Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtCh.8 / 32
Chapter 8

Tiếng Chày Trên Vịnh Mặn

Gió mùa Đông Bắc tràn qua vụng biển Bái Tử Long, mang theo từng đợt hơi ẩm mặn chát quất rát rạt vào tấm kính chắn gió của chiếc xe Bếp Nhỏ. Chiếc xe dừng bánh sát mép bờ kè cảng cá Cái Rồng, nơi những khối bê tông chắn sóng đã phủ một lớp rêu hà xám xịt và nhớt ráo. Trước mặt họ, cảng cá Vân Đồn về đêm tựa như một bãi tha ma của những con thuyền nằm bờ: hàng chục chiếc tàu vỏ gỗ, vỏ sắt sơn màu xanh xám của ngư dân đậu ken đặc bên mép luồng lạch tĩnh mịch, dập dềnh uể oải theo từng nhịp triều dâng.

Mặt nước luồng lạch sẫm đen một màu quánh đặc như mực tàu, phản chiếu le lói vài đốm đèn vàng vọt từ dãy lán trại thu mua hải sản phía xa xa. Váng dầu máy loang lổ thành từng vệt ngũ sắc nhờ nhợt trên những dải bọt sóng, cuốn theo các mẩu phao xốp vỡ vụn, vỏ ốc đập dập và cọng rong biển chết dạt vào bờ đá. Dù mới chỉ chớm tháng mười một âm lịch nhưng cái rét buốt đặc trưng của vùng biển phương Bắc đã kịp ngấm sâu vào từng thớ gỗ mục của cầu tàu. Khang vặn chìa khóa tắt máy; quạt gió tản nhiệt của chiếc xe kêu rè rè thêm vài nhịp mệt mỏi rồi lịm hẳn, trả lại không gian cho tiếng dây neo bằng thừng bện cọ vào be thuyền ken két, âm vang như một chuỗi tiếng thở dài khô khốc của những người đàn ông thức trắng cả đời cùng con sóng.

An kéo cao cổ áo khoác gió dày cộm, hai bàn tay đút sâu vào túi áo để tìm chút hơi ấm ít ỏi sót lại. Hơi thở phả ra làn khói mỏng manh nhanh chóng bị luồng gió lộng xé tan tác.

Đúng chín giờ tối, từ mạn một chiếc thuyền câu vỏ gỗ dài chưa đầy mười mét neo ở mép ngoài cùng của bến, một bóng người gầy gò, lưng còng rạp bước lên boong. Đó là ông Dụ. Ông trùm chiếc mũ len bạc màu sụp xuống tận lông mày, hai ống quần bộ đội xắn quá đầu gối để lộ đôi bắp chân gân guốc sạm đen vì nắng gió và muối mặn.

— Lên đi hai cháu! Nước đang xuôi, tranh thủ con triều ra lộng kẻo tí nữa gió chuyển hướng thì sóng cồn lắc dữ lắm, — giọng ông Dụ khàn đặc, lẫn vào tiếng gió rít qua rạn đá.

Chiếc thuyền câu nhỏ chao đảo dữ dội ngay khi An đặt chân xuống sàn gỗ trơn nhẫy nước biển. Khang nhanh tay đỡ lấy ba lô thiết bị của An rồi nhảy xuống sau, thân thuyền lún xuống một nhịp phát ra tiếng bì bõm dưới đáy lườn. Động cơ máy nổ một xi-lanh loại cũ kỹ đặt trần giữa khoang thuyền gầm lên inh tai sau cú giật dây cẩu cước của ông Dụ. Từng tiếng *bành… bạch… bành… bạch…* giòn giã và chói óc xé toạc màn đêm đặc quánh. Ống xả chĩa thẳng lên trời phì phì nhả ra từng cuộn khói xám nồng nặc mùi dầu diesel khét lẹt, cuộn tròn lấy boong thuyền rồi tan biến vào luồng gió biển buốt giá khi mũi thuyền rẽ sóng, lầm lũi hướng ra vùng lộng ngoài khơi vịnh Bái Tử Long.

Rời khỏi nơi khuất gió của vụng cảng, chiếc thuyền gỗ mỏng manh lập tức trở thành món đồ chơi bị quăng quật giữa những con sóng lừng cao quá đầu người. Thuyền chồm lên ngọn sóng rồi lại hẫng hụt rơi tọt xuống đáy trũng, nước biển bắn tung tóe qua be thuyền phủ một lớp màng muối lạnh ngắt lên mặt sàn. An ngồi ép chặt lưng vào vách ca-bin gỗ lim cũ kỹ đẫm nước mặn, hai bàn tay bấu chặt vào gờ mép mạn thuyền đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Mắt cô căng ra, dõi theo luồng ánh sáng chói lòa phát ra từ hai giàn đèn cao áp treo dọc hai bên mạn thuyền vừa được ông Dụ gạt cầu dao khởi động.

Ánh đèn nung sáng rực xé toạc màn sương muối mịt mù, tạo thành hai quầng sáng hình phễu khoét sâu xuống lòng biển đen ngòm. Đêm trên vịnh mở ra như một cái hũ nút sâu không đáy. Biển đêm Vân Đồn không hề mang vẻ phẳng lặng, hữu tình như trong những bức ảnh bưu thiếp chụp vịnh Hạ Long; ở ngoài khơi lộng này, nó sôi réo, gắt gỏng, gầm gừ từng cơn và luôn chực chờ nuốt chửng những vật thể nhỏ nhoi xâm phạm lãnh địa của nó.

— Cầm lấy đầu dây này, giữ cho chắc! — Ông Dụ đưa cho An một ống cuộn dây cước trong suốt to bằng cọng rơm, đầu dưới buộc chùm lưỡi câu ba tiêu sắc nhọn bọc quanh một con tôm nhựa bằng cao su mềm có quét lớp dạ quang xanh lét.

Nhiệm vụ nhử mực nang tưởng chừng như một trò chơi đơn giản của lũ trẻ con miền biển: thả dây cước xuống độ sâu chừng mười lăm đến hai mươi sải tay cho đến khi chì chạm gần sát đáy bùn, sau đó dùng khớp cổ tay giật nảy liên hồi từng nhịp đều đặn để con tôm giả bơi lượn trong quầng sáng, khiêu khích bản năng săn mồi của loài nhuyễn thể. Nhưng chỉ sau hai tiếng đồng hồ đứng chôn chân trên mặt sàn lắc lư không ngớt, sự khắc nghiệt của nghề câu đêm mới ngấm vào da thịt An.

Từng khớp ngón tay cô bắt đầu cứng đờ lại vì lạnh buốt, da thịt tê dại mất hết cảm giác. Bắp thịt dọc sống lưng và hai bả vai đau nhói như có hàng nghìn mũi kim châm khi phải liên tục ghìm người giữ thăng bằng theo từng cú chồm của sóng. Gió lộng quất nước biển lên mặt, lớp muối đọng lại khô đi, nứt nẻ và làm rát bỏng khóe mắt, đắng ngắt bờ môi mỗi khi An vô thức liếm mép.

Nước biển sâu hoắm, trong vắt dưới ánh đèn cao áp, nhưng lại trống rỗng đến rợn ngợp. Dưới đáy phễu ánh sáng, từng đàn tôm mắt tròn nhỏ xíu bu kín quanh bóng đèn như đám thiêu thân, thỉnh thoảng mới có vài bầy cá trích lấm tấm vảy bạc hay cá chỉ vàng bé tí bằng ngón tay lách qua luồng sáng rồi lặn mất tăm vào bóng tối thăm thẳm. Biển cả dường như đã cạn kiệt sự sống. Khang khoác áo mưa, cẩn thận bọc thân máy ảnh trong chiếc túi nilon chuyên dụng chống nước mặn, kiên nhẫn đứng tựa vào cột buồm để bấm máy. Nhưng suốt nhiều tiếng trôi qua, ống kính của anh hầu như chỉ bắt được những vệt bọt sóng bơ vơ và bóng lưng còng rạp của ông Dụ đang bất động như một bức tượng gỗ giữa trời đêm.

Mãi đến gần ba giờ sáng, khi cơn buồn ngủ và cái rét đã biến toàn thân An thành một khối đá vô cảm, cánh tay cô bỗng chốc bị ghì mạnh xuống bởi một lực kéo bất ngờ. Đầu dây cước căng thẳng tắp, siết chặt vào da thịt ngón tay trỏ đau nhói.

— Có mực! Đều tay! Kéo đều tay, đừng chùng cước kẻo nó thụt lùi búng mất! — Tiếng ông Dụ quát giật giọng vang lên trầm đục át cả tiếng máy nổ.

Tim An đập thình thịch trong lồng ngực. Cô cắn chặt môi, dùng toàn bộ sức lực của hai cánh tay đang run rẩy thu từng sải cước. Sợi dây trơn tuột cứa vào lòng bàn tay rát bỏng. Dưới làn nước sâu le lói ánh sáng, một bóng trắng đục to bằng chiếc quạt nan đang vùng vẫy dữ dội, cuộn tròn thân mình thụt lùi để cản nước. Khi chỉ còn cách mặt nước chừng một sải tay, con mực nang bất thần phun ra một vòi nước cực mạnh kèm theo túi mực đen kịt, nhuộm đen ngòm cả một khoảng sóng trước khi chiếc vợt cán dài của ông Dụ lao vút xuống, xúc gọn lấy nó đưa lên sàn thuyền.

Con mực nằm giãy đành đạch trên mặt sàn gỗ ẩm ướt. Thân nó dày cộp, bầu bĩnh, phần mai cứng gồ lên như mai rùa, lớp da bên ngoài óng ánh những tế bào sắc tố nâu đỏ co thắt liên tục như một bảng đèn điện tử li ti đổi màu không ngừng từ xám sang nâu sẫm rồi trắng bệch. Hai xúc tu dài ngoằng quấn chặt lấy mép lưới, những giác bám tròn xoe hút chặt vào mặt gỗ kêu lách tách.

Nhưng đó chỉ là một trong số ít ỏi những niềm vui hiếm hoi của cả một đêm dài ròng rã vật lộn ngoài lộng. Khi những vạt mây ở chân trời phía đông bắt đầu chuyển dần từ sắc đen đặc quánh sang màu lam tái nhợt của rạng đông, gió biển bớt gắt gỏng hơn thì đáy thùng nhựa lót dưới khoang thuyền của ông Dụ chỉ lèo tèo được sáu con mực nang cỡ vừa và ba con mực ống khẳng khiu. Mấy con vật nằm thoi thóp giữa đám nước mặn đã vẩn đục, lớp da đổi màu chậm dần rồi lịm hẳn.

Ông Dụ với tay gạt cầu dao ngắt hai giàn đèn cao áp. Khoang thuyền chìm vào thứ ánh sáng tranh tối tranh sáng nhờ nhợt của buổi sớm mai. Ông rút từ túi áo ngực ra chiếc điếu bát bằng đồng đã xỉn màu, run rẩy châm một điếu thuốc lào bằng que đóm tẩm dầu hỏa. Ngọn lửa bùng lên soi rõ gương mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh đá vôi bị nước biển bào mòn qua năm tháng. Khói thuốc lào ngai ngái quyện vào hơi biển tanh nồng phả ra từ kẽ răng vàng ố. Người ngư dân già nhìn chăm chăm vào đáy thùng nhựa, giọng đượm vẻ cay đắng:

— Hết rồi cháu ạ. Cạn kiệt thật rồi. Cái thời hai mươi năm trước, chỉ cần thả thuyền trôi tự do từ hòn Én sang hòn Chín Gạc một buổi triều lên là mực nhảy ràn rạt chật cả khoang, búng tanh tách tràn cả ra lối đi. Giờ thì tàu giã cào đôi công suất lớn, tàu kích điện ngoài khơi xa nó cào sát đáy biển, quét sạch từ con tôm non, con ốc đá cho đến rạn san hô không chừa thứ gì. Vùng lộng này coi như xơ xác, biển trơ đáy bùn. Mấy con mực nang này là của sót lại từ kẽ đá đấy, ăn may mới vớ được.

Chiếc thuyền gỗ lầm lũi quay mũi, cập lại mép nước cảng cá Cái Rồng khi sương sớm còn la đà quấn quanh những rặng núi đá vôi nhấp nhô ngoài vịnh. Trên bờ kè lộng gió, bà Dụ đã đứng đợi tự bao giờ. Bà mặc chiếc áo bông chần cũ kỹ khoác ngoài tấm tạp dề hoa đã bạc phếch, tay cắp một chiếc rổ tre lớn và một chiếc chậu nhôm tráng men đã móp méo mép vành.

Nhìn vào đáy thùng nhựa chỉ vỏn vẹn mấy con mực nằm còng queo, đáy mắt bà Dụ thoáng qua một nét buồn thầm lặng, nhưng bà không hề buông một tiếng thở dài hay than vãn. Người đàn bà cả đời đón thuyền về đã quá quen với những mẻ câu thất bát. Bà thoăn thoắt đón lấy mớ mực từ tay chồng, trút vào chậu nhôm rồi bước thoăn thoắt về phía xưởng chế biến gia đình nằm sâu trong con ngõ nhỏ lát đá xanh của thị trấn.

Xưởng chả mực của gia đình ông bà Dụ thực chất chỉ là một gian nhà cấp bốn lợp ngói xi măng prô-xi-măng cũ kỹ nép mình bên sườn đồi, nơi góc sân nhỏ rợp bóng giàn trầu không kê hai chiếc cối đá xanh nguyên khối. Lòng cối đã mòn vẹt, nhẵn thín sau hàng chục năm chịu đựng hàng triệu nhát đập, bên cạnh là bộ chày đôi bằng gỗ lim đen bóng nước mỡ, chuôi chày bóng loáng dấu vết mồ hôi tay của ba thế hệ.

Giữa thời buổi kinh tế thị trường, khi hầu hết các cơ sở làm chả mực xung quanh cảng cá đều đã chuyển sang dùng máy xay công nghiệp hai lưỡi dao cuốn bằng thép không gỉ và máy đánh giò chả công suất lớn chỉ mất năm phút cho một mẻ mười cân, bà Dụ vẫn một mực bám lấy phương thức thủ công gia truyền từ thời ông nội để lại.

Bà Dụ ngồi bệt xuống chiếc đòn gập bằng gỗ nghiến, kéo chậu mực lại gần vòi nước giếng khơi trong vắt. Từng con mực nang được đặt lên thớt gỗ. Đôi bàn tay sần sùi nhưng chuẩn xác đến kinh ngạc của bà lướt nhẹ một đường dao bén ngọt dọc sống lưng con mực, khéo léo bóc tách lớp da ngoài lốm đốm hoa văn nâu đỏ mà không làm rách màng thịt bên trong. Chiếc mai mực cứng màu trắng đục hình chiếc thuyền nan được rút ra dứt khoát, tiếp đến là khối nội tạng và túi mực đen tuyền được loại bỏ nguyên vẹn, không để sót lại một giọt dịch đen nào dính vào thớ thịt trắng muốt.

Bà Dụ tuyệt đối không rửa mực bằng nước máy có mùi clo khử trùng. Mực sau khi mổ sạch được rửa qua ba lần nước giếng khơi sâu hút được pha muối hạt hầm Diêm Điền với độ mặn đậm đặc.

— Nước muối hạt hầm này vừa tẩy sạch nhớt tanh tự nhiên của biển, vừa làm thớ thịt săn chắc lại mà tuyệt đối không làm nhạt đi vị ngọt đạm nguyên bản của mực nang, — bà Dụ vừa dùng một chiếc khăn bông sạch bằng vải xô thấm khô kiệt từng giọt nước đọng trên thân mực, vừa chậm rãi giải thích. — Mực mà còn dính nước lã hay bị ươn rữa thì giã đến gãy chày cũng không bao giờ quánh dẻo được.

Bà dùng con dao bản lớn xắt phần thân mực dày dặn thành từng thanh dài chừng hai đốt ngón tay. Riêng phần râu mực và hai bên vây mực giòn sần sật, bà dùng dao thái nhỏ thành từng hạt lựu vuông vức, để riêng ra một chiếc bát sứ cổ men lam.

— Người ta bây giờ chuộng tiện lợi, ham siêu lợi nhuận nên cứ tống cả đống mực đông lạnh ươn sình nhập từ đâu đâu vào máy xay công nghiệp, xay nhuyễn nhừ như cháo đặc, — bà Dụ trút từng thanh thân mực trắng tinh vào lòng cối đá xanh, giọng chùng xuống đầy xót xa. — Xay thế thì đứt hết sợi cơ thịt tự nhiên của con mực. Để chả dai giòn, họ tống đẫm bột bắp, bột nở, thêm cả chất phốt-phát, hàn the công nghiệp vào để giữ nước và tạo độ giòn giả tạo. Miếng chả thả vào chảo mỡ phồng to như cái bong bóng con nít, nhìn thì bắt mắt đấy, nhưng cắn vào chỉ thấy xốp xộp như nhai miếng bọt biển ngậm mỡ, để nguội một chốc là xẹp lép, tóp teo lại, bốc lên cái mùi ngai ngái nhạt toẹt của bột cám.

Ông Dụ bước vào sân sau khi đã rửa sạch mùi dầu máy trên người. Ông khoác lên mình chiếc áo may ô đã ố vàng, hai tay nắm chặt chiếc chày gỗ lim nặng hơn ba cân. Đôi chân ông giang rộng bằng vai, ghim chặt xuống nền xi măng ướt lạnh làm điểm tựa vững chãi.

*Thình… thịch… thình… thịch…*

Nhát chày đầu tiên giáng thẳng xuống đáy cối đá, phát ra một âm thanh trầm đục, dội sâu vào lòng đất. Đó không đơn thuần là việc dùng sức đập phá, mà là một vũ điệu lao động đòi hỏi sự hòa quyện tuyệt đối giữa cơ bắp, nhịp thở và cảm giác tinh tế của đôi bàn tay qua năm tháng. Không được giã thẳng cánh cho nát vụn thành giò sống, cũng không được để miếng thịt mực bị sống sượng, nửa nạc nửa mỡ. Mỗi nhát chày hạ xuống phải dứt khoát, người giã hơi lắc nhẹ cổ tay xoay đầu chày một góc nghiêng vừa phải để từng thớ thịt mực nang dày dặn tự vặn xoắn, xé rách cấu trúc sợi protein, giải phóng chất đạm tự nhiên rồi tự chúng quyện chặt vào nhau thành một khối bột dẻo quánh.

Chỉ sau mươi phút, khối thịt mực bắt đầu kết dính lại, dẻo quánh đến mức chiếc chày gỗ lim nhấc lên nghe tiếng *nhóp… nhép* nặng trịch. Từng giọt mồ hôi túa ra trên trán, chảy dọc theo những nếp nhăn trên má ông Dụ rồi rớt xuống nền đá. An thấy thế liền xắn tay áo, bước tới ngỏ ý xin được giã thử mẻ chả. Nhưng hỡi ôi, chiếc chày lim trong tay ông Dụ uyển chuyển là thế, mà khi sang tay An lại nặng như một khúc sắt. Cô chỉ giáng được chừng mười nhịp chày, hai khớp cổ tay đã rã rời như sắp gãy, nhịp đập chao đảo khiến đầu chày trượt lệch vào thành cối đá đánh *chát* một tiếng khô khốc, mẻ chả suýt nữa văng ra ngoài.

Bà Dụ mỉm cười hiền từ, đón lại chiếc chày từ tay An rồi ngồi bệt xuống mép cối. Đôi tay thoăn thoắt của bà nhấc một chiếc thìa nhôm nhỏ, rắc vào cối một thìa hành khô băm nhuyễn đã được phi se mặt qua mỡ lợn, một nhúm hạt tiêu sọ Phú Quốc đập giập thơm nồng và rưới thêm vài giọt nước mắm cốt sá sùng Quan Lạn sẫm màu cánh gián. Mùi thơm của nước mắm sá sùng ngào ngạt bốc lên, hòa lẫn với vị nồng cay của tiêu sọ và mùi thơm ngọt thanh của thịt mực tươi sống.

Khi khối thịt mực trong cối đã đạt đến độ quánh dẻo tuyệt đối — dẻo đến mức bà Dụ dùng đầu ngón tay nhấc lên có thể kéo thành một dải mỏng trong suốt mà không đứt gãy — bà mới trút toàn bộ phần râu và vây mực thái hạt lựu vào cối. Bà dùng một chiếc muôi gỗ mun đảo thật đều tay, miết nhẹ từng vòng quanh thành cối để từng hạt râu mực len lỏi đều khắp khối chả, tạo nên cái giòn sần sật nổ lách tách trong miệng khi thưởng thức.

Trong lúc ông Dụ ngồi tựa lưng vào bậu cửa hiên hút tiếp điếu thuốc lào thứ hai để lấy lại sức, An nắn nót mở cuốn sổ tay bìa da, cẩn thận ghi chép lại từng tỷ lệ nguyên liệu, độ ẩm của miếng mực và kỹ thuật xoay cổ tay khi giã chày. Ánh mắt ông Dụ tình cờ dừng lại trên chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ cổ kính mà An đặt trên góc bàn trà bằng gỗ thông xẻ.

Đôi mắt đùng đục của người ngư dân bỗng nheo lại, hàng lông mày hoa râm nhíu chặt:

— Cháu này… cái hoa văn cành lá khắc chéo cùng với dấu triện mộc chìm ở góc chiếc hộp gỗ kia… sao mà quen mắt thế?

An ngẩng đầu lên, ngạc nhiên nhìn ông Dụ:

— Dạ? Ông từng thấy hoa văn này ở đâu rồi ạ?

Ông Dụ buông điếu bát xuống, ngón tay run rẩy chỉ vào vết chạm khắc hình cành lá liễu đan chéo trên mép hộp mun:

— Hồi những năm bảy mươi của thế kỷ trước, mẹ tôi còn làm cấp dưỡng ở Trại an dưỡng thương bệnh binh ven biển của Quân chủng Hải quân đóng ngoài đảo Tuần Châu. Đợt ấy không quân Mỹ đánh phá ác liệt các bến phà vùng duyên hải, có một đoàn cấp dưỡng hậu cần đặc biệt của Quân khu Hữu Ngạn từ mạn sông Đáy được điều động ra chi viện để chăm lo khẩu phần phục hồi cho thương binh nặng. Trong đoàn ấy có một bà tên là Mùi, người dong dỏng cao, tay thoăn thoắt khéo léo lạ lùng.

Ông Dụ ngửa mặt nhìn lên mái ngói xám xịt, ký ức nửa thế kỷ trước như ùa về nguyên vẹn:

— Chính bà Mùi ấy đã dạy cho lò cháo của trại an dưỡng cách tận dụng mai mực nang đem sao vàng hạ thổ, rồi ninh nhừ cùng xương lợn và củ dong riềng để lấy nước dùng ngọt đậm đà, bổ tủy mát gan. Thân mực nang tươi thì đem nướng trên than hoa rồi xé tơi thành sợi như ruốc, rắc lên bát cháo hoa cho các chiến sĩ bị thương nặng không nuốt được cơm ăn lấy lại sức. Chiếc hòm gỗ nhỏ đựng dao kéo, cân tiểu ly và đồ nghề nêm nếm gia vị của bà ấy mang theo từ đất liền ra đảo… cũng có y hệt một cái dấu mộc hình cành lá đan chéo như trên chiếc hộp của cháu!

Lồng ngực An thắt nghẽn lại trong một nhịp thở nghẹn ngào. Đầu ngón tay cô run run chạm nhẹ lên mép hộp gỗ mun mát lạnh. Vết mộc của đơn vị cấp dưỡng thời chiến mờ nhạt dưới lớp sơn bóng, nay bỗng phát lộ như một mạch ngầm lịch sử âm thầm chảy suốt hơn nửa thế kỷ, vượt qua bao ghềnh thác bom đạn và thời gian để rồi bất ngờ va chạm vào bờ vịnh mặn mòi đầy bão gió này. Ký ức về bà Mùi, về những con người thầm lặng đứng sau căn bếp thời chiến, chưa bao giờ tắt; nó chỉ lặng lẽ kết tinh lại trong từng thớ gỗ, từng công thức nấu nướng vì con người.

Đúng lúc bà Dụ chuẩn bị xoa một lớp mỡ lợn mỏng lên hai lòng bàn tay để nặn mẻ chả đầu tiên thành những miếng tròn dẹt thả vào chảo mỡ đang sôi tăm tắp trên bếp than hồng, một tiếng động chát chúa ngoài cổng phá tan bầu không khí trầm lắng.

*Rầm!*

Cánh cổng sắt han gỉ bị xô mạnh vào tường gạch. Tiếng gót ủng cao su dộng từng bước nặng nề, dằn dỗi trên nền sân lát đá xanh.

Thắng — người con trai cả ba mươi hai tuổi của ông Dụ — bước xộc vào sân. Cậu ta mặc chiếc áo gió sờn rách viền màu đỏ của hội thuyền viên viễn dương, khuôn mặt hốc hác, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ quạch vì mất ngủ nhiều đêm và men rượu tồn dư. Người Thắng sực lên mùi dầu máy nồng nặc quyện với mùi cá ươn và hơi nước biển luộc dầm dề. Cậu ta không thèm nhìn mẻ chả mực dẻo quánh đang tỏa khói thơm trên chiếc bàn gỗ, thẳng tay quẳng tập hồ sơ bọc trong túi nilon đùng đục lên chiếc phản gỗ lim, giọng nói khô khốc như tiếng đá cọ vào nhau:

— Bố mẹ ký vào cái giấy chuyển nhượng vỏ tàu cho bên bãi xà lan sông Chanh đi. Con vừa ra bến chốt giá dứt điểm với người ta rồi: đúng một trăm hai mươi triệu, không bớt một xu. Họ chuẩn bị cho xe cẩu vào kéo xác tàu đi tháo dỡ sắt vụn.

Bàn tay đang cầm chiếc đũa cả bằng tre của bà Dụ khựng lại giữa không trung. Đôi đũa dừng sững, vài giọt mỡ lợn trong vắt từ đầu đũa rỏ xuống mép chảo than xèo xèo bốc lên một làn khói mỏng.

— Mày nói cái gì? — Giọng ông Dụ trầm xuống, lạnh buốt và đanh lại hơn cả luồng gió biển ngoài lộng thổi qua rạn đá. — Con tàu gỗ ấy là mồ hôi nước mắt của ông nội mày truyền lại cho tao, ba đời nhà này dựa vào lườn gỗ của nó mà vượt qua bao trận bão giật cấp mười hai, nuôi sống cả cái nhà này khôn lớn. Giờ mày đem bán cho người ta xẻ thịt làm sắt vụn à?

— Không bán xẻ thịt thì để nó mục rữa dưới bùn lầy bến bãi à bố? — Thắng gằn giọng, bước dấn thêm một bước về phía cối đá, hai bàn tay nắm chặt lại run lên bần bật. — Bố nhìn thẳng vào cái thùng mực đêm qua bố vừa đem về đi! Bố đừng có tự lừa dối mình nữa! Bảy tiếng đồng hồ vật lộn ngoài lộng gió rét, tiền dầu chạy máy hết sáu trăm nghìn, tiền đá bào ướp lạnh, tiền hao mòn máy móc dây câu, thu về đúng sáu con mực lèo tèo! Bán sạch cả mớ ấy đi cũng không đủ bù một nửa tiền dầu! Biển cạn trơ bùn rồi bố ơi! Rạn san hô chết trắng hết rồi!

Thắng giơ cánh tay gân guốc chỉ thẳng ra hướng luồng lạch ngoài cảng:

— Giờ người ta gom vốn sắm cano cao tốc động cơ kép, chạy tour chở khách du lịch đi lặn ngắm san hô, câu cá giải trí ngoài vịnh Bái Tử Long, mỗi ngày kiếm vài ba triệu bạc nhẹ tênh, nắng không tới mặt mưa chẳng tới đầu! Con gom nốt tiền bán cái xác tàu cũ này, vay mượn thêm ngân hàng để đặt cọc chiếc cano ba mươi chỗ ngồi. Nhà mình không thể cứ ôm khư khư cái nghề đâm đầu vào sóng gió biển khơi rồi chờ chết đói được! Bố mẹ tỉnh lại đi!

Bà Dụ ngồi thụp xuống bậu cửa hiên, hai bờ vai gầy guộc run rẩy. Chiếc tạp dề vải hoa nhăn nhúm lại dưới những ngón tay khô cằn đang bấu chặt lấy mép vải. Không có một tiếng khóc nào bật ra, chỉ có sự bất lực đến nghẹt thở bao trùm lấy gian nhà. Đó là nỗi đau đớn đến xé lòng của những con người biển cả, khi phải tận mắt chứng kiến sinh kế máu thịt ba đời của tổ tiên dần rạn nứt và sụp đổ trước sự suy kiệt tàn nhẫn của thiên nhiên.

Giữa lúc bầu không khí trong sân căng thẳng như một sợi dây đàn sắp đứt, chuông điện thoại trong túi quần Thắng và chiếc điện thoại bàn phím số cũ kỹ của bà Dụ đặt trên nóc tủ bỗng đồng loạt réo vang inh ỏi.

Tiếng chuông dồn dập, gắt gỏng như xé rách sự im lặng ngột ngạt. Thắng nhấc máy, áp vào tai. Sắc mặt cậu ta thoạt tiên là vẻ ngơ ngác, cau mày khó hiểu, nhưng chỉ sau vài giây lắng nghe, toàn bộ sắc máu trên mặt Thắng bỗng chốc rút cạn, chuyển sang một màu trắng bệch như xác chết:

— Cái gì? Thu hồi hàng? Hóa chất tẩy trắng nào? Anh nói lăng nhăng cái quái gì thế… cơ sở nhà tôi xưa nay… Alo? Alo!

Cùng lúc đó, bà Dụ cũng lập cập cầm lấy chiếc điện thoại bàn phím. Đầu dây bên kia là giọng the thé đầy phẫn nộ của một chủ sạp hải sản lớn ngoài chợ trung tâm thị trấn:

— Bà Dụ đấy à? Tôi báo cho bà biết, toàn bộ hai mươi cân chả mực sáng nay tôi hủy hết! Cả thị trấn người ta đang share ầm ầm cái clip xưởng nhà bà trên mạng kìa! Bán đồ tẩm hóa chất cho người ta ăn để thất đức à? Mang đồ về ngay, đừng có vác mặt ra chợ nữa!

An lập tức rút chiếc điện thoại thông minh từ túi áo ra, ngón tay thoăn thoắt lướt trên màn hình. Ngay trên trang nhất của một fanpage ẩm thực có tích xanh thuộc hệ sinh thái truyền thông của Công ty Cổ phần Vị Việt, một đoạn video ngắn vừa được tải lên cách đó chưa đầy một tiếng với dòng tiêu đề giật gân, in hoa đậm nét:

*"KINH HOÀNG CÔNG NGHỆ LÀM CHẢ MỰC GIÒN DAI BẰNG HÓA CHẤT TẨY TRẮNG TẠI CƠ SỞ THỦ CÔNG VÂN ĐỒN"*.

Đoạn video mở đầu bằng những góc quay lén nghiêng ngả, rung lắc đầy kịch tính từ ngoài hàng rào dâm bụt nhìn vào sân xưởng của ông Dụ. Bằng thủ pháp cắt cúp và lồng ghép vô cùng xảo quyệt, hình ảnh bà Dụ đang dùng muôi múc từng vốc bột màu trắng đổ vào chậu ngâm mực đã bị phóng to cực đại, rồi ngay lập tức chuyển cảnh sang cận cảnh những bao tải hóa chất công nghiệp in nhãn hiệu chữ nước ngoài trôi nổi với các ký hiệu đầu lâu xương chéo cảnh báo nguy hiểm.

Giọng thuyết minh bằng âm thanh trí tuệ nhân tạo đanh thép, lạnh lùng dẫn dắt người xem vào một kết luận ghê rợn: cơ sở thủ công này đã sử dụng chất tẩy trắng công nghiệp cực mạnh để biến mực ươn thối, mực chết trôi dạt thành thịt mực tươi giòn, dẻo dai nhằm lừa dối người tiêu dùng cả nước.

An nhận ra ngay góc quay hiểm hóc ấy. Đó chính là vị trí đứng của hai gã thanh niên mặc áo khoác đen, xách ba lô máy ảnh cồng kềnh từng lởn vởn giả vờ hỏi mua chả mực lưu niệm ở cổng xưởng lúc sáng sớm, khi chiếc thuyền vừa cập bến.

Một thủ đoạn bẩn thỉu mang đậm dấu ấn quen thuộc của Đỗ Thành Vinh: dàn dựng một cuộc khủng hoảng truyền thông giả tạo về an toàn vệ sinh thực phẩm, dồn ép một cơ sở làm nghề truyền thống có tiếng vào bước đường cùng của sự tẩy chay dư luận, để rồi sau đó xuất hiện như một "vị cứu tinh" với hợp đồng thâu tóm, ép buộc họ phải bán rẻ thương hiệu và sáp nhập vào chuỗi cung ứng công nghiệp khép kín mà Vị Việt đang ráo riết bành trướng dọc theo bờ biển duyên hải Đông Bắc.

Chỉ trong vòng chưa đầy ba mươi phút, hiệu ứng dây chuyền độc hại đã phát tác khủng khiếp. Điện thoại của gia đình liên tục đổ chuông báo hủy đơn từ tất cả các nhà hàng hải sản lớn tại Bãi Cháy, Tuần Châu cho đến các đầu mối bán lẻ ở chợ phiên. Ngoài con ngõ đá xanh, tiếng bước chân xì xào của những người hàng xóm bắt đầu tụ tập, những ánh mắt chỉ trỏ soi mói, dè bỉu và nghi kỵ bắn thẳng vào góc sân.

Ông Dụ đứng chết sững bên cạnh cối đá xanh. Bàn tay gân guốc của người cựu binh già nắm chặt lấy thân chày gỗ lim, các khớp xương run lên bần bật vì một nỗi uất ức tột cùng. Nỗi oan khiên từ trên trời rơi xuống quá nhanh, quá tàn nhẫn, giáng thẳng vào danh dự của một gia đình cả đời sống thẳng thắn, thanh sạch như cây sú, cây vẹt bám rễ nơi bãi mặn.

— Khang! — Tiếng An vang lên đanh gọn, dứt khoát xé toạc bầu không khí hoảng loạn. Ánh mắt cô lóe lên một tia sáng sắc sảo của một phóng viên điều tra dạn dày sương gió. — Mang toàn bộ ổ cứng di động, máy tính và đầu đọc thẻ nhớ ra bàn xe Bếp Nhỏ ngay lập tức!

Bản năng nghề nghiệp và phẩm giá của một người làm bếp chân chính trong An trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cô không cho phép sự sợ hãi hay suy sụp làm tê liệt lý trí. An bước nhanh tới bên chậu nhôm của bà Dụ, với tay nhấc chiếc túi nilon đựng thứ bột màu trắng đang đặt ngay ngắn trên kệ bếp gạch:

— Bà Dụ, thứ bột màu trắng trong đoạn clip chúng nó quay lén, chính là túi muối hạt hầm Diêm Điền này đúng không bà?

— Đúng rồi cháu ơi! — Bà Dụ mếu máo, nước mắt trào ra giàn giụa trên đôi gò má nhăn nheo, hai tay run rẩy giơ chiếc túi muối còn nguyên tem nhãn của làng nghề muối cổ truyền. — Nhà tôi xưa nay làm chả chỉ rửa mực bằng nước giếng khơi với muối hầm này để khử tanh nhờn, chưa từng cho một giọt hóa chất nào vào mồm người ta! Trời đất ơi, ba đời nhà tôi làm ăn lương thiện, sao chúng nó nỡ lòng vu oan giáng họa thế này!

— Khang, trích xuất toàn bộ tệp ảnh gốc RAW và chuỗi video time-lapse độ phân giải cao mà anh đã bấm máy từ lúc thuyền cập bến: từ cảnh bà Dụ đổ muối hầm vào chậu nước, cảnh thấm khô từng con mực, cho đến quy trình giã mực bằng chày gỗ, — An quay sang Khang, giọng nói khúc chiết từng chữ. — Giữ nguyên toàn bộ thông số metadata nguyên bản: thời gian chụp từng giây một, tọa độ định vị GPS và thông số phơi sáng của từng khung hình!

Cùng lúc đó, An bấm số gọi thẳng cho Trạm kiểm dịch động vật và bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện Vân Đồn — cơ quan chức năng mà chiếc xe lưu động Bếp Nhỏ đã hoàn tất thủ tục đăng ký kiểm dịch nguồn nguyên liệu tươi sống khi vừa tiến vào địa phận vịnh. Nhận thấy tính chất nghiêm trọng của vụ việc có dấu hiệu phá hoại sản xuất tiểu thủ công nghiệp địa phương, một cán bộ phụ trách kiểm dịch cùng hai thanh tra viên của Đội Quản lý thị trường huyện đã có mặt tại xưởng chỉ sau mười lăm phút theo đề nghị phối hợp xác minh khẩn cấp của An.

Ngay tại hiện trường, một chiếc bàn dã chiến được lập ra giữa sân. Cán bộ kiểm dịch tiến hành lập biên bản mở niêm phong, lấy mẫu thử ngẫu nhiên từ khối chả mực nang vừa giã xong trong lòng cối đá. Khang mở máy tính xách tay đặt ngay trên thùng xe Bếp Nhỏ, kết nối trực tiếp với màn hình thiết bị đo test nhanh hóa chất của đội thanh tra.

Ống nghiệm đổi màu trong vắt. Mẫu thử cho kết quả âm tính hoàn toàn với hàn the (borax), sodium hydrosulfite (chất tẩy trắng công nghiệp) và các hợp chất polyphosphate tạo giòn nhân tạo. Độ đàn hồi và độ kết dính quánh dẻo tuyệt đối của khối chả được chứng minh hoàn toàn bắt nguồn từ mạng lưới liên kết protein tự nhiên của thịt mực nang tươi sống được giã thủ công đúng kỹ thuật khi sợi cơ chưa bị phá hủy nhiệt.

Đồng thời, cuốn sổ nhật ký đánh bắt sạch của con thuyền vỏ gỗ nhà ông Dụ — có ghi chép chi tiết tọa độ hải trình đánh dấu vùng lộng lân cận, nhật ký thả lưới và đặc biệt là con dấu đỏ tươi kèm chữ ký xác nhận của Trạm Kiểm soát Biên phòng Cái Rồng lúc thuyền rời bến lúc chín giờ tối qua và nhập bến lúc sáu giờ sáng nay — được trình ra nguyên vẹn trước sự chứng kiến của cơ quan chức năng.

Bên trong thùng xe Bếp Nhỏ, Khang đeo tai nghe chống ồn, mười đầu ngón tay lướt thoăn thoắt trên bàn phím cơ như múa lượn để truy vết ngược luồng dữ liệu số. Dòng mã lệnh xanh lét chạy cuồn cuộn trên màn hình đen. Sau một cú gõ phím dứt khoát, Khang ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc như dao cạo:

— Đúng như dự đoán của chúng ta, An. Đoạn video gốc được tải lên mạng xã hội thông qua một tài khoản ẩn danh, nhưng địa chỉ IP nguồn phát tín hiệu gốc xuất phát trực tiếp từ dải mạng nội bộ thuộc văn phòng đại diện truyền thông của Vị Việt đặt tại tầng 5 một tòa nhà thương mại ở thành phố Hạ Long. Bọn chúng đã lên kịch bản dàn dựng, chuẩn bị sẵn hình ảnh bao bì hóa chất từ trước để ghép vào nhằm bóp nghẹt cơ sở này!

Không chậm trễ một giây phút nào, An ngồi bệt xuống bậc lên xuống của xe Bếp Nhỏ, đặt chiếc máy tính cá nhân lên đầu gối. Bằng ngòi bút sắc bén của một người từng nhiều năm xông pha nơi tuyến đầu của các phóng sự điều tra kinh tế ẩm thực, An bắt đầu gõ bài viết phản biện với tựa đề:

*"SỰ THẬT SAU CHIẾC CỐI ĐÁ TRÊN VỊNH MẶN: ĐÒN BẨN TRUYỀN THÔNG VÀ PHẨM GIÁ CỦA MỘT MẺ CHẢ MỰC GIÃ TAY"*.

Từng câu, từng chữ của An đanh thép, khúc chiết và tràn đầy sức nặng của sự thật:

Cô công khai toàn bộ biên bản kiểm định hóa nghiệm âm tính có dấu đỏ tươi của Đội Quản lý thị trường và Trạm Kiểm dịch thủy sản; đính kèm bản scan cuốn nhật ký hải trình có xác nhận của biên phòng; đặt cạnh nhau hai bức ảnh đối chiếu sắc nét giữa một bên là hình ảnh cắt ghép mờ ảo trong clip bẩn và một bên là chuỗi ảnh RAW nguyên bản ghi lại cảnh hạt muối hầm thô sơ Diêm Điền tan trong làn nước giếng khơi. Cuối cùng, An tung ra bằng chứng kỹ thuật số không thể chối cãi: ảnh chụp màn hình phân tích địa chỉ IP truy nguyên tận sào huyệt truyền thông của Vị Việt tại Hạ Long.

Thông qua sự hỗ trợ phát hành khẩn cấp từ nhà báo Phạm Quỳnh Lam tại tòa soạn Tạp chí Dọc Đường, bài báo điều tra minh oan kèm theo toàn bộ hồ sơ chứng cứ pháp lý được đẩy đồng loạt lên các chuyên trang báo điện tử chính thống và các diễn đàn người tiêu dùng ẩm thực uy tín nhất cả nước ngay trước mười hai giờ trưa.

Hiệu ứng đảo chiều diễn ra với tốc độ kinh hoàng.

Làn sóng phẫn nộ của cộng đồng mạng lập tức quay ngoắt một trăm tám mươi độ, chĩa mũi dùi công lý vào hành vi bôi nhọ kinh doanh bẩn thỉu của Vị Việt. Đoạn video vu khống bị hàng chục nghìn người dùng đồng loạt báo cáo vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng, buộc nền tảng mạng xã hội phải gỡ bỏ vĩnh viễn và khóa tài khoản phát tán.

Ngay đầu giờ chiều, chiếc chuông điện thoại của bà Dụ lại vang lên liên hồi, nhưng lần này không còn là những lời thoái mạ hay hủy đơn, mà là những lời xin lỗi chân thành từ các chủ sạp, các nhà hàng hải sản cùng những đơn đặt hàng dồn dập gấp đôi, gấp ba ngày thường để ủng hộ một gia đình dám đứng lên bảo vệ sự trong sạch của nghề truyền thống. Danh dự ba đời gìn giữ bên chiếc cối đá xanh của gia đình ông Dụ đã được bảo vệ một cách trọn vẹn và kiêu hãnh trước mắt toàn thể xóm làng.

Khi ánh mặt trời buổi chiều muộn bắt đầu buông xuống, vịnh Bái Tử Long rực lên một sắc vàng cam kỳ ảo của buổi hoàng hôn mùa đông. Những rặng núi đá vôi xa xa sẫm lại thành những khối lam trầm mặc gối đầu lên sóng nước.

Trong gian bếp nhỏ của ông bà Dụ, ngọn lửa than hoa rực hồng ấm áp. Mùi mỡ lợn thơm ngậy quyện với hương chả mực chiên ngào ngạt lan tỏa khắp ngõ ngách thị trấn ven biển. Từng miếng chả mực nang dày dặn, vàng ruộm như những vầng trăng rằm nhỏ, nổi bồng bềnh trên chảo mỡ sôi lăn tăn. Khi vớt ra để ráo trên chiếc vỉ tre, lớp vỏ ngoài giòn rụm óng ánh sắc vàng, nhưng khi dùng tay bẻ đôi hay cắn ngập chân răng, bên trong lại dẻo quánh, ngọt lịm vị đạm biển khơi tươi rói và giòn sần sật từng hạt râu mực thái lựu quyện chặt trong từng thớ thịt.

Bà Dụ run run gói cẩn thận một bọc chả mực còn nóng hổi vào chiếc lá chuối tươi, bọc thêm một lớp giấy báo sạch bên ngoài rồi trân trọng trao tận tay cho An. Đôi mắt người đàn bà miền biển rưng rưng những giọt lệ cảm kích, bà nắm chặt lấy bàn tay An mà không thốt nên lời.

An mỉm cười đón nhận gói quà mặn mòi ấy. Cô nhẹ nhàng mở nắp chiếc hộp gỗ mun, rút tấm thẻ công thức số 8 bằng giấy bồi thô ráp ra, chấm ngòi bút mực đen nắn nót viết từng nét chữ vuông vức:

*"Chả mực nang giã tay Vân Đồn — Vị ngọt từ mồ hôi và lòng kiên định không phụ gia"*.

Phía ngoài luồng lạch cảng cá, một hồi còi tàu du lịch hú vang lên inh ỏi, chói gắt.

Một chiếc cano cao tốc vỏ composite bóng loáng, chở đầy những du khách mặc áo phao màu cam sặc sỡ rồ ga phóng vút qua cửa vụng. Chiếc cano xé toạc mặt nước biển êm ả thành hai vệt sóng bạc trắng xóa, cuốn phăng những mảng rong biển trôi dạt dạt vào chân những trụ cầu cảng cũ kỹ đang tróc lở từng mảng bê tông.

Thắng đứng lặng lẽ bên cột buồm chiếc tàu gỗ ba đời của gia đình, ngón tay kẹp chặt tờ giấy chuyển nhượng vỏ tàu đã ký sẵn, đôi mắt đỏ ngầu đăm đăm nhìn theo con tàu du lịch đang lướt đi vun vút trong ráng chiều vàng vọt.

Nhìn đoàn tàu khách ầm ĩ xé toạc làn nước xanh vịnh biển, ông Dụ buông chày thở dài: "Biển hết mực thì người phải đổi nghề, nhưng nghề mất tên thì lấy gì bù?"

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories