Bếp Chung Miệt Vườn
Mùi thơm lừng của nếp cái xào nước cốt lá cẩm và dừa nạo lan tỏa khắp con rạch rợp bóng dừa nước Phong Điền, nơi lớp học làm bánh tét của nghệ nhân bà Tư đang rộn rã tiếng cười nói. Gió miệt vườn buổi sớm thổi qua rặng dừa nước ken dày mang theo hơi phù sa mát rượi, xua tan cái oi nồng của vạt nắng phương Nam vừa hé rạng. Chiếc xe tải hoán cải Bếp Nhỏ đậu nép mình dưới bóng râm sum sê của vườn mận An Phước và chôm chôm đang độ trĩu quả. Khói củi nhãn từ chái bếp sau nhà bà Tư bảng lảng bay là là trên mặt mương rạch, quấn quýt lấy mùi lá chuối hột tươi vừa được phơi héo dẻo quạnh trên giàn tre.
Bên con đường đan rải xi măng nhỏ hẹp chạy dọc bờ kênh, một chiếc xe ôm công nghệ chầm chậm dừng lại. Người phụ nữ bước xuống, trên vai mang ba lô gọn gàng, tay xách theo một chiếc cặp tài liệu da dày cộp và chiếc túi đựng máy tính chống sốc. Là Phạm Quỳnh Lam. Cô vừa đáp chuyến bay sớm nhất từ sân bay Nội Bài xuống Cần Thơ rồi lập tức bắt xe vào thẳng đất Phong Điền. Không còn bộ âu phục chỉn chu, sắc lạnh nơi tòa soạn giữa lòng thủ đô, Lam hôm nay mặc chiếc áo sơ mi linen màu xanh nhạt xắn cao tay áo, mái tóc buộc gọn sau gáy, gương mặt thoáng nét phờ phạc sau chuyến bay dài nhưng đôi mắt lại sáng rực sự nhẹ nhõm và kiên định.
Nhìn thấy An và Khang đang lúi húi bê rổ lá chuối bên mép sàn nước, Lam dừng bước, đứng lặng vài giây rồi mỉm cười, một nụ cười không còn phòng thủ hay thăm dò.
— Chào hai người. Tôi mang bản thảo kiểm định cuối cùng và hệ thống dữ liệu thử nghiệm đến đây, đúng như đã hứa.
An đặt rổ lá chuối xuống sàn gỗ gõ, vội bước lại đón lấy chiếc túi xách trên tay Lam. Cái chạm tay ngắn ngủi giữa hai người phụ nữ từng đi qua hiểu lầm, từng đối đầu rồi cùng nhau đứng trước bờ vực đổ vỡ của dự án, giờ đây chỉ còn lại sự ấm áp của những người bạn đồng hành đã chọn cách thẳng thắn đối diện sự thật. Khang bước ra từ cabin xe, cổ tay trái đã tháo hẳn nẹp cứng, chỉ còn quấn một dải băng thun co giãn bảo vệ khớp. Anh gật đầu chào Lam, nụ cười khô khan mà chân thành:
— Đường đan miền Tây dằn xóc lắm, tài liệu của cô có bị xáo trộn không đấy?
— Máy chủ đám mây và ổ cứng chống sốc ba lớp, anh Khang yên tâm. — Lam cười đáp, đưa tay đón bát nước dừa xiêm mát lịm mà An vừa rót từ bình gốm trên xe Bếp Nhỏ mang ra. — Nước dừa ngọt lịm, thanh mát đến tận cuống họng. Ở ngoài kia, giữa bốn bức tường phòng lạnh và những cuộc tranh cãi bản quyền, tôi thèm một ngụm nước ngọt lành tự nhiên như thế này đến thắt ruột.
Lam mở chiếc cặp da, lấy ra tập tài liệu dày cộp được đóng gáy cẩn thận. Đó là bản in thử nghiệm số báo đặc biệt của *Tạp chí Dọc Đường* với tiêu đề dự kiến: *“Bếp Nhỏ — Những Dị Bản Của Ký Ức”*. Toàn bộ các chặng hành trình từ bến sông Hồng, cao nguyên đá Hà Giang, bến cá Sa Kỳ, xóm lò gốm Đồng Nai cho đến giếng cổ Hội An đều được giữ nguyên vẹn lời kể đa thanh của người nấu, không một chi tiết nào bị gọt giũa để phục vụ những thị hiếu thương mại bóng bẩy. Đi kèm với tập bản thảo là bản thiết kế hệ sinh thái số hóa phi tập trung mà nhóm kỹ sư của Hợp tác xã Đường Xa phối hợp cùng Lam phát triển suốt những tuần qua.
— Tối qua tôi đã đồng bộ hóa dữ liệu từ máy chủ Hà Nội sang nền tảng thử nghiệm. — Lam nói, giọng nghiêm túc và say mê. — Nhưng trước khi kiểm tra hệ thống, tôi phải xin phép bà Tư để được bước vào gian bếp này đã. Nghe mùi nếp xào lá cẩm ngoài đầu ngõ, tôi biết mình đã đến đúng nơi cần đến.
Gian bếp của nghệ nhân bà Tư nằm sát mép mương, nơi có những chiếc chõng tre dài bày la liệt thau nhôm, rổ rảo. Khung nhà lá dừa nước lợp dầy che chở cho một không gian ẩm thực đậm chất miệt vườn, bốn bề lộng gió sông rạch. Đất ở đây màu mỡ, cây cỏ mọc xanh um tùm tràn vào tận mép hiên, khiến mỗi vạt nắng rọi qua kẽ lá đều ngả màu xanh ngọc dịu mắt. Bà Tư năm nay ngoài bảy mươi tuổi, dáng người quắt queo nhưng dẻo dai, lưng hơi còng nhưng bước chân thoăn thoắt lạ thường. Mái tóc bà đã bạc trắng, búi gọn thành một búi củ hành tròn trĩnh sau gáy, cài chiếc trâm gỗ mù u đen bóng. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh nổi rõ, chai sần vì nửa thế kỷ bưng bê nồi niêu, đang thoăn thoắt đảo xới chảo nếp cái hoa vàng trên bếp củi rực than. Xung quanh bà là ba cô cháu gái tuổi đôi mươi: Mai, Lan và Cúc. Cả ba đều là sinh viên các ngành công nghệ thực phẩm và quản trị du lịch vừa nghỉ hè về quê, phụ bà làm bánh chuẩn bị cho các đơn hàng gửi lên thành phố.
Hôm nay là buổi làm hai món bánh truyền thống trứ danh của xứ này: bánh tét lá cẩm hột vịt muối và bánh bò thốt nốt nướng rễ tre. An và Lam xắn tay áo, cùng ngồi bệt xuống chiếc chiếu cói trải bên chõng tre để phụ việc. Chiếc chõng tre bóng loáng nước thời gian kê sát sàn nước, nơi những khóm lục bình trôi chầm chậm ngoài con rạch. Nếp sau khi ngâm nước cốt lá cẩm vườn nhà suốt bốn tiếng đồng hồ đã ngậm no màu tím thẫm mượt mà như nhung. Thứ nước lá cẩm được nấu từ những nhánh lá tươi hái lúc sương sớm chưa tan, vò nát rồi đun lửa liu riu cho tiết ra sắc tím thủy chung đậm đà, không cần đến một giọt phẩm màu công nghiệp nào. Khi trút vào chảo xào cùng nước cốt dừa dão, từng hạt nếp bóng bẩy quyện chặt lấy chất béo thơm ngậy, sủi tăm li ti và bốc lên làn khói thơm dịu mát đặc trưng của thảo mộc đồng bằng.
Bà Tư đứng bên chảo gang lớn, tay cầm chiếc đũa bếp to bản bằng gỗ dừa già đảo đều từ đáy lên miệng chảo. Tiếng nếp reo lách tách, tiếng nước cốt dừa sôi lục bục tạo nên một thứ âm thanh êm ả, đều đặn như nhịp thở của dòng kênh mùa nước nổi. Từng hạt nếp ngậm no chất béo và sắc tố thảo mộc bắt đầu nở căng, trong veo như những viên ngọc thạch tím biếc.
Thế nhưng, không khí trong chái bếp đột nhiên chùng xuống khi ba cô cháu gái bắt đầu chuẩn bị thau bột bánh bò và nhân bánh tét.
Thay vì dùng đường cát trắng tinh luyện ngọt lịm và những tảng mỡ gáy heo thái dày luộc trong suốt ngâm đường như công thức gia truyền ba đời của bà Tư, Mai và Lan đã lẳng lặng cân đong lại nguyên liệu. Trên chiếc bàn gỗ dài, Mai cẩn thận dùng cân tiểu ly điện tử để đo từng lạng bột và đường. Các cô dùng đường thốt nốt nguyên chất tán mịn với định lượng giảm đi một phần ba, đồng thời chuẩn bị một thau nhân mới: đậu xanh cà vỏ hấp chín tán nhuyễn trộn cùng hạt sen tươi Tháp Mười nghiền mịn, chỉ điểm xuyết vài lát mỡ mỏng tang đã ướp chút tiêu sọ để lấy độ ẩm tự nhiên. Bên cạnh đó, Cúc đang khuấy thau nước cốt dừa dão thứ hai, cũng giảm bớt phần váng béo đặc để bánh giữ được độ thanh nhẹ.
Bà Tư buông phắt chiếc đũa bếp to bản bằng gỗ dừa xuống mép chảo đánh cạch một tiếng, đôi mày nhíu lại, gương mặt đượm vẻ không bằng lòng. Ánh mắt bà dừng lại nơi chiếc cân điện tử nhỏ xíu và thau nhân sen nhạt màu, giọng hờn mát vang lên giữa chái bếp:
— Mấy đứa bây học trên thành phố về rồi chê cách của bà già này hả? Bánh tét miệt vườn hồi nào tới giờ mỡ phải dày, cắn vô mỡ tươm ra ướt môi, đường phải đậm đà ngọt ngay ăn nó mới đã cái miệng! Bánh bò rễ tre mà tụi bây bớt đường, bớt nước cốt béo thì nó nở bung cái kiểu gì? Làm ba cái trò đậu xanh hạt sen lạt thếch đó coi chừng người ta ăn vô rồi người ta chê bánh xứ Phong Điền dở ẹc nghe hôn!
Bà Tư hậm hực chống tay vào hông, chỉ tay vào tảng mỡ heo trắng nõn bà đã cất công xắt vuông vức, ướp đường cát phơi nắng từ sớm hôm qua:
— Mỡ gáy này tao lựa từng miếng ngon nhất ngoài chợ nổi, luộc vừa chín tới, ướp đường phơi ngoài nắng cho miếng mỡ trong veo như ngọc, lúc nấu bánh mỡ tan ra thấm đẫm vô từng hạt nếp mới tạo nên cái vị béo ngậy danh bất hư truyền của xứ Cần Thơ. Đòn bánh tét gửi đi xa cả tuần không thiu cũng nhờ lớp mỡ và đường đó. Bây giờ tụi bây đem bỏ hạt sen, bớt mỡ, bớt đường, rồi bánh để được mấy bữa? Ai ăn mà nhớ được cái hồn của bánh ngoại mần hồi xưa tới giờ?
Mai, cô cháu gái lớn, khẽ cười làm lành, bước lại bóp vai cho bà nội. Cô gái trẻ có đôi mắt sáng và nụ cười hiền hậu, kiên nhẫn nghiêng đầu ghé tai bà tỉ tê:
— Nội ơi, tụi con đâu có dám chê bí quyết của nội. Đời nào tụi con dám quên công nội thức khuya dậy sớm nuôi ba má với tụi con ăn học nhờ mấy gánh bánh tét này. Nhưng đợt này đơn hàng đặt gửi lên Sài Gòn toàn là người lớn tuổi với dân văn phòng ngồi nhiều. Người ta sợ tiểu đường, sợ mỡ máu cao lắm nội. Hạt sen Tháp Mười này là anh bạn bên Đồng Tháp gửi tặng chị An đem qua nè nội, sen bùi ngọt tự nhiên, hòa với đậu xanh đánh tơi sẽ giữ được độ béo thanh mà không bị ngấy. Bánh bò nướng này con dùng men cơm rượu truyền thống của nội ủ qua đêm, đường thốt nốt non ngọt dịu sẽ làm cho thớ bánh có rễ tre dài tít tắp, vỏ bánh rám vàng thơm nức mà không gắt cổ. Nội cho tụi con làm thử một mẻ đối chứng nghen nội?
Lan và Cúc cũng xúm lại, người bưng thau bột, người chỉ cho bà xem độ sánh mượt của hỗn hợp đậu sen. Lan đỡ lời chị:
— Phải đó nội. Tụi con học ngành dinh dưỡng, tụi con hiểu nếu bánh quá ngọt và quá nhiều mỡ động vật thì lớp khách hàng trẻ bây giờ họ chỉ dám mua ăn thử một lần cho biết rồi thôi, không dám đặt ăn thường xuyên mỗi tuần nữa. Tụi con muốn đưa bánh tét của nội vào các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch, vào những bữa trà chiều thanh nhã của người thành phố. Muốn vậy, mình phải biết gia giảm cho hợp với thể trạng của người tiêu dùng thời nay. Giữ nghề đâu phải là giữ nguyên lượng mỡ, lượng đường, mà là giữ cái vị thơm của nếp xào lá cẩm, cái dẻo quạnh của hạt nếp quê mình chớ nội!
Bà Tư quay mặt đi chỗ khác, miệng lầm bầm giận dỗi nhưng không giật lại âu bột. Đôi môi móm mém nhai trầu của bà khẽ mím lại, vừa ấm ức vì thói quen mấy mươi năm bị lung lay, vừa không nỡ dập tắt ngọn lửa nhiệt huyết trong mắt ba đứa cháu gái ruột thịt.
An ngồi bên cạnh, nhìn cảnh tượng ấy mà khóe mắt cay cay. Hình ảnh này sao mà thân thuộc quá, nó gợi nhớ những cuộc cãi vã không dứt giữa cô và mẹ Hà trong căn bếp cũ ven sông Hồng năm nào. Ngày ấy, An cũng từng bất lực nhìn mẹ khăng khăng nêm muối, nêm mắm theo trực giác cổ truyền, từng cãi vã nảy lửa khi mẹ không chịu nghe những lý lẽ hiện đại về vệ sinh an toàn thực phẩm hay định lượng chuẩn hóa. Thế hệ trước muốn ghì giữ mọi thứ bằng ký ức bất biến, coi mỗi hạt muối, muỗng đường là bảo chứng thiêng liêng cho cội nguồn. Còn thế hệ sau lại loay hoay, chật vật tìm cách thích nghi với sự sống còn của thời đại mình, sợ rằng nếu không thay đổi thì chính di sản của cha ông sẽ dần chìm vào quên lãng giữa dòng chảy gấp gáp của cuộc sống công nghiệp.
An khẽ nghiêng người, đỡ lấy âu bột bánh bò từ tay Lan, nhẹ nhàng thưa:
— Bà Tư ơi, cháu đi dọc từ Bắc vào Nam, thấy nơi nào thức ăn cũng phải biến đổi để nuôi sống con người theo từng mùa vụ, từng hoàn cảnh. Ngày xưa ông bà mình lao động chân tay cực nhọc ngoài đồng nước, dầm mưa dãi nắng suốt ngày, cơ thể cần miếng mỡ dày, hạt nếp ngọt để lấy sức kéo cày, xẻ đất, chống chọi với cái lạnh của mùa nước nổi miệt vườn. Bây giờ người thành thị sống trong phòng máy lạnh, ít vận động, bệnh tật nhiều, nếu bánh của bà Tư không đổi thay một chút về lượng đường, lượng mỡ thì họ sẽ sợ mà không dám ăn nữa. Trao nghề cho tụi nhỏ, cốt là truyền cái ngọn lửa nhẫn nại và sự tinh tế trong cách ủ men, quết bột, chứ đâu phải bắt tụi nhỏ phải sao chép y chang từng muỗng đường ngày cũ, phải không bà?
Lam cũng bước lại gần, ngồi xuống mép chõng tre, ánh mắt chân thành nhìn vào gương mặt đầy nếp nhăn của người nghệ nhân:
— Thưa bà Tư, cháu làm báo, đi nhiều nơi và chứng kiến không ít làng nghề truyền thống bị mai một chỉ vì con cháu không còn tìm thấy sự kết nối giữa công thức cũ của ông bà với nhu cầu của cuộc sống hiện tại. Ba bạn nhỏ ở đây không hề bỏ nghề, các bạn đang tìm cách mang tri thức công nghệ để bảo vệ cái nghề làm bánh của bà, nối dài tuổi thọ của đòn bánh tét Phong Điền ra khỏi ranh giới miền Tây. Một đòn bánh gói bằng tình thương và sự thấu hiểu cho sức khỏe người ăn sẽ đi được xa hơn rất nhiều.
Bà Tư nhìn An, nhìn sang Lam đang cặm cụi tỉ mẩn lau từng phiến lá chuối, rồi nhìn lại ba đứa cháu gái đang hồi hộp chờ đợi. Đôi mắt người nghệ nhân già chớp chớp, những nếp nhăn nơi khóe mắt giãn dần ra. Bà thở dài một tiếng thật nhẹ, tiếng thở dài trút bỏ gánh nặng của sự cố chấp, rồi đưa tay cầm lại chiếc đũa bếp to bản:
— Thiệt tình... Mấy đứa bây khéo ăn khéo nói quá, làm bà già này cãi hổng lại. Thôi, chia bột ra làm hai chảo! Một chảo làm theo lối cũ của tao để cúng bàn thờ ông bà, một chảo làm theo kiểu giảm đường tăng sen của tụi bây coi ra mần sao! Nhưng tao nói trước nghen, tao đứng đây tao coi chừng, đứa nào làm rễ tre bánh bò bị bết, đòn bánh tét luộc xong bị sượng là tao phạt đòn cả lũ!
Tiếng cười ròn rã lập tức vỡ òa khắp gian bếp, xua tan hoàn toàn bầu không khí căng thẳng ban nãy.
Mọi người bắt tay vào việc với sự phấn khởi tràn trề. Cúc nhanh nhẹn mang chiếc khuôn gang đúc dày cộp đặt lên lò than hồng rực ngoài sân chái. Bếp nướng bánh bò cổ truyền đòi hỏi kỹ thuật canh lửa vô cùng công phu. Than đượm bên dưới đáy khuôn để làm chín phần đế, còn nắp vung bằng sắt dày bên trên cũng được xúc đầy than hồng rực đỏ để ép nhiệt từ phía trên xuống, giúp bánh nở bung đều và tạo lớp vỏ rám vàng óng ả.
Thau bột bánh bò thốt nốt đã được Mai ủ men cơm rượu từ tối hôm trước. Thứ bột gạo ngâm kỹ, xay nhuyễn bằng cối đá, hòa quyện với nước dừa tươi và men cơm rượu tự nhiên đã lên bọt tăm li ti, tỏa ra mùi thơm nồng nàn của men rượu đồng nội quyện với hương thơm trầm ấm của đường thốt nốt xứ Bảy Núi. Khi khuôn gang đã đủ độ nóng rực, Mai dùng cọ quét một lớp dầu dừa mỏng tang quanh lòng khuôn. Tiếng xèo xèo vang lên giòn giã khi muôi bột đầu tiên được rót vào khuôn gang.
Chiếc nắp vung đượm than hồng được đậy khít lại. Mười lăm phút chờ đợi trôi qua trong sự hồi hộp nín thở của cả gian bếp. Mùi thơm ngào ngạt của bột nướng bắt đầu thoát ra từ khe nắp khuôn, quyện chặt mùi đường cháy dìu dịu và men ủ nồng đượm.
Khi Mai dùng kẹp sắt nhấc chiếc nắp vung gang ra, một làn khói trắng thơm lừng mùi thốt nốt quyện cùng mùi men rượu và nước cốt dừa bốc lên nghi ngút giữa không gian miệt vườn. Mặt bánh rám nâu cánh gián tuyệt đẹp, bề mặt phồng căng với hàng ngàn bọt khí nhỏ li ti đang khẽ rung rinh. Khi Mai khéo léo dùng sợi chỉ cước mỏng luồn qua thân bánh nóng hổi cắt đôi chiếc bánh bò, từng thớ rễ tre dài thẳng tắp, đều đặn hiện ra xốp mềm, óng ả như những sợi tơ vàng đan kết vào nhau. Không một chỗ nào bị chai, không một thớ nào bị bết bột.
Bà Tư nheo mắt nhìn sát vào mặt cắt chiếc bánh, rồi đưa bàn tay gầy gầy bẻ một miếng nhỏ bỏ vào miệng. Bà nhai thật chậm rãi, cảm nhận từng tế bào vị giác đang rung lên. Vị ngọt thanh khiết của thốt nốt non đọng lại nơi đầu lưỡi, không hề gắt cổ như đường cát trắng, độ xốp dai mềm mại đàn hồi nhịp nhàng, và hậu vị béo dịu của cốt dừa thoảng qua nhẹ tênh, thanh thoát lạ thường. Người nghệ nhân khó tính gật gù, mắt ánh lên vẻ tự hào khó giấu:
— Ờ... Rễ tre đi đều tăm tắp, thớ bánh xốp mà không khô. Bớt đường mà bột vẫn dậy men ngon lành. Coi bộ tụi bây tính toán trúng ý người ta rồi đó! Kiểu này mấy bà mối thành phố có khó tính mấy cắn vô cũng phải gật đầu chịu thua!
Ba cô cháu gái reo lên thích thú, Lan ôm chầm lấy bà nội, còn Cúc thì nhanh tay gắp bánh ra đĩa lá chuối mời An và Lam. An cắn một miếng bánh bò nóng hổi, nghe vị ngọt thơm ngập tràn khoang miệng. Miếng bánh ấy không chỉ ngon bởi sự hòa quyện của nguyên liệu đất trời phương Nam, mà còn ngon bởi nó chứa đựng sự bao dung của một người bà dành cho con cháu, sự nhường nhịn đầy thông thái giữa cái cũ và cái mới.
Buổi trưa miệt vườn buông xuống với ánh nắng vàng sánh như mật rọi qua vòm lá chôm chôm. Dưới chái bếp, mẻ bánh tét lá cẩm phiên bản cải tiến nhân đậu xanh hạt sen cùng mẻ bánh truyền thống bắt đầu được xếp vào nồi gang lớn đỏ lửa ninh suốt mười tiếng đồng hồ. Tiếng củi nhãn nổ tí tách, khói thơm bảng lảng quẩn quanh vườn cây trĩu quả.
Để mặc cho lửa liu riu dưới nồi bánh, An, Lam và Khang rút về phía chiếc xe Bếp Nhỏ đang đậu dưới bóng râm mận An Phước. Chiếc xe tải hoán cải màu xám tro, từng vượt qua hàng ngàn cây số từ địa đầu Móng Cái, qua đèo dốc đá tai mèo Tây Bắc, xuôi dải miền Trung đầy nắng gió nay đã nhuốm màu phong sương bụi đường. Bàn bếp gấp bằng inox giữa xe được An lau dọn sạch bóng, xếp gọn các chai lọ gia vị để biến thành một bàn làm việc dã chiến. Một chiếc máy tính xách tay đặt ở vị trí trung tâm, kết nối với thiết bị phát wifi 4G di động của xe.
Màn hình máy tính sáng lên, chia làm bốn khung hình trực tuyến qua phần mềm họp từ xa. Nhờ đường truyền ổn định giữa rặng dừa nước Phong Điền, từng tín hiệu kết nối dần được thiết lập.
Lam cẩn thận gõ từng dòng lệnh truy cập vào hệ thống lưu trữ phân quyền của Mạng lưới Người Giữ Bếp. Đây là thành quả sau những đêm thức trắng của cô cùng đội ngũ lập trình viên độc lập tại Hà Nội và các cộng sự tại Hợp tác xã Đường Xa. Lần lượt từng khuôn mặt thân quen hiện lên trên màn hình qua làn sóng truyền dẫn xuyên suốt chiều dài đất nước: anh Sùng Mí Pó với gương mặt vuông vức sạm nắng gió cao nguyên đá Đồng Văn đang ngồi trong chái nhà trình tường; chị Hoàng Thị Lành trong bộ trang phục Tày quen thuộc bên hiên nhà sàn lộng gió nhìn ra mặt hồ Ba Bể xanh biếc; anh Lâm Y Khoa đang ngồi giữa vườn cà phê rợp bóng cây che tại Buôn Ma Thuột; và bà Châu Thị Sa ngồi trong căn nhà gỗ thốt nốt mộc mạc tại Tri Tôn, An Giang.
— Chào cả nhà! — An lên tiếng, giọng run run vì xúc động. Nhìn thấy những khuôn mặt thân thương đã từng cưu mang, đồng hành và sẻ chia từng ngọn lửa bếp núc với cô suốt dặm dài đất nước, bao nhiêu mệt mỏi đường xa dường như tan biến hết. — Hôm nay chúng ta thử nghiệm bước cuối cùng để đưa toàn bộ câu chuyện của mọi người vào kho lưu trữ số độc lập.
Lam ngồi thẳng lưng trước webcam, tiếp lời An, kéo chuột thị phạm từng mục chi tiết trên màn hình:
— Nền tảng này không thuộc về *Tạp chí Dọc Đường*, cũng không thuộc về bất kỳ công ty truyền thông nào. Nó được vận hành dựa trên cơ chế mã hóa phân quyền. Mỗi cộng đồng, mỗi người giữ lửa ở từng chặng sẽ nắm giữ một chìa khóa số riêng biệt — một mã xác thực cá nhân cài đặt trực tiếp trên điện thoại của các anh chị. Toàn bộ tài liệu văn bản, ghi chép kỹ thuật, hình ảnh hay bản ghi âm giọng nói liên quan đến câu chuyện của các anh chị đều bị khóa lại ở chế độ chỉ đọc. Nếu bên ngoài muốn trích dẫn, sử dụng hoặc xuất bản vào bất kỳ ấn phẩm thương mại hay nghiên cứu nào, hệ thống bắt buộc phải gửi yêu cầu cấp phép đến tài khoản của chính các anh chị. Nếu các anh chị bấm từ chối, không ai trên thế giới này có quyền mở tệp dữ liệu đó ra.
Lam rê chuột, minh họa một thao tác giả định khi có một nhãn hàng muốn trích xuất quy trình làm mèn mén của người Mông ở Đồng Văn. Trên màn hình máy tính lập tức hiện lên một hộp thoại cảnh báo bảo mật màu đỏ: *“Yêu cầu truy cập tài sản tri thức bản địa — Chờ xác nhận từ chủ thể lưu trữ: Sùng Mí Pó”*.
Trên màn hình, Sùng Mí Pó bật cười sảng khoái, tiếng cười vang lên rộn rã át cả tiếng gió núi qua loa ngoài:
— Thế này thì tốt quá rồi cán bộ Lam ơi! Lần trước thằng Vinh bên công ty kia nó dọa lấy công thức mèn mén đi đăng ký cái gì của riêng nó làm tao tức mấy đêm. Tao ăn không ngon, ngủ không yên vì sợ tri thức của tổ tiên truyền mấy đời bỗng dưng thành tài sản của một công ty dưới xuôi. Giờ tao giữ chìa khóa này trong điện thoại, thích thì cho đọc, không thích thì tao khóa lại, không ai cướp được mồ hôi của người Mông trên nương đá nữa!
Chị Lành ở Ba Bể cũng khẽ gật đầu, đưa ngón tay trỏ chạm vào màn hình chiếc điện thoại thông minh đang cầm trên tay để kiểm tra thử tính năng rút lại sự đồng thuận:
— Tôi vừa thử bấm nút 'tạm khóa tư liệu âm thanh'. Hệ thống báo hiệu ngay lập tức trên màn hình của cô Lam. Như vậy là chúng tôi có thể yên tâm bảo vệ cuộn băng cassette của bà Mùi và không sợ bị biến thành kịch bản dàn dựng du lịch nữa. Du khách lên Ba Bể muốn tìm hiểu, chúng tôi sẽ mở cho nghe, nhưng không ai có thể tự tiện cắt ghép giọng nói của bà cụ để làm quảng cáo thương mại.
Ánh mắt của Châu Thị Sa từ An Giang ánh lên sự điềm đạm, nếp nhăn nơi khóe miệng người phụ nữ Khmer giãn ra thành một nụ cười hiền hậu. Bà nhìn An qua thấu kính camera, giọng nói trầm ấm thân thương:
— Nồi bún nước kèn của ba dân tộc Kinh - Chăm - Khmer trên này giờ đã có một mái nhà an toàn trên mạng rồi cháu An. Cháu dám sửa sai cho bà ngoại, dám trả lại tên tuổi cho người khác, đó mới là cái gốc bền chặt nhất để tụi bà tin tưởng gửi gắm chìa khóa này. Ẩm thực xứ mình quý ở chỗ chan hòa, sống chung chia sẻ với nhau. Giữ được cái tên, giữ được người nấu là giữ được linh hồn của món ăn.
Lâm Y Khoa từ Buôn Ma Thuột cũng giơ ngón tay cái biểu thị sự tán thành, khoe chiếc điện thoại đã cài đặt ứng dụng bảo mật:
— Rừng cà phê của tôi hay chén muối kiến vàng của người Ê Đê giờ đã có lớp giáp bảo vệ rồi. Cảm ơn Lam, cảm ơn Khang và An rất nhiều.
Cuộc họp trực tuyến diễn ra trong gần hai tiếng đồng hồ. Từng điều khoản bảo mật, từng cơ chế biểu quyết tập thể khi có tranh chấp phát sinh đều được luật sư Tạ Gia Bảo gửi dự thảo bổ sung trực tiếp qua hòm thư điện tử. Giọng luật sư Bảo qua tin nhắn thoại dứt khoát và chắc chắn: mọi hành vi vi phạm thỏa thuận lưu trữ cộng đồng này đều sẽ bị xử lý theo khung pháp lý dân sự quốc tế về quyền tác giả và quyền sở hữu tập thể phi vật thể.
Mô hình lưu trữ ẩm thực cộng đồng có phân quyền — ý tưởng từng ngỡ như một giấc mơ không tưởng giữa lúc Bếp Nhỏ bị dồn vào chân tường pháp lý ở Sài Gòn — nay đã chính thức vận hành mượt mà, kết nối những con người chất phác từ biên cương phía Bắc đến ngã ba biên giới Tây Nam. Họ không còn là những cá nhân đơn lẻ bị lép vế trước sức mạnh của các tập đoàn truyền thông, mà đã trở thành những người đồng sở hữu một mạng lưới văn hóa vững chắc.
Khi màn hình máy tính tắt đi, không gian trong thùng xe Bếp Nhỏ chỉ còn lại tiếng gió xào xạc luồn qua tán lá miệt vườn.
Lam ngồi tựa lưng vào vách xe bằng thép, nhìn xấp tài liệu in dở trên đùi. Những trang giấy in sắc nét ghi lại từng chặng đường gian nan, từng cuộc gặp gỡ định mệnh giữa người và đất. Cô quay sang Khang, người đang cặm cụi cắm từng giắc cắm âm thanh kiểm tra lại các tệp tiếng động hiện trường trên bàn kỹ thuật:
— Anh Khang, về thời hạn nộp số báo đặc biệt, tôi đã họp với Ban biên tập sáng nay. Tạp chí đồng ý lùi ngày phát hành thêm hai tuần. Chúng tôi sẽ không xuất bản bài viết chừng nào chiếc xe này chưa hoàn thành chặng cuối cùng tại Cà Mau và An chưa viết xong thẻ số ba mươi hai tại bến sông Hồng. Không có bất kỳ áp lực chỉ số hay quảng cáo nào được phép can thiệp vào nhịp điệu của chuyến đi này nữa.
Khang dừng tay, ngẩng đầu lên nhìn Lam. Đôi mắt người thợ máy vốn luôn giữ một khoảng cách cảnh giác trước sự sắc sảo của cô nhà báo thị thành, giờ đây đã hoàn toàn buông bỏ sự đề phòng. Anh đẩy chiếc tai nghe chuyên dụng sang phía cô:
— Cảm ơn cô Lam. Tôi vừa lọc xong tạp âm của các tệp ghi âm tiếng mái dầm ở chợ nổi và tiếng cối đá đâm bột của bà Tư sáng nay. Chúng ta gắn giấy phép sử dụng phi thương mại Creative Commons cho toàn bộ kho âm thanh này luôn chứ?
— Chắc chắn rồi. — Lam mỉm cười, cầm lấy tai nghe đeo vào một bên tai, cùng Khang chụm đầu rà soát từng dòng mã bản quyền trên màn hình. Âm thanh mộc mạc của tiếng chày đâm bột, tiếng nước dừa chảy róc rách, tiếng cười hồn nhiên của mấy cô cháu gái bà Tư vang lên chân thực và sống động qua màng loa tai nghe cao cấp.
An đứng bên cửa xe nhìn hai người họ, lòng dâng lên một niềm cảm kích khó tả. Những cạnh tranh vụn vặt, những hờn ghen, nghi kỵ và mặc cảm giữa họ đã hoàn toàn tan biến. Giờ đây, chỉ còn lại sự tôn trọng thuần khiết đối với lao động và một mục tiêu chung: bảo vệ kho di sản phi lợi nhuận mà bà Mùi cùng hàng trăm con người vô danh đã chắt chiu bằng cả cuộc đời.
Khang nhìn ra con rạch rợp bóng dừa nước, nơi con nước lớn đang chầm chậm dâng phù sa đỏ au ngập các chân gốc dừa, chợt nói bằng giọng trầm ấm:
— Đi gần hết một vòng đất nước rồi, nhìn người ta giữ nghề, tôi cũng thấy rõ con đường của mình. Xong chuyến này về lại bến sông Hồng, tôi sẽ dùng số tiền phụ cấp tích cóp được và gom nhặt phụ tùng bãi xe cũ để mở một xưởng cơ khí nhỏ ngay cạnh căn bếp của mẹ Hà. Tôi muốn dạy nghề sửa máy, gò hàn miễn phí cho mấy đứa nhỏ lang thang xóm bến bãi. Xe cộ hay con người, nếu có một nơi chốn để phục hồi và có người kiên nhẫn trao cho mình cái nghề, thì chẳng ai bị bỏ lại phía sau cả.
Lam nhìn Khang, khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên sự thấu cảm sâu sắc:
— Nếu anh mở xưởng, *Dọc Đường* sẽ viết một bài dài về những người thợ bến sông, không phải để kêu gọi từ thiện, mà để người ta thấy vẻ đẹp của những bàn tay dính dầu mỡ. Những bàn tay biết phục sinh những cỗ máy cũ kỹ và biết nâng đỡ số phận của những đứa trẻ cơ nhỡ xứng đáng được tôn vinh như những nghệ nhân gìn giữ ẩm thực vậy.
— Nhớ ghi đúng tên mấy đứa nhỏ phụ việc nghe cô, đừng phong tôi làm anh hùng gì đấy! — Khang hóm hỉnh đáp, nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt phong trần khiến cả An và Lam đều bật cười giòn tan.
Bóng chiều đổ dài trên rạch Phong Điền. Hoàng hôn phương Nam nhuộm đỏ rực mặt nước mênh mông, biến những hàng dừa nước thành những vệt viền sẫm màu kiêu hãnh in trên nền trời rực rỡ. Nồi bánh tét sau mười tiếng đỏ lửa đã chín tới. Mùi nếp chín hòa cùng mùi thơm béo ngậy của nước cốt dừa và hương lá chuối luộc nồng nàn lan tỏa khắp xóm nhỏ, quyện vào làn khói lam chiều đang bảng lảng bay trên những ngọn cây mận, cây chôm chôm.
Bà Tư cùng các cháu vớt những đòn bánh tét tròn lẳn, bóng bẩy ra khỏi nồi gang lớn. Từng đòn bánh được thả nhanh vào một chiếc thùng thiếc chứa đầy nước mưa trong vắt để rửa sạch lớp nhựa lá bám ngoài vỏ, giúp vỏ bánh giữ được màu xanh mướt mát mắt và kéo dài thời gian bảo quản. Sau đó, bà Tư thoăn thoắt buộc từng cặp đòn bánh tét vào sợi lạt dừa, treo lủng lẳng lên giàn tre dựng ngoài chái bếp cho ráo nước. Hàng xóm quanh vùng nghe tin mẻ bánh mới ra lò cũng rủ nhau kéo sang, tiếng bước chân lẹp xẹp trên cầu ván, tiếng hỏi han râm ran cả một góc sân vườn.
Một chiếc đòn bánh tét lá cẩm phiên bản nhân sen đậu xanh được mang ra đặt trên chiếc mẹt tre trải lá chuối tươi giữa chõng tre. Cô cháu gái Mai thoăn thoắt tháo nút lạt buộc đầu bánh, lột bỏ lớp lá chuối ngoài cùng, để lộ ra thân bánh dẻo mịn mang sắc tím thẫm kiêu sa của lá cẩm đồng bằng. Mai dùng chính sợi dây lạt chuối tước mỏng, một đầu ngậm chặt vào khóe môi, một đầu ngón tay khéo léo quàng dây quanh thân bánh, cắt bánh thành từng khoanh tròn đều đặn.
Sợi lạt khẽ cứa qua thân bánh mềm dẻo, để lộ ra những khoanh bánh tét tuyệt đẹp: viền ngoài là lớp nếp lá cẩm tím thẫm mượt mà, dẻo quánh, hạt nếp bóng nhẫy ngậm no nước cốt dừa; ôm lấy lớp nhân đậu xanh hạt sen vàng ươm, mịn màng như nhung, tỏa hương thơm ngát tự nhiên; chính giữa là lòng đỏ trứng muối đỏ au như ánh mặt trời lặn trên sông, ươm bóng dầu ngậy béo. Sự kết hợp màu sắc tím - vàng - đỏ rực rỡ biến khoanh bánh thành một tác phẩm nghệ thuật mộc mạc của đất trời phương Nam.
Bánh được chia đều vào những chiếc đĩa sứ hoa lam xưa cũ, chuyền tay nhau cho bà con lối xóm, cho những người bạn vừa ghé thăm và cho cả những vị khách đường xa. Mọi người ngồi quây quần trên chiếu cói, thưởng thức từng miếng bánh thơm ngon trong tiếng vỗ tay tán thưởng rôm rả. Bà con xóm rạch tấm tắc khen vị ngọt thanh dịu, không gắt cổ, hạt sen bùi ngậy hòa với đậu xanh làm miếng bánh ăn hoài không ngấy. Bà Tư ngồi bên mép chõng, miệng cười móm mém, ánh mắt ngập tràn niềm vui sướng và mãn nguyện.
An ngồi bên mép bàn gỗ dừa dưới bóng râm chiều tà, mở chiếc ba lô vải dù lấy chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ đặt lên đầu gối. Chiếc hộp gỗ báu vật của bà Mùi, người đã dành cả đời đi tìm ngọn lửa trong lòng tha nhân. An rút tấm thẻ công thức số 30 bằng giấy bồi thô ráp, mép giấy đã hơi sờn vì tháng năm và độ ẩm. Cô mở lọ mực đen, nhúng ngòi bút máy kim loại, cẩn thận nắn nót từng dòng chữ trên nền giấy vàng óng:
*“Thẻ số 30: Bánh tét lá cẩm và Bánh bò thốt nốt nướng rễ tre miệt vườn Cần Thơ — Kỹ thuật cân bằng dưỡng chất và sự chuyển giao thế hệ.* *Nghệ nhân truyền dạy: Bà Tư và ba cô cháu gái (Mai, Lan, Cúc).* *Ghi chú bản quyền: Thuộc sở hữu tập thể Mạng lưới Người Giữ Bếp.* *Đúc kết: Truyền nghề không bao giờ là sự áp đặt một khuôn mẫu bất biến từ quá khứ. Truyền nghề thực sự là trao quyền cho thế hệ tương lai được phép đổi mới, thích ứng và sáng tạo trên cái nền của lòng kiên định và tình yêu thương con người.”*
An thổi nhẹ cho vết mực khô đi rồi cẩn thận xếp tấm thẻ vào ngăn hộp gỗ, bên cạnh những tấm thẻ ghi chép từ Hà Giang, Ba Bể, Sa Kỳ, Buôn Ma Thuột và Tri Tôn. Mỗi tấm thẻ là một mảnh ghép của tâm hồn đất nước, của những số phận con người gắn liền với ngọn lửa chái bếp.
Bất chợt, chiếc radio bán dẫn cũ kỹ của Khang đặt trên nắp thùng đồ nghề bằng sắt sau đuôi xe Bếp Nhỏ bỗng rè rè phát đi bản tin thời tiết chiều muộn của đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ:
*“...Cảnh báo khẩn cấp: Do ảnh hưởng của triều cường cực đoan kết hợp gió mùa tây nam thổi mạnh, các vùng ven biển Năm Căn, Ngọc Hiển thuộc tỉnh Cà Mau đang đối mặt với nguy cơ sạt lở đê bao và ngập mặn nghiêm trọng. Nhiều diện tích vuông tôm và rừng ngập mặn giáp ranh có khả năng bị cô lập. Tàu thuyền và các phương tiện lưu thông đường bộ cần hết sức thận trọng...”*
Tiếng radio chìm dần vào tiếng gió chiều lay động những tán dừa nước rì rào dọc theo bờ kênh. Khang đứng dậy, khuôn mặt lộ vẻ nghiêm nghị quen thuộc của người thợ máy trước mỗi chuyến đi bão táp. Anh cầm đèn pin và mỏ lết, bước vòng quanh xe kiểm tra lại cọc bình ắc quy, xiết chặt các bu-lông gầm máy và đo áp suất bốn bánh xe gai chuyên dụng, sẵn sàng cho chặng đường dài vượt qua vùng đất phù sa cuối cùng của đất nước. Chiếc xe Bếp Nhỏ đã sẵn sàng nổ máy cho chặng áp chót hướng về Đất Mũi — nơi lời giải đáp về tấm thẻ số 32 và đứa trẻ mồ côi lưu lạc năm xưa đang chờ đợi.
Cắn miếng bánh tét tím thẫm dẻo quánh thơm mùi nước cốt dừa miệt vườn, An nhìn Khang và Lam, khẽ bảo: 'Chúng ta sắp đi hết con đường rồi, và căn bếp ở quê đang chờ một câu trả lời thực sự.'