Màu Nắng Trong Chum Tương
Rời bãi xe ngổn ngang cát sỏi ở ngoại ô Hà Nội trong sự căng thẳng nghẹt thở sau khi Khang phát hiện thiết bị định vị lạ gắn ngầm dưới gầm máy, chiếc xe tải cũ của Bếp Nhỏ rẽ ngoặt vào con đường đất đỏ trung du, nơi những triền đồi bạt ngàn đỗ tương đang vào vụ phơi mình dưới cái nắng hanh rát bỏng.
Suốt gần ba tiếng đồng hồ cắn răng vượt qua những chặng đường xóc nảy từ cửa ngõ thủ đô ngược lên dải đất trung du gập ghềnh, không gian chật hẹp trong cabin xe đặc quánh một sự im lặng nặng nề như chì đúc. Khang cầm vô lăng bằng vẻ mặt đanh lại, từng đường gân trên quai hàm bạnh ra, hai quầng mắt thâm sì vì những đêm dài thức trắng chong đèn bên xưởng máy và những lo toan chưa từng nói thành lời. Trên mặt táp-lô bám một lớp bụi đỏ mỏng, khối kim loại đen bóng chỉ nhỉnh hơn bao diêm một chút đã bị anh dùng kìm mũi nhọn cạy bung lớp vỏ nhựa chống nước; bo mạch bán dẫn màu xanh lục cùng khe cắm chiếc sim 4G trơ trọi nằm phơi ra đó dưới ánh nắng ban trưa, sắc lạnh và tàn nhẫn như một chứng cứ không lời về sự phản bội rình rập.
Thỉnh thoảng, mỗi khi phải đạp côn dừng lại trước một ngã tư liên huyện vắng vẻ hay đánh lái né những chiếc xe công nông chở đầy sắn lát khô khốc, ngón tay cái chai sần của Khang lại vô thức miết nhẹ lên mép con chip vi xử lý nhỏ xíu. Tiếng kim loại va lách cách vào mặt nhựa nghe khô khốc. Ánh mắt anh lạnh băng lướt qua khoảng trống vô định phía trước kính chắn gió, nhìn hút vào những vạt cỏ may ven đường mà tuyệt nhiên không quay sang nhìn An lấy một lần.
An ngồi thu mình bên ghế phụ, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối, ngực thắt lại trước sự im lặng dằng dặc ấy. Cô biết Khang giận. Đó không phải là cơn giận bộc phát với những tiếng gầm thét hay đập phá mặt bàn như người ta vẫn thường thấy ở những kẻ nóng nảy, mà là nỗi cay đắng âm ỉ, lạnh buốt của một người thợ kỹ thuật chất phác cảm thấy lòng tin mộc mạc của mình bị đem ra đánh cược trong một ván bài mờ ám. Tấm thẻ công thức số năm ghi lại tinh hoa phở bò đã được Lam ký duyệt in; ba dị bản phở Bát Đàn công phu đã nằm ngay ngắn trên khuôn kẽm của ấn bản *Dọc Đường* sắp sửa ra mắt độc giả cả nước; thế nhưng món nợ bốn mươi triệu đồng tiền viện phí của mẹ ở quê nhà cùng bức thư úa vàng từ Đồng Hới năm 1972 vẫn treo lơ lửng như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên từng nhịp thở của cô. Cô đã không nói hết sự thật với Khang ngay từ đầu, và sự giấu giếm ấy, dù xuất phát từ nỗi cùng quẫn, giờ đây đang biến thành bức tường vô hình ngăn cách hai con người từng chia nhau từng mẩu bánh mì khô khốc trên những cung đường gió bụi.
Con đường đất đỏ gồ ghề đầy những ổ gà lởm chởm đưa họ vượt qua những rặng cọ xòe ô che mát triền đồi và những vạt chè xanh mướt ngút ngàn, uốn lượn men theo sườn dốc rồi dẫn thẳng xuống một doi đất phù sa màu mỡ bồi tụ ven khúc cong hiền hòa của dòng sông Thao. Đất ở đây mang màu nâu đỏ thẫm, ngậm đầy phù sa sông mẹ và phơi mình dưới những luồng gió lộng. Gió từ mặt nước cuộn lên, xua đi cái oi bức ngột ngạt trong khoang xe, mang theo thứ mùi rất đỗi đặc trưng của một vùng thổ nhưỡng kỳ lạ: mùi ngai ngái nồng đượm của bùn bãi ven sông quyện chặt với hương thơm bùi béo, ngầy ngậy, khen khét của đỗ tương cắn hạt rang đều tay trên bếp củi, và thoang thoảng đâu đây là vị ngọt thanh khiết, nồng say của xôi nếp cái hoa vàng đang lên men ủ ấm trong những nong nia lót rơm nếp.
Chiếc xe tải từ từ giảm tốc, lốp xe nghiến rào rạo trên lớp sỏi vụn rồi lăn bánh qua cánh cổng tre mở rộng, dừng lại trước một cơ ngơi làm tương thủ công bề thế nhưng giữ trọn vẻ mộc mạc của làng quê Bắc Bộ.
Hiện ra trước mắt An và Khang là một khoảng sân gạch Bát Tràng rộng thênh thang, trải dài ngút tầm mắt sát tận mép bờ dâu xanh ngắt ven sông. Dưới cái nắng chói chang, vàng rực như mật ong của buổi trưa trung du, khoảng sân gạch đỏ au như bốc khói. Trên nền gạch nung ấy là hàng trăm chiếc chum sành cổ màu da lươn bóng loáng, bụng phình tròn đều tăm tắp, miệng chum bịt vải nâu cẩn thận, xếp ngay ngắn thành từng hàng dài thẳng tắp như một đội quân trầm mặc đang lặng lẽ đón nhận tinh hoa của nắng gió trời đất. Hơi nóng từ mặt gạch bốc lên làm không khí xung quanh những chiếc chum chao nghiêng mờ ảo, mang theo mùi hương tương ngấu nồng nàn, đậm đà đến mức chỉ cần hít sâu một hơi cũng cảm thấy cuống họng ngọt lịm vị đạm thực vật.
Từ phía gian nhà kho lợp ngói âm dương rêu phong, một bóng dáng nhỏ nhắn vội vã rảo bước ra đón họ. Cô gái mặc chiếc áo blouse trắng tinh xắn cao quá khuỷu tay, đầu đội chiếc nón lá đã ngả màu rơm rạ, đôi chân mang ủng cao su màu xanh lấm tấm những vệt đất đỏ. Đó là Trần Ngọc Huyền.
Huyền trạc tuổi An, từng tốt nghiệp loại giỏi ngành Công nghệ sinh học và Thực phẩm tại Hà Nội. Ba năm trước, cô đã đưa ra một quyết định khiến bạn bè cùng khóa không khỏi kinh ngạc: từ bỏ vị trí nghiên cứu viên đầy triển vọng với mức lương nghìn đô tại một tập đoàn thực phẩm đa quốc gia để gia nhập mạng lưới "Những Người Trẻ Trở Về". Cô gái trẻ gom góp tất cả kiến thức về vi sinh vật học hiện đại quay về bên bờ sông Thao, quyết tâm tiếp quản, chuẩn hóa và bảo tồn xưởng làm tương gia truyền năm đời của dòng họ mình trước nguy cơ mai một.
"Chào chị An! Chào anh Khang!" Huyền vừa bước thoăn thoắt qua những hàng chum vừa tháo chiếc khẩu trang y tế, nở một nụ cười rạng rỡ làm lộ hai chiếc răng khểnh rất duyên. Đôi mắt sau cặp kính cận gọng đồi mồi ánh lên sự tháo vát, tự tin của người quen làm việc thực địa. "Mấy hôm nay nghe chị Lam gọi điện báo đoàn Bếp Nhỏ đang ngược đường lên trung du, em mong mãi. Chum nương ngoài sân nhà em đang vào đúng đợt ngả nước đẹp nhất trong năm, nắng mấy bữa nay hanh hao, hanh vàng đúng độ lắm, nước tương xuống màu cánh gián vừa sâu vừa đượm."
Huyền đon đả dẫn An và Khang luồn qua những lối đi hẹp giữa các hàng chum sành ấm sực hơi men. Đi đến gần giữa sân, nơi có những chiếc chum cổ nhất được kê cao trên những bệ đá xanh, An nhìn thấy một bóng người cao tuổi đang đứng lom khom. Đó là ông nội của Huyền, một nghệ nhân làm tương lão thành đã ngoài tám mươi tuổi, người được xem như "pho sử sống" về nghề ủ men nếp của cả một vùng ven sông Thao.
Ông cụ mặc bộ quần áo bà ba bằng vải dệt nhuộm củ nâu đã bạc phếch theo năm tháng, hai vạt áo trước buộc thắt nút ngang hông cho gọn gàng. Dáng người ông quắt queo như một gốc cọ già dãi dầu nắng gió, nhưng đôi bàn tay gân guốc lại cực kỳ chuẩn xác trong từng cử động; những kẽ móng tay nhuốm màu cánh gián sẫm - dấu vết của hàng chục năm ròng rã ngâm mình trong thứ nước tương ngấu đặc. Trong tay ông là một thanh đó bằng tre cật cành cạch gõ nhẹ vào miệng sành, thân đó nhẵn thín, bóng loáng như ngọc bích vì ma sát qua hàng vạn lần khuấy tương dưới nắng trưa.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên gạch vỡ và tiếng ríu rít của đứa cháu gái, ông cụ chậm rãi dừng tay đó, xoay người lại. Đôi mắt già nua sâu hoắm nhưng quắc thước, ánh lên cái nhìn nghiêm nghị và đầy vẻ cảnh giác của một bậc tiền bối cả đời giữ nghề gia truyền trước những kẻ lạ mặt từ thành phố tìm về.
"Chào cụ ạ," An lễ phép đứng lại, hai tay khoanh trước ngực cúi đầu chào.
Ông cụ không đáp lời ngay. Ánh mắt ông lướt qua chiếc ba lô lỉnh kỉnh máy ảnh, sổ ghi chép của An, rồi dừng lại thật lâu trên gương mặt lầm lì, đầy vẻ phòng thủ của Khang. Cuối cùng, ông cụ quay sang nhìn cháu gái, giọng khàn khàn nhưng sang sảng: "Lại dắt mấy người làm báo, làm phim về đấy à? Tôi đã bảo với cô bao nhiêu lần rồi, cái nghề ủ tương nếp này nó nhờ trời, nhờ đất, nhờ cái đức tích tụ của tổ tiên mà thành, có cái gì lạ lẫm đâu mà cứ phải vác máy vác móc về ghi chép với đo đạc làm khổ người ta?"
Huyền bước nhanh tới bên cạnh ông, bàn tay thon nhỏ đặt lên cánh tay gầy guộc của ông cụ, giọng nũng nịu pha chút phân trần: "Kìa ông! Đây là chị An và anh Khang bên dự án Bếp Nhỏ mà con kể với ông tuần trước đấy. Chị An đi điền dã thực tế để ghi chép lại các công thức ủ men truyền thống, tìm hiểu cái gốc cái rễ của hạt tương cho tạp chí văn hóa, không phải đoàn quay phim thương mại hay quảng cáo đâu ông."
Ông nội Huyền hừ khẽ một tiếng trong cổ họng, vẻ mặt vẫn chưa vơi sự hoài nghi. Ông không nói thêm, chỉ đưa chiếc đó tre khuấy nhẹ một vòng tròn khoan thai trên mặt nước tương đặc sánh màu hổ phách đang sủi tăm li ti trong lòng chiếc chum sành da lươn trước mặt. Động tác khuấy vừa dứt, một làn hương thơm ngầy ngậy, ngọt dịu của đạm đậu tương thủy phân hòa quyện cùng men xôi nếp ủ ngấu lập tức bung tỏa ra ngào ngạt, bao trùm lấy không gian bỏng rát của buổi trưa hè.
"Muốn hiểu được giọt tương thì phải dùng cái tâm, cái dạ mà học, chứ không phải dùng con mắt tò mò," ông cụ trầm giọng nói, mũi đó tre chỉ về phía dãy nong mốc đang được che đậy cẩn thận bằng rơm nếp dưới mái hiên thoáng gió phía đông. "Làm tương nếp trung du này, cốt tử nằm ở ba khâu sống còn: mốc xôi, đỗ rang và nước ngả. Mốc phải là nếp cái hoa vàng ruộng trũng, hạt tròn mẩy, đồ vừa chín tới, không được nát cũng không được sượng. Xôi đồ xong phải tãi đều ra nong tre cho nguội hẳn, rồi ủ bằng rơm nếp sạch trong buồng tối ba ngày ba đêm, đợi cho tới khi chân nấm ăn đều từ trong ruột ra ngoài vỏ, nở hoa mốc vàng óng như màu hoa cau đầu mùa thì mới gọi là mốc chuẩn."
Ông cụ dừng lại, ngước mắt nhìn thẳng vào An: "Nhìn sắc vàng hoa cau ấy, ngửi cái mùi thơm ngòn ngọt man mác như mật ong rừng mà biết men sống hay men chết, men đượm hay men hỏng. Đó là cái khiếu trời cho, là cái mũi, cái lưỡi của người làm nghề tích lũy qua mấy đời. Chứ mấy cái máy cắm cắm, bấm bấm kêu tít tít con Huyền mang từ trường đại học về kia, đo được cái gì ngoài mấy con số vô hồn vô cảm?"
Vừa nói, ông cụ vừa nhúng nhẹ đầu ngón tay trỏ sạch bóng vào mặt tương sánh đặc trong chum, đưa lên đầu lưỡi nếm thử. Ông khẽ nhắm mắt lại, đôi chân mày hoa râm giãn ra, cả cơ thể như đang lắng nghe từng rung động tinh vi nhất của vị giác: "Nắng hôm nay gắt, gió nam sông Thao thổi đều, tương trong chum đang ngấu sâu lắm. Vị ngọt đọng lại ở cuống họng này là vị ngọt của sương sớm ngậm trên lá, của nắng quái chiều hôm tích tụ cả năm ròng rã trong hạt đỗ, hạt nếp. Trời cho thế nào thì người làm tương hưởng thế ấy. Con người ta nhỏ bé lắm, đừng có hòng đem mấy thứ máy móc sắt thép vào mà ép trời ép đất phải chiều theo ý mình."
Nói dứt lời, ông cụ dứt khoát xua tay, kiên quyết từ chối chiếc máy đo độ chua điện tử và chiếc khúc xạ kế đo độ ngọt mà Huyền đang ngập ngừng cầm trên tay định đưa cho ông kiểm tra mẻ tương vừa ngả.
Huyền khẽ thở dài, bờ vai nhỏ chùng xuống trong sự bất lực quen thuộc. Cô ra hiệu cho An và Khang lùi về phía chái hiên râm mát của gian nhà kho, nơi những bao tải đỗ tương đã rang vàng được xếp ngay ngắn, tỏa ra một làn hương ấm cúng.
"Ông em giữ nếp xưa chặt lắm chị ạ," Huyền kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc mời An ngồi, giọng cô thì thầm, pha lẫn sự kính trọng vô bờ với một thoáng trăn trở của một người làm khoa học trẻ tuổi. "Năm ngoái, có một tay đại diện tiếp thị của bên Vị Việt tìm về tận làng này. Hắn mang theo cả một tập hợp đồng dày cộp với những điều khoản bao tiêu béo bở đến mức mấy hộ làm tương nhỏ quanh vùng đều xiêu lòng ký hết. Họ muốn thu mua toàn bộ tương của làng, gom lại đóng chai công nghiệp dưới một nhãn hiệu tập trung do họ sở hữu độc quyền. Nhưng chị biết không, điều kiện của họ là ép các hộ phải rút ngắn thời gian ủ từ một năm xuống còn ba mươi ngày, dùng enzym công nghiệp để thủy phân đỗ, dùng phẩm màu caramel tổng hợp để tạo màu cánh gián và nạp chất bảo quản để kéo dài hạn sử dụng trên kệ siêu thị."
Huyền nhìn ra khoảng sân gạch, mắt ánh lên vẻ tự hào: "Ông em nghe xong mấy lời dụ dỗ ấy, không nói không rằng, cầm luôn cái đó tre khuấy tương đuổi thẳng cổ gã đại diện đó ra khỏi cổng làng. Ông đứng giữa sân quát với theo, bảo rằng thà đổ hết tương xuống dòng sông Thao cho cá ăn, chứ không đời nào để lũ con buôn đem đồng tiền làm nhơ danh tổ nghề năm đời truyền lại."
Nghe đến cái tên Vị Việt, khóe mắt Khang giật nhẹ một cái. Anh đứng tựa lưng vào cây cột hiên bằng gỗ xoan rừng, hai tay khoanh chặt trước ngực. Bàn tay phải của anh vô thức thọc sâu vào túi quần bò, những ngón tay siết chặt lấy chiếc vỏ nhựa của thiết bị theo dõi vừa bị bẻ gãy ban sáng. Ánh mắt Khang trở nên trầm lặng đến đáng sợ; anh không tham gia vào câu chuyện của hai người phụ nữ, chỉ lặng lẽ dõi theo từng gợn mây xám xịt đang bất ngờ tích tụ từ phía rặng núi mù sương ở phía cuối chân trời Tây Bắc.
Chính lúc ấy, bầu trời vùng trung du bỗng nhiên đổi sắc một cách đột ngột.
Cái nắng chang chang, gay gắt như thiêu như đốt vừa mới bao trùm khắp không gian chỉ mười phút trước bỗng chốc bị quét sạch bởi một luồng gió xoáy hung hãn mang theo hơi ẩm lạnh buốt từ triền đồi dội xuống. Những rặng cọ ven sông Thao bắt đầu xào xạc nghiêng ngả dữ dội, những tàu cọ khô cọ xát vào nhau nghe ràn rạt, rát buốt như tiếng gươm đao khua giữa chiến trận. Tầng tầng lớp lớp mây đen kịt từ hướng Tây Bắc cuồn cuộn kéo tới như một đàn ngựa lồng đứt cương, chỉ trong chớp mắt đã nuốt chửng vầng mặt trời đỏ ối và che kín cả một góc trời rực lửa.
"Dông rồi! Dông lốc đầu mùa ập về rồi bà con ơi!" Tiếng ông nội Huyền hô lớn đầy vẻ hoảng loạn từ ngoài giữa sân gạch. "Huyền ơi! Thằng cu đâu rồi! Chạy chum! Mau ra phủ bạt che giàn mốc ngay kẻo nước mưa lọt vào là thối hết tương, chua hết nếp!"
Cơn gió giật cục bộ mạnh như một cơn bão nhỏ quét qua mặt sân, cuốn phăng những lớp rơm rạ phủ trên các giàn mốc xôi nếp. Một tiếng "xoẹt" đanh gọn và khô khốc vang lên xé toạc bầu không khí: tấm bạt dù lớn che chắn dãy chum tương nếp chuẩn bị ngả nước ở mé sân sát bờ sông bị gió bão giật đứt phăng dây chằng, rách toạc một mảng lớn. Cát bụi mịt mù bốc lên cay xè mắt mũi, và những giọt mưa đá nặng hạt đầu tiên bắt đầu lộp bộp gõ xuống mặt sân gạch Bát Tràng còn đang nóng ran, làm bốc lên một làn khói trắng mờ ảo cùng mùi đất nung ngai ngái.
"Chết tôi rồi! Ba nong mốc nếp cái hoa vàng đang ủ ngả nước gặp nước mưa lạnh ngấm vào là chua hỏng hết cả! Công sức cả tháng trời của tôi!" Ông cụ quýnh quáng lao ra giữa luồng gió lốc, hai bàn tay run rẩy cố dùng cả thân hình gầy gò của mình đè giữ lấy mép bạt rách đang phần phật bay như cánh buồm gặp bão.
"Khang, An! Ra sân cứu mấy chum mốc trước đi!" Huyền hét lên thất thanh giữa tiếng sấm rền, rồi không kịp xỏ ủng, cô lao vụt về phía gian phòng thí nghiệm nhỏ được dựng bằng tôn lạnh ở góc vườn bên cạnh xưởng.
Không một giây chần chừ, Khang lập tức cởi phăng chiếc áo khoác gió ném xuống thềm hiên, lao bổ ra sân gạch. Bằng sức vóc vạm vỡ, đôi bàn tay gân guốc và sự tháo vát của một người thợ máy quen dãi dầu mưa gió thao trường, anh chạy vụt về phía chiếc xe tải Bếp Nhỏ, tóm lấy cuộn dây thừng cứu hộ dự phòng bằng sợi dù bện chặt mà anh luôn mang theo. Khang quăng cuộn dây một cách chuẩn xác qua khung giàn sắt đỡ bạt, dùng trọng lượng cơ thể kéo ghì toàn bộ cấu trúc bạt xuống, rồi dùng chân đạp lún những chiếc cọc sắt dự phòng xuống kẽ gạch, siết chặt từng nút thắt dây tiêu chuẩn để ghìm chặt mái che giữa cơn gió giật lốc.
An cũng không quản ngại mưa gió, cô lao mình vào giữa làn mưa rát mặt, cùng ông nội Huyền dùng hết sức bình sinh khiêng những chiếc nắp sành nặng trịch đậy kín từng miệng chum tương. Nước mưa hòa lẫn mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt, An thoăn thoắt dùng những bao tải gai khô chèn chặt quanh kẽ nắp, dùng gạch chỉ đè nặng lên trên để ngăn tuyệt đối không cho một giọt nước mưa lạnh nào có cơ hội thẩm thấu qua khe hở làm hỏng men tương đang sôi.
Trong cơn hỗn loạn mù mịt của đất trời, An quay đầu dáo dác tìm Huyền để lấy thêm dây thừng chằng mép bạt phía sau. Khi chạy ngang qua gian phòng thí nghiệm dã chiến, nhìn qua khe cửa kính mở he hé dưới ánh chớp rạch ngang trời, bước chân của An bỗng khựng lại.
Dưới ánh sáng lạnh lẽo, trắng bệch của bóng đèn tuýp bên trong căn phòng vô trùng tự chế, Huyền đang đứng run rẩy trước chiếc tủ cấy vi sinh. Đôi găng tay cao su y tế của cô ướt đẫm mồ hôi. Khuôn mặt người kỹ sư trẻ căng thẳng tột độ, hai hàm răng cắn chặt vào môi đến mức bật máu. An nhìn thấy rất rõ: Huyền vội vã rút từ chiếc tủ bảo quản lạnh chuyên dụng ra một khay inox chứa ba ống nghiệm thủy tinh đậy nút bông không thấm nước. Bên trong những ống nghiệm ấy là một lớp dung dịch huyền phù đục màu sữa — chủng nấm men thuần chủng *Aspergillus oryzae* và các vi khuẩn lên men lactic có lợi đã được cô dày công phân lập, thuần hóa và nuôi cấy trong môi trường vô trùng tuyệt đối từ các mẫu mốc tương ưu tú nhất của mùa vụ năm trước.
Với những thao tác gấp gáp nhưng chuẩn xác đến từng mi-li-mét của một người làm nghiên cứu, Huyền nhanh chóng dùng ống hút pipet hút sạch dung dịch men thuần chủng, đổ dồn vào một bình xịt phun sương định lượng bằng inox. Cô vội vã nhét hai ống nghiệm rỗng vào túi áo blouse trắng, dùng một lớp giẻ lau bọc kín lại hòng che giấu dấu vết.
Cầm chiếc bình xịt trong tay, Huyền lao vụt ra chái sân sau — nơi có ba chiếc nong mốc xôi nếp ngả nước đang bắt đầu bốc lên một mùi chua nồng, ngai ngái nguy hiểm do độ ẩm trong không khí tăng vọt đột ngột và hơi lạnh của cơn dông đè bẹp hệ vi sinh tự nhiên trên bề mặt hạt nếp. Đứng nép sau góc cột hiên, Huyền lén lút xịt lớp men thuần chủng đều khắp bề mặt mẻ mốc đang nguy cấp, rồi dùng đôi bàn tay đeo găng đảo thật nhanh, thật đều các hạt xôi nếp trước khi ông nội cô kịp chạy ra kiểm tra.
An bước tới từ phía sau màn mưa, đứng sững lại cách Huyền chỉ vài bước chân. Nước mưa xối xả làm ướt sũng bờ vai và mái tóc của An, nhưng ánh mắt cô lại tĩnh lặng, nhìn thẳng vào vạt túi áo blouse đang phồng lên một góc của người kỹ sư trẻ.
Huyền giật mình quay phắt lại, bàn tay đang cầm bình xịt khựng lại giữa không trung như bị điện giật. Nhìn thấy ánh mắt của An đang chiếu thẳng vào chiếc ống nghiệm thủy tinh lấp ló dưới lớp vải ướt sũng của mình, khuôn mặt Huyền bỗng chốc cắt không còn một giọt máu. Chiếc bình xịt trên tay cô khẽ run lên.
"Chị... chị An..." Huyền lắp bắp, giọng nói nghẹn lại trong cổ họng, gần như bị át đi hoàn toàn bởi một tiếng sấm rền vang rung chuyển cả mặt đất trung du.
Cơn mưa dông trút xuống xối xả, điên cuồng trong khoảng mười lăm phút rồi tạnh hẳn, nhanh và bất ngờ hệt như lúc nó ập đến. Những đám mây đen tan biến về phía hạ lưu sông Thao, để lại một bầu trời xanh ngắt, quang đãng lạ kỳ. Nước mưa đọng trên nền sân gạch Bát Tràng bắt đầu bốc hơi nghi ngút dưới ánh mặt trời rực rỡ lại vừa ló rạng qua tầng mây rách, tạo nên một màn sương mờ ảo, ấm sực bao phủ khắp hàng trăm chiếc chum sành cổ.
Ở ngoài sân, Khang và ông cụ vừa hoàn tất việc chằng néo toàn bộ hệ thống bạt dù và kiểm tra từng miệng chum. Khang cởi chiếc áo ướt sũng bùn đất vắt lên bờ rào tre, người bê bết những vệt đất đỏ trung du nhưng ánh mắt đã bớt đi vẻ căng thẳng.
Bên trong gian kho chất đầy những bao đỗ tương rang thơm lừng, chỉ còn lại An và Huyền đối diện với nhau. Khang đang đứng ngoài hiên xa, lặng lẽ châm một điếu thuốc lá, ánh mắt trầm ngâm dõi về phía chiếc xe tải Bếp Nhỏ đỗ im lìm ngoài cổng tre.
"Em định giấu ông chuyện này đến bao giờ nữa?" An phá vỡ sự im lặng ngột ngạt bằng một câu hỏi nhẹ nhàng, giọng cô không hề gay gắt hay mang vẻ kết tội, nhưng rành rọt và thẳng thắn đến mức khiến người đối diện không thể lảng tránh. "Nếu ban nãy chị không tình cờ nhìn thấy, thì mẻ tương nếp này sau khi được cứu sống, sẽ lại tiếp tục được ghi danh vào sổ sách gia đình như một tuyệt phẩm hoàn toàn nhờ vào nắng gió tự nhiên và bí quyết cổ truyền thần thánh của tổ tiên sao em?"
Huyền buông thõng hai tay, cô ngồi sụp xuống một chiếc ghế gỗ mộc bên góc kho, ôm lấy mặt mình. Đôi vai nhỏ nhắn của cô khẽ run lên theo từng nhịp thở ngắt quãng: "Chị An ơi, chị không ở trong hoàn cảnh của em, chị không hiểu được đâu... Thời tiết những năm gần đây thất thường và tàn nhẫn kinh khủng. Những đợt mưa dông trái mùa như vừa rồi, rồi những đợt sương muối kéo dài, nhiệt độ mùa đông có khi lên tới ba mươi độ C... Hệ vi sinh vật tự nhiên trôi nổi trong không khí vùng này không còn thuần khiết và ổn định như thời của ông em năm mươi năm trước nữa rồi."
Huyền ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe sau tròng kính cận ướt nước: "Vi khuẩn gây chua, nấm mốc đen, mốc đỏ độc hại từ các vùng canh tác hóa học xung quanh bay tới, cạnh tranh khốc liệt với chủng men bản địa. Nếu em không can thiệp kịp thời bằng chủng nấm men thuần chủng *Aspergillus oryzae* đã được em nhọc công phân lập, tinh chế trong phòng thí nghiệm để ức chế khuẩn xấu, thì mẻ mốc vừa rồi chỉ sau ba tiếng đồng hồ ẩm lạnh chắc chắn sẽ biến chất hoàn toàn. Nó sẽ chua lè, sinh độc tố aflatoxin và phải đổ bỏ toàn bộ xuống sông. Chị có biết ba nong mốc ấy trị giá bao nhiêu không? Hàng chục triệu đồng tiền nếp cái hoa vàng loại một, tiền đỗ tương sạch bao tiêu của bà con, và quan trọng nhất là công sức chắt chiu của cả gia đình em suốt bao tháng trời sẽ tan thành mây khói!"
"Chị hiểu. Chị hiểu rất rõ cái giá đắt đỏ của việc mất mát nguyên liệu và sự bất lực trước thiên tai," An ngồi xuống chiếc ghế đối diện Huyền, ánh mắt cô chùng xuống, phủ một lớp sầu muộn khi ký ức về căn bếp cũ của bà Mùi và vụ bê bối tráo đổi nguyên liệu tại nhà hàng sang trọng năm xưa bất ngờ ùa về nhức nhối trong tâm trí. "Chị từng chứng kiến những đầu bếp vì muốn cứu vớt món ăn, vì sợ thiệt hại kinh tế mà chọn cách lấp liếm sự thật. Huyền này, sự can thiệp khoa học của em không hề xấu. Việc em dùng kiến thức vi sinh hiện đại để phân lập con men tốt, bảo tồn nó trong ống nghiệm để ứng phó với biến đổi khí hậu là một giải pháp sinh tồn tuyệt vời của tri thức. Nhưng cái xấu, cái nguy hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi em dùng nó như một sự dối trá."
An nhìn thẳng vào mắt Huyền, giọng cô trầm ấm nhưng kiên định: "Em dùng công nghệ để cứu mẻ tương, nhưng lại muốn khoác lên nó một tấm áo hoài cổ không tì vết để làm vừa lòng người già và ve vuốt sự lãng mạn của khách hàng. Em chê bai Vị Việt vì họ muốn mua đứt làng nghề, muốn dùng phụ gia công nghiệp để đồng hóa sản phẩm. Nhưng nếu em lén lút cấy men phòng thí nghiệm vào chum tương sau lưng ông nội rồi vẫn khẳng định đó là sản phẩm 'thuần tự nhiên trăm phần trăm của đất trời', thì về bản chất, sự thiếu trung thực ấy có khác gì họ đâu? Sự thành thật với hạt gạo, hạt đỗ, thành thật với giọt mồ hôi của chính mình và người ăn mới là cái gốc sâu xa nhất của người giữ nếp bếp xưa."
Huyền cắn chặt môi đến rớm máu, hai giọt nước mắt lăn dài trên má: "Nhưng... ông em sẽ không bao giờ chấp nhận điều đó đâu chị. Cả đời ông tôn thờ sự tự nhiên của trời đất. Nếu biết chuyện này, ông sẽ nghĩ em phủ nhận toàn bộ kinh nghiệm, toàn bộ trực giác mà ông tích lũy cả đời. Ông sẽ nghĩ em mang thứ hóa chất ma quỷ về làm ô uế cái nghề sạch sẽ của tổ tiên."
"Em đánh giá thấp lòng bao dung và sự minh triết của người già rồi," An lắc đầu, đặt bàn tay ấm áp của mình lên mu bàn tay đang run rẩy của Huyền. "Khoa học chân chính chưa bao giờ phủ nhận công lao của những người đi trước. Nó sinh ra là để tiếp nối, để làm chiếc khiên che chắn cho những di sản vô giá ấy không bị hủy diệt bởi sự nghiệt ngã của thời cuộc. Nhưng em phải dũng cảm nói cho ông biết. Ông em đã dành cả cuộc đời cho những chiếc chum này, ông có quyền được biết sự thật đang diễn ra bên trong từng thớ men của chúng."
Không gian trong gian kho lại chìm vào tĩnh lặng. Chỉ có tiếng gió xào xạc thổi qua những rặng cọ bên ngoài và mùi hương đỗ rang nồng đượm vấn vít quanh chóp mũi. Huyền nhìn trân trân vào chiếc ống nghiệm thủy tinh chứa dung dịch men thuần đang nằm trên mặt bàn gỗ. Sau một hồi nội tâm giằng xé dữ dội, cô hít một hơi thật sâu, ngẩng cao đầu, cầm lấy chiếc ống nghiệm bước dứt khoát ra khoảng sân gạch rực nắng.
Lúc này, ông cụ đang đứng chống chiếc đó tre bên cạnh chiếc chum số ba vừa được che chắn cẩn thận. Gương mặt nhăn nheo đầy những nếp hằn năm tháng của ông giãn ra một nụ cười nhẹ nhõm: "Đúng là phúc đức tổ tiên che chở. Cái mẻ mốc nếp này lúc nãy gió lùa tưởng chừng đi đứt rồi, thế mà hương men hoa cau vẫn gỡ lại được, không bị dính nước mưa lạnh. Mày thấy chưa hả Huyền? Cây lúa nếp cái hoa vàng của đất này nó có cái linh hồn, cái sức sống mãnh liệt của nó. Chỉ cần con người nhanh tay bạt che cho kịp là trời lại thương, trời lại cứu."
"Ông ơi..." Huyền cất tiếng gọi, giọng cô run rẩy nhưng âm sắc lại rành rọt, dứt khoát lạ thường. "Không phải trời cứu đâu ạ."
Ông cụ khựng lại, ngạc nhiên quay người nhìn đứa cháu gái ruột.
Huyền bước tới trước mặt ông, từ từ giơ chiếc ống nghiệm thủy tinh chứa dung dịch huyền phù màu sữa ra trước mắt người thợ già. Từng lời từng chữ cô thốt ra như rút hết can ruột: "Mẻ mốc vừa rồi không phải tự nhiên mà giữ được hương đâu ông. Lúc cơn dông ập tới mang theo hơi lạnh và độ ẩm cao, vi khuẩn gây chua trong không khí đã bắt đầu xâm nhập vào lớp xôi ngoài cùng. Nếu để tự nhiên, chỉ ba ngày nữa toàn bộ ba nong mốc này của ông sẽ chua loét và bốc mùi ủng. Con... chính con đã dùng chủng nấm men thuần chủng *Aspergillus oryzae* được nuôi cấy sẵn trong phòng thí nghiệm để xịt bổ sung vào mẻ nếp nhằm áp chế khuẩn xấu. Con đã làm trái lời răn của ông... Con xin lỗi ông."
Khoảng sân gạch Bát Tràng thênh thang bỗng chốc im phăng phắc, tĩnh lặng đến rợn người. Tiếng lá dâu xào xạc ven bờ sông Thao và tiếng nước vỗ bì bõm dưới chân bãi bồi nghe rõ mồn một. Gương mặt già nua của ông cụ đanh lại như một phiến đá hoa cương. Đôi mắt đục mờ vì năm tháng nhìn trừng trừng vào chiếc ống nghiệm thủy tinh nhỏ bé trên tay đứa cháu gái, rồi chầm chậm quét qua An và Khang đang đứng im lặng dưới mái hiên. Bàn tay gân guốc nắm chặt thanh đó tre của ông khẽ run lên bần bật.
"Mày... mày dám đem thứ thuốc của Tây về đổ vào chum tương của các cụ à?" Giọng ông cụ nghẹn lại, run rẩy vì một nỗi uất ức dâng trào nơi lồng ngực. "Mày học cho lắm chữ nghĩa của thiên hạ vào rồi về đây đầu độc cái nghề năm đời của dòng họ mày sao?"
"Dạ không phải thuốc Tây đâu cụ ơi," An bước tới một bước, cất lời ôn tồn, giọng nói nhẹ nhàng nhưng mang một sức thuyết phục sâu sắc. "Cụ nhìn kỹ xem, thứ nằm trong ống nghiệm này không phải hóa chất công nghiệp. Đó chính là những bào tử nấm mốc vàng hoa cau tinh túy nhất được chắt lọc từ chính mẻ tương ngon nhất của cụ vào vụ đông năm ngoái. Huyền đã dùng kính hiển vi của trường đại học để tách riêng những cá thể men khỏe mạnh nhất, thuần khiết nhất rồi bảo quản trong môi trường vô trùng. Đất trời thời nay đỏng đảnh lắm cụ ạ, khí hậu biến đổi không còn giữ được quy luật tiết khí hanh hao như bốn mươi năm về trước. Huyền chưa bao giờ có ý phủ nhận kinh nghiệm hay trực giác thiêng liêng của cụ; đứa cháu gái này chỉ đang dùng tri thức mới học được để dựng nên một bờ lũy che chắn cho những giọt tương tâm huyết của cụ trước những cơn dông bão bất thường mà thôi."
Ông cụ đứng chết lặng giữa cái nắng trưa chang chang, bóng dáng còng còng in đậm trên nền gạch đỏ như một pho tượng sành cổ kính. Gió sông Thao thổi lồng lộng làm bay bay vạt áo nâu bạc màu của ông.
Một lúc lâu sau, ông cụ bước từng bước chầm chậm, nặng nề lại mé nong mốc nếp vừa được xử lý. Ông chống chiếc đó tre xuống đất, cúi rạp người xuống, đưa mũi sát vào bề mặt mẻ mốc, hít một hơi thật sâu, thật dài. Mùi hương ngòn ngọt, thanh khiết của mốc nếp đang đâm những chân sợi tơ trắng li ti đã hoàn toàn lấn át mùi ngai ngái chua nồng ban nãy. Ông cụ đưa ngón tay trỏ chai sần quệt nhẹ một lớp bột mốc phấn vàng óng đưa lên đầu lưỡi nếm thử. Ông nhắm nghiền mắt lại. Vị ngọt đọng lại nơi cuống họng vẫn vẹn nguyên sự đậm đà, thanh mát và bùi béo — cái vị ngọt thân thương của nếp cái hoa vàng mà ông đã nếm suốt tám mươi năm cuộc đời.
Một tiếng thở dài thật sâu trút ra từ lồng ngực gầy guộc của người nghệ nhân già. Ông mở mắt ra, nhìn đứa cháu gái đang cúi gằm mặt, cắn chặt môi chờ đợi một trận lôi đình trừng phạt, rồi lại nhìn sang chiếc ống nghiệm thủy tinh trong suốt lấp lánh dưới ánh mặt trời.
"Nó... thực sự vẫn là giống mốc nếp của làng mình à?" Ông cụ cất tiếng hỏi, giọng trầm hẳn xuống, không còn vẻ giận dữ gay gắt ban nãy mà chùng lại trong một nỗi trăn trở khôn nguôi.
"Dạ... là giống mốc thuần của chum số chín mà chính tay ông đã ủ từ đợt rét nàng Bân năm ngoái ạ," Huyền nghẹn ngào đáp, nước mắt trào ra nơi khóe mi.
Ông cụ đứng lặng thinh nhìn dòng sông Thao đỏ quạch phù sa đang trôi lững lờ ngoài bãi dâu. Bàn tay ông xoay nhẹ chiếc đó tre đã bóng loáng, rồi bất ngờ gõ nhẹ một tiếng "boong" trầm đục và dứt khoát vào thành chiếc chum sành da lươn bên cạnh: "Được rồi. Đã trót làm thì làm cho trót lọt. Bây giờ chia đôi cái mẻ nếp này ra làm hai phần bằng nhau. Một nửa ngả vào chiếc chum số ba theo đúng lề lối tự nhiên truyền thống của tao, một nửa kia ngả vào chiếc chum số bốn theo cái máy móc men cấy của mày. Cả hai chum sẽ cùng phơi chung một khoảng sân gạch này, cùng uống chung một thứ nước sương sông Thao. Đến cúng tất niên cuối năm nay, tao với mày sẽ cùng mở nắp hai chum ra nếm thử. Xem cái vị nào đượm hơn, ngấu sâu hơn và sống dai hơn, lúc ấy mới biết đứa nào đúng, đứa nào sai."
Huyền ngước đôi mắt đẫm lệ lên nhìn ông nội. Một cảm xúc vỡ òa khiến cô không kìm nén được nữa, cô lao tới ôm chầm lấy thân hình gầy guộc của người thợ già giữa khoảng sân gạch Bát Tràng bao la ngập tràn ánh nắng và hương tương nồng nàn.
Chiều muộn buông xuống thật êm đềm trên khúc quanh của dòng sông Thao. Vầng mặt trời đỏ ối như một khối đồng nung từ từ chìm dần sau những rặng cọ xòe ô trên đỉnh đồi trung du, rải một lớp bụi vàng rực rỡ và lộng lẫy lên hàng trăm chiếc chum sành cổ đang nghi ngút bốc lên làn hương men ngọt ngào của một ngày phơi nắng đượm.
Dưới mái hiên gian nhà kho, An ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc thô nhám. Cô cẩn thận mở chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ cũ kỹ của bà Mùi đặt ngay ngắn trước mặt. Bàn tay cô nhẹ nhàng rút tấm thẻ công thức số sáu mang tên "Tương nếp đất đồi". Cây bút mực đen lướt êm ả trên nền bìa giấy đã ngả màu thời gian. An không hề chọn cách ca ngợi một phương thức thủ công thuần túy nhuốm màu hoài niệm huyền bí, cũng không biến nó thành một bản báo cáo khoa học khô khan. Cô nắn nót ghi chép tỉ mỉ cả hai dị bản song song: một quy trình ủ mốc nếp vàng hoa cau hoàn toàn thuận theo nhịp điệu của nắng mưa trời đất với trực giác tinh tế tuyệt đối của người thợ già, và một quy trình kiểm soát các chỉ số vi sinh nghiêm ngặt bằng men thuần tuyển chọn để thích ứng với thiên tai khắc nghiệt của thế hệ kế nghiệp.
Cả hai phương pháp ấy, dù xuất phát điểm và công cụ hoàn toàn khác biệt, nhưng lại gặp nhau ở một điểm tựa duy nhất: sự trung thực đến tận cùng với sức lao động và lòng tôn kính tuyệt đối đối với từng hạt mầm sinh dưỡng mà đất mẹ ban tặng.
Tiếng bước chân quen thuộc vang lên trên nền hiên gạch. Khang bước vào, trên tay cầm hai chiếc cốc kim loại bốc khói nghi ngút. Anh đặt một chiếc xuống mặt bàn trước mặt An; làn hương ngai ngái, ngòn ngọt của nước vối tươi hái ngoài vườn đun bằng nước mưa phả vào không khí xua tan đi cái lạnh se sắt của buổi hoàng hôn trung du.
Bên cạnh chiếc cốc nước vối, Khang đặt xuống một chiếc túi zip trong suốt. Bên trong là toàn bộ khối thiết bị định vị đen bóng của Vị Việt đã bị anh dùng đồ nghề tháo rời từng con ốc nhỏ xíu, từng vi mạch và ăng-ten định vị nằm trơ trọi, vô hại.
"Sim dữ liệu của nó bị ngắt hoàn toàn rồi," Khang nói, giọng trầm ấm và đã vơi đi sạch sẽ vẻ căng thẳng, gắt gỏng của buổi sáng. "Nhưng tín hiệu định vị cuối cùng trước khi bị cạy chắc chắn đã kịp gửi tọa độ bãi xe Hà Nội về máy chủ bên công ty Vị Việt. Thằng Vinh đã biết hướng di chuyển của chiếc Bếp Nhỏ. Chúng ta không thể cứ tiếp tục trốn chạy mãi thế này mà không có một phương án đối đầu dứt khoát với những mưu mô của chúng nó."
An ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Khang. Cô đón lấy chiếc cốc kim loại ấm nóng từ tay anh, cảm nhận hơi ấm lan tỏa qua từng đầu ngón tay rồi khẽ gật đầu kiên định: "Em biết rồi. Em sẽ không trốn chạy nữa đâu anh Khang. Sau chặng trung du này, khi vào đến đất Thanh Hóa, em sẽ chủ động liên lạc và hẹn gặp luật sư Tạ Gia Bảo để nhờ ông ấy rà soát lại toàn bộ tính pháp lý của bản hợp đồng nguyên liệu và bức thư cũ. Dù phải trả giá thế nào, chúng ta cũng sẽ bảo vệ ấn bản *Dọc Đường* bằng sự minh bạch."
Khang nhìn An một thoáng, ánh mắt anh dịu lại hoàn toàn, không còn một gợn nghi ngờ. Anh không nói thêm lời nào, chỉ khẽ vỗ nhẹ lên vai cô rồi quay người bước ra sân, cùng Huyền khiêng nốt chiếc nong mốc xôi cuối cùng vào buồng ủ ấm trước khi sương đêm bờ sông buông xuống.
Huyền lau giọt mồ hôi dính hạt đậu tương mốc, cười bảo: "Nếu không dám nhận mình thay đổi, sớm muộn gì vi khuẩn xấu cũng làm hỏng cả chum."