo đường kinh thành. Nhưng trên nền trời phía tây, ánh trăng thu vẫn tỏa rạng ngời ngợi, rọi sáng từng phiến đá xanh dẫn lối về phía Cửa Tây Dịch.

***

Mờ sáng ngày hôm sau.

Màn sương sớm dày đặc như dải lụa xám còn chưa kịp tan khỏi những mái ngói rêu phong của các dãy nha môn phủ Vân Kinh. Không khí buổi sớm mùa thu lạnh buốt, tĩnh mịch đến mức có thể nghe rõ tiếng lá rụng xào xạc nơi góc sân và tiếng chổi tre quét đường của những người lao dịch quét dọn đường phố.

Bất chợt, sự tĩnh lặng của buổi sớm mai bị xé toạc bởi một thanh âm đanh thép, trầm hùng và vang dội, rung chuyển cả một vùng trời:

Thùng!

Tiếng dùi gỗ bọc da trâu nện thẳng vào mặt chiếc trống lớn đặt trước cửa nha môn kinh thành, phát ra một âm thanh vang rền như sấm động đầu mùa, dội thẳng vào vách đá, lan tỏa qua từng ngõ ngách, đánh thức toàn bộ kinh kỳ đang còn ngái ngủ.

Thùng! Thùng!

Hồi trống thứ hai, rồi thứ ba tiếp tục gióng lên dồn dập, uy nghiêm và dứt khoát. Âm thanh ấy không chỉ báo hiệu giờ mở cửa công đường, mà còn như một lời tuyên chiến đanh thép gửi tới những kẻ đang ẩn mình trong bóng tối toan tính mưu hèn kế bẩn.

Phiên đối chất kinh tế chính thức mở màn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories