Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtCh.27 / 32
Chapter 27

Chòng Chành Ghe Sớm

Bốn giờ sáng trên ngã ba sông Tiền Giang, sương mù bảng lảng quyện vào tiếng nổ lạch tạch giòn đanh của những chiếc máy đuôi tôm chạy muộn, soi rõ từng bóng ghe hàng bồng bềnh neo dọc triền nước chuẩn bị cho buổi chợ sớm. Hơi nước từ mặt sông phả lên mặt lạnh buốt, mang theo vị ngai ngái nồng đậm của những giề lục bình rữa nát dạt vào đăng bãi và mùi dầu cặn khét lẹt phả ra từ ống xả của những cỗ máy thủy cũ kỹ lâu năm không súc rửa. Gió chướng cuối năm thổi ràn rạt trên mặt nước đục ngầu phù sa đỏ quạch, làm những chùm đèn bão treo lủng lẳng trước mũi thuyền chòng chành lắc qua lắc lại, hắt những vệt sáng vàng vọt xuống đáy nước như bầy lân tinh lạc loài giữa màn đêm mênh mông sông nước.

An kéo cao cổ chiếc áo khoác gió đã sờn rách mép chỉ, đứng co ro ở mép cầu tàu ghép bằng ván tạp ọp ẹp cùng Khang. Cả hai đã thống nhất từ chặng trước là không thuê tàu du lịch vỏ composite sơn phết hai màu xanh đỏ sặc sỡ đang nằm chờ mối ở bến tàu trung tâm — nơi mà chỉ chừng hơn một tiếng đồng hồ nữa thôi sẽ ken đặc những đoàn khách lữ hành xúng xính áo phao màu cam chói mắt, lăm lăm máy ảnh đời mới săn tìm những góc chụp sông nước bồng bềnh đậm chất hoài niệm giả định. Thay vào đó, Khang đã cậy nhờ một người quen chở củi dưới mé Chợ Lách liên hệ từ chiều hôm trước để thuê chiếc xuồng ba lá nhỏ của ông Bảy, một thợ chài đứng tuổi rành rẽ từng con nước lớn ròng khúc vàm Cái Bè.

Chiếc xuồng mỏng manh lướt êm ru trên ngọn sóng dập dềnh, mép mạn gỗ chìm sát sạt xuống mặt nước nhờ những nhịp dầm dẻo quẹo và chuẩn xác đến từng tấc của ông Bảy. Khang ngồi ghì lưng ở khoang giữa, hai bàn tay siết chặt lấy túi chống sốc chứa chiếc máy ghi âm chuyên dụng cùng cụm micro định hướng đã được bọc kín lớp mút lông cừu ngăn gió rít. Xuồng khéo léo lách qua một luồng lạch phụ ngổn ngang chà gai và đăng cá, rẽ ngoặt vào khúc sông Cái Bè rộng thênh thang, bỏ lại sau lưng luồng sáng nhức mắt của dãy đèn cao áp vắt ngang cây cầu bê tông trên tuyến quốc lộ.

— Chú Bảy ơi, sao ngó quanh đoạn vàm này ghe thưa quá chừng vậy chú? — An khẽ nghiêng người hỏi, giọng chìm lọt thỏm giữa tiếng gió lộng, ánh mắt ngơ ngác dõi theo những khoảng trống mênh mông đen sẫm trên mặt nước lững lờ.

Ông Bảy dừng dầm trong giây lát, cúi đầu nhổ toẹt một bãi trầu đỏ quạch xuống dòng nước đang xuôi về phía hạ nguồn, rồi buông tiếng thở dài khô khốc quyện trong tiếng khua nước bì bõm:

— Thưa chớ sao không thưa cô Hai. Tầm này của mười năm trước, nội khúc sông từ mí vàm này kéo dài dằng dặc tới tận mé cồn Phú Phong là ghe buôn miệt vườn ken dày như nêm cối. Ghe cây gối mũi lên lái ghe bầu, rực sáng ánh đuốc chai với đèn măng-xông bập bùng như hội hoa đăng trên sông. Hồi đó tiếng chèo quậy nước, tiếng người ta trả giá, tiếng gõ be xuồng gọi bạn hàng nó om sòm cả một vùng trời, đứng trên bờ cách mấy dặm còn nghe rền rĩ. Giờ thì mấy đứa ngó coi, cả mặt sông rộng bát ngát vầy mà lèo tèo chưa đầy năm chục chiếc ráng bám trụ qua ngày. Lát nữa ghé mé ghe hủ tiếu bà Năm, hai đứa uống miếng nước nóng cho ấm cái bụng rồi hỏi bả thì biết rõ mười mươi. Bả neo cái ghe cây đó ở khúc vịnh này từ thuở máy đuôi tôm chạy dầu le còn chưa bén mảng tới miệt này, sống trọn kiếp người trôi nổi trên mấy tấm ván sao mục mí.

Chiếc xuồng ba lá lướt thêm chừng mươi phút thì cập sát vào mạn một chiếc ghe cây mũi bằng đã lên nước đen thẫm bóng nhẫy vì dầm dãi nắng mưa suốt hơn bốn mươi năm ròng rã. Chiếc ghe dài chừng chín thước, be gỗ sao dày cui đóng đinh tán gỉ sét to bằng ngón tay cái, phần mui khum khum lợp bằng lá dừa nước đan xen những tấm bạt nhựa sọc dưa bạc thếch đã rách tơi tả vài vệt dài được vá víu vụng về bằng dây cước ni lông. Đập vào mắt An đầu tiên giữa lòng sông tờ mờ sáng không phải là cảnh bán buôn nhộn nhịp, mà là ánh than củi đỏ rực ấm sực hắt ra từ khoang lái chật hẹp chỉ vừa vặn cho hai người ngồi xếp bằng co chân.

Bà Năm trạc ngoài sáu mươi tuổi, vóc người quắt queo, mái tóc bạc nhiều hơn xanh được bới gọn thành búi củ tỏi sau gáy bằng chiếc trâm nhôm uốn từ cọng nan dù hỏng. Lưng bà đã còng rạp hẳn xuống, dấu vết của mấy mươi năm cúi người múc từng vá nước lèo trên sàn ghe chao chao theo ngọn sóng. Giữa không gian tròng trành không ngơi nghỉ, khoang nấu nướng được bài trí với một trật tự chuẩn xác đến kinh ngạc, như một sự đúc kết tài tình của kiếp sống bồng bềnh. Để giữ thăng bằng tuyệt đối và triệt tiêu nguy cơ hỏa hoạn giữa bốn bề sông nước, bà Năm kê chiếc bếp than tổ ong lọt thỏm vào lòng một chiếc thùng phuy sắt cắt ngắn, bên dưới lót một lớp cát phù sa phơi khô dày tới ba tấc. Bên trên chiếc kiềng sắt ba chân đã bám muội đen dày cộm là một nồi nước lèo bằng nhôm đáy dày dung tích chừng bốn mươi lít. Nước trong nồi sôi liu riu không dứt, bốc lên từng luồng hơi trắng xóa thơm ngát, đủ sức xua bạt cái giá buốt căm căm của sương sông buổi sớm.

An nhẹ nhàng chống tay bước qua mạn ghe cây, đôi chân trần cảm nhận được ngay sự nhịp nhàng dập dềnh quen thuộc của sàn gỗ sông nước. Cô ngồi thụp xuống mép ván lót, say mê quan sát đôi bàn tay khẳng khiu chằng chịt gân xanh nổi cộm của bà Năm đang thoăn thoắt sắp xếp từng món nguyên liệu trên tấm thớt nghiến mòn vẹt chính giữa.

— Mấy đứa đi chi mà sớm dữ nghen bay. Ngồi nép vô đó đi, vịn tay vô be ghe cẩn thận kẻo trượt chân té, sàn ghe đóng rong dừa trơn như mỡ, — bà Năm ngẩng lên cười, đuôi mắt hằn sâu những nếp nhăn hào sảng rồi đưa tay nhấc hé nắp nồi nước lèo.

Ngay khoảnh khắc nắp nồi hé mở, một làn hơi nóng hổi mang vị ngọt đậm đà, thanh khiết và sâu thẳm ùa ra, quấn riết lấy khứu giác An. Nước dùng trong văn vắt như nước giếng đá ong, bề mặt chỉ lăn tăn vài chấm mỡ mỏng màu vàng hổ phách chứ tuyệt nhiên không có lớp màng béo ngậy đục ngầu hay ngập ngụa váng mỡ công nghiệp như những hàng quán nơi phố thị. Nhìn sâu vào lòng nồi qua làn khói mờ ảo, An lập tức nhận ra phương thức chưng cất vị ngọt độc đáo của người đàn bà cả đời neo mình trên con nước Tiền Giang. Dưới đáy nồi sâu thẳm, bà Năm rải một lớp rễ mía lau đào từ mé vườn cồn đã được rửa sạch bùn non và đập dập chẻ tư, đan cài chặt chẽ với những ống xương heo lớn đã luộc xả kỹ qua ba lần nước muối loãng để rút sạch máu bầm. Nhưng linh hồn tạo nên tầng hương đáy sâu sắc lẹm, ngửi qua một lần là nhớ mãi, lại nằm ở những con khô mực xẻ cỡ nửa bàn tay. Những con mực khô ấy được nướng chín vàng đều trên than hồng đượm, thơm nức mũi, rồi đem đặt lên thớt gỗ dùng chày đập tơi xả hết lớp phấn đen cháy xém trước khi thả thẳng vào nồi ninh chung với củ cải trắng cắt khúc vuông vức.

— Nước lèo hủ tiếu dưới ghe này nó khác xa nước lèo trên bờ nhiều lắm cô gái ơi, — bà Năm vừa dùng chiếc muôi nhôm cán dài vớt từng vệt bọt cặn li ti vừa chậm rãi giải thích, ánh mắt ánh lên niềm kiêu hãnh thầm kín khi thấy vẻ chăm chú của An. — Trên bờ người ta có mặt bằng thênh thang, nấu than đá hay bếp điện tà tà, muốn ngọt đậm đà thì cứ việc đổ cả muỗng bột ngọt hay hạt nêm vô là xong chuyện. Còn dưới mạn ghe này, chỗ xoay xở chật như cái hũ nút, sóng dập đập vô mạn rầm rập, lửa chỉ dám giữ liu riu bằng than củi đượm. Khách ăn dưới này toàn dân bốc vác, dân chèo ghe buôn chuyến từ nửa đêm, mồ hôi mồ kê tuôn xối xả. Muốn nước ngọt thanh tao mà người ta ăn vô không bị khan cái cổ, không bị đắng họng hay lừ đừ thì bắt buộc phải cậy nhờ vô rễ mía lau với con khô mực nướng này nè. Rễ mía lau nó rút cho bằng hết mùi hoi của tủy xương heo, lại làm cho nước ngọt mát tận ruột gan. Còn khô mực nướng chín khi ninh nhừ nó nhả ra cái vị mằn mặn, ngọt hậu của biển cả miệt duyên hải, quyện chặt với củ cải trắng miệt cồn thì nồi nước lèo mới đứng vị, neo từ bốn giờ sáng tới trưa trờ trưa trật cũng không bao giờ bị chua hay biến mùi.

Bà Năm ngừng lời, với tay bốc một nắm sợi hủ tiếu Mỹ Tho chính gốc — loại cọng nhỏ mảnh dẻ, màu trắng đục tự nhiên và hơi nhám ráp sờ sờ trên đầu ngón tay — thả gọn lỏn vào chiếc vợt lưới cán tre dài ngoẵng. Bà nhúng nhanh chiếc vợt vào thùng nước sôi sùng sục đặt cạnh nồi nước lèo, lắc mạnh cổ tay ba nhịp thật dứt khoát cho ráo kiệt từng giọt nước đọng rồi trút ngược vào lòng chiếc tô sành viền hoa lam cũ kỹ đã sứt vài vết nhỏ nơi miệng chén.

Đôi bàn tay già nua thoăn thoắt gắp thêm vài lát thịt nạc dăm luộc chín tới xắt mỏng dính như cánh chuồn chuồn, dăm ba miếng tim heo xắt xéo giòn sần sật, rải đều lên trên một nhúm giá sống mập mạp bẻ đôi và mấy cọng hẹ vườn xanh ngắt cắt khúc ngắn. Một muỗng tóp mỡ thắng giòn rụm màu cánh gián vàng ruộm, trộn lẫn tỏi phi thơm nức mũi được rưới đều tay lên mặt bánh, trước khi một vá nước lèo nóng rẫy được múc từ giữa tim nồi chan ngập xăm xắp mặt tô. Khói bốc lên nghi ngút mang theo trọn vẹn hương thơm nồng nàn của biển cả, của rễ mía miệt vườn và tiêu đen cay xè.

An hai tay nâng lấy chiếc tô sành nặng trịch từ tay bà Năm, cẩn thận tựa lưng vào mép be gỗ. Húp một ngụm nước dùng đầu tiên, vị ngọt dịu dàng thanh thoát lan tỏa ngay nơi đầu lưỡi, nối tiếp bằng vị ngọt sâu, đượm đà của tủy xương và mực khô nướng, hòa quyện với cái giòn tan béo bùi của miếng tóp mỡ vừa chạm vào nước nóng. Mọi giác quan dường như bừng tỉnh, xua tan hoàn toàn cảm giác tê buốt của sương sớm ngấm qua lớp áo mỏng. Khang ngồi bên cạnh cũng không kìm được, húp cạn nửa tô nước dùng nóng hổi, vầng trán lấm tấm những giọt mồ hôi ấm áp. Gương mặt anh dường như giãn hẳn ra sau chuỗi ngày dài căng thẳng lái xe vượt hàng trăm cây số từ đô thị ồn ã về miệt sông nước này.

Trời bắt đầu hưng hửng rạng, rạch một đường chỉ màu hồng cam sắc lẹm nơi chân trời xa tít tắp phía hạ nguồn sông Tiền. Vài chiếc ghe cui chở bạn chài đi lưới sớm và mấy chiếc xuồng tam bản chuyên chở người bốc vác bắt đầu từ các ngả rạch tấp lại mạn ghe bà Năm. Những người đàn ông vạm vỡ cởi trần trùng trục, nước da ngăm đen bóng nhẫy vì dầm dãi nắng gió ngàn trùng, vừa ghì mũi xuồng vào be gỗ vừa cất tiếng gọi rổn rảng, xé toạc không gian tĩnh mịch của khúc sông:

— Bà Năm ơi! Cho hai tô nhiều tóp mỡ với hành trần nghen bà! Chút nữa tụi tui kéo hàng qua vựa bên chợ cạn rồi ghé gởi tiền luôn một thể!

Bà Năm nở nụ cười móm mém hiền hậu, tay thoăn thoắt trụng bánh thả thịt vào tô, miệng đáp lời rành rọt không chút đắn đo:

— Cứ ăn cho chắc bụng đi tụi bây, tao ghi vô mép sổ đó chớ có chạy đi đâu mà sợ mất!

Nhìn những chiếc xuồng nhỏ rời đi sau khi đón lấy tô hủ tiếu nghi ngút khói chuyền vội qua mạn, bà Năm khẽ buông tiếng thở dài kín đáo, đưa ánh mắt đùng đục nhìn mông lung ra khoảng sông vắng lặng đang dần lộ rõ dưới ánh ngày.

— Chợ nổi Cái Bè xứ này giờ coi như teo tóp mất hơn hai phần ba rồi hai đứa ơi, — giọng bà chùng hẳn xuống, mộc mạc và trĩu nặng như vạt đất phù sa bồi lắng. — Mười lăm hai mươi năm trước, miệt này là cái túi hàng của cả miền Tây. Ghe chở dưa hấu miệt Gò Quao, sà lan chở lúa miệt An Giang, ghe khóm, ghe dừa bến Bến Tre dập dìu ken kín mặt nước. Bạn hàng xúm xít mua bán xôn xao từ nửa đêm tới tận lúc đứng bóng mặt trời rọi thẳng đỉnh đầu vẫn chưa dứt phiên. Giờ thì mấy đứa nhìn coi, đường lộ thảm nhựa phẳng lì chạy tuốt luốt vô tận mé vườn tạp. Xe tải ba chân bốn chân đậu ngay sát bờ bao, người ta bốc hàng rột rột vài tiếng đồng hồ là hàng hóa phi thẳng lên Sài Gòn, giao tận cửa mấy cái chợ đầu mối trên bờ hay đưa tuốt vô mấy cái siêu thị máy lạnh chạy ro ro. Ai mà thèm chất hàng xuống ghe rồi lênh đênh hai ba ngày đêm sông nước cho cực cái thân xác, lại thêm hao hụt dập nát hết trơn.

Bà Năm đưa tay với lấy chiếc bình trà sành da lươn cũ kỹ sứt vòi đặt bên góc bếp, cẩn thận rót ra ba chiếc chén con thứ nước trà quao sắc đỏ sẫm ấm sực:

— Hồi trước, tui tính ráng cắn răng giữ cái ghe cây này, tích cóp đồng ra đồng vô để sau này sang tên truyền nghề lại cho thằng Hai với con Út. Nhưng tụi nó lớn lên, ngày ngày ngó cái cảnh cha mẹ tụi nó trọn một đời chân không bén đất, ban đêm ngủ thắc thỏm canh con nước ròng nước lớn để chêm dây buộc néo, hễ có chiếc sà lan cát nào chạy ẩu xé sóng qua là nước tràn be, sóng đánh lắc lư muốn hất văng cả nồi cơm đang sôi, tụi nó ớn tới tận xương tủy. Năm ngoái, hai đứa nó dứt khoát gom hết mùng mền quần áo bước lên bờ, nộp đơn xin vô làm công nhân may mặc ở khu công nghiệp Long Giang tuốt trên bờ kia. Thằng Hai nó cầm tháng lương đầu tiên về dúi vô tay tui, nó bảo: ‘Mẹ ơi, làm công nhân trong xưởng tuy có gò bó giờ giấc thiệt, nhưng tối về có căn phòng trọ khô ráo, kê cái giường nệm êm mà ngả lưng ngủ trọn giấc, mưa to gió lớn cấp mấy cũng hổng lo chìm ghe trôi đồ, lại có cuốn sổ bảo hiểm y tế lận lưng lúc ốm đau ngặt nghèo’. Nghe con nói vậy, tui ứa nước mắt chảy dài xuống ngực mà cắn răng chịu. Đời tụi nó phải khác đời tui, đời cha ông tụi nó, chớ đâu thể ép tụi nó ôm riết lấy cái mái dầm với manh chiếu rách này mà trôi nổi bấp bênh mãi được.

Hiểu được nỗi lòng nặng trĩu cùng sự vất vả sớm hôm của người đàn bà già nua neo đơn nơi ngã ba sông, An khẽ khàng xin phép được xắn cao tay áo, ngồi xích lại phụ giúp bà một tay bên mé khoang trước. Đôi bàn tay vốn quen với việc bếp núc của cô thoăn thoắt bưng từng tô hủ tiếu nóng hổi, nghiêng người cẩn trọng chuyền qua mạn cho các phu bốc vác từ những chiếc ghe chở khóm Tân Lập và khoai lang tím Bình Tân vừa cập sát mạn xin mua điểm tâm.

Giữa những khoảng lặng ngắn ngủi khi chợ sông vãn bớt khách ghe, An ngồi thụp bên mạn gỗ, giúp bà Năm lật giở cuốn sổ tay nát mép bìa bọc nylon đục, những trang giấy bổi đã ố vàng và quăn queo vì ngậm hơi ẩm sông nước suốt bao mùa lũ. Từng dòng chữ nguệch ngoạc ghi nợ gối đầu bằng mực tím đã phai lợt theo năm tháng: có những khoản tiền bạn ghe nợ từ vụ dưa hấu tết năm ngoái chưa kịp trả, có những cái tên thương hồ đã dạt trôi đi biệt tích miệt sông Hậu suốt mấy mùa nước nổi không thấy quay lại chốn này. An cẩn thận dùng chiếc thước kẻ gỗ lấy trong túi xách, kẻ lại ngay ngắn từng cột số, kiên nhẫn rà soát và ghi chép rành mạch các khoản công nợ còn lại vào một cuốn sổ mới tinh bìa cứng chống nước mà cô luôn mang theo bên mình.

Trong khi đó, Khang nhẹ nhàng bước sang chiếc xuồng ba lá của ông Bảy, lướt chậm rãi sang các mạn ghe buôn neo đậu xung quanh để tiến hành công việc ghi nhận điền dã của mình. Anh không dùng ống kính chụp thẳng hay chĩa máy ảnh cận cảnh vào những gương mặt nhọc nhằn, khắc khổ của những người buôn bán nghèo khó — điều mà anh luôn xem là sự tọc mạch thiếu tôn trọng đối với sinh kế của họ. Thay vào đó, Khang lặng lẽ giơ cao cần micro định hướng dài, kiên nhẫn thu lại từng thanh âm nguyên bản nhất của buổi sớm Cái Bè: tiếng mái dầm gỗ khua nước bì bõm nhịp nhàng như nhịp thở của dòng sông, tiếng be gỗ va chạm côm cốp vào nhau theo từng đợt sóng xô bờ, tiếng nổ lách tạch giòn tan của chiếc máy đuôi tôm từ xa vọng lại qua màn sương mù, và đặc biệt nhất là thứ thanh âm độc nhất vô nhị của nền văn hóa sông nước miền Tây — tiếng cọ xát lách cách khô khốc của những cây bẹo tre cao vút dựng đứng trước mũi ghe. Trên ngọn bẹo tre lắc lư ấy, người ta treo lủng lẳng một củ cải trắng, một trái khóm chín vàng hay một chùm hành hoa tươi roi rói, để khách thương hồ từ cách xa nửa dặm sông chỉ cần ngước mắt nhìn lên là biết ngay chiếc ghe đó đang bày bán thứ nông sản gì mà tấp xuồng vào mua.

Mỗi khi chiếc xuồng ba lá ghé sát mạn một chiếc ghe nào đó, Khang đều lễ phép nghiêng đầu cất tiếng hỏi:

— Bác ơi, cháu tên Khang, tụi cháu đi ghi lại những âm thanh đời sống của bến sông Cái Bè để làm tư liệu lưu giữ mai sau, cháu xin phép bác cho cháu được thu âm tiếng gõ be thuyền với tiếng lắc lư của cây bẹo này một lát nghen bác?

Những người thương hồ miền Tây cả đời dạn dày sóng nước, nghe lời hỏi han chân thành thì xua tay cười sảng khoái, hàm răng ám khói thuốc rê ánh lên nét hồn hậu:

— Ghi đi chú em! Có cái giống gì đâu mà phải xin với xỏ! Cứ thu cho hết đi, mai mốt cái chợ nổi này mà dẹp thiệt, ghe cộ lên bờ hết trơn thì con cháu mấy chú còn có cái băng mà bật lên nghe lại cho biết hồi xưa ông bà tụi nó sống làm sao trên mặt nước!

Đến gần tám giờ sáng, khi mặt trời đã nhô cao quá rặng bần xanh rì ven sông, hắt những vạt nắng vàng hanh rực rỡ xua tan hoàn toàn màn sương sớm, An và Khang mới nói lời chia tay bà Năm. Chiếc xuồng ba lá của ông Bảy chèo chậm rãi đưa hai người quay trở về bến đất — nơi chiếc xe tải hoán cải Bếp Nhỏ đang nằm lặng lẽ nép mình dưới bóng mát rười rượi của rặng dừa nước rậm rạp.

Vừa bước chân lên bờ đất sình lầy, đập vào mắt An là hình ảnh một nhóm thợ khuân vác bến bốc dỡ rau củ đang ngồi bệt trên những bao tải dứa chất đống ven bờ. Lưng áo họ ướt đẫm mồ hôi muối, dán chặt vào làn da rám nắng, gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi rã rời sau một ca lao động cật lực bốc hàng từ các ghe hàng lớn lên xe tải kéo dài suốt từ nửa đêm. Không một chút chần chừ, An bước thoăn thoắt vào khoang sau của chiếc xe Bếp Nhỏ, với tay bật chiếc bếp gas đôi dã chiến.

Đặt lên bếp chiếc nồi gang dày dặn mang theo từ căn bếp cũ của bà ngoại Mùi — kỷ vật gắn bó qua bao dặm đường dọc dài đất nước — An nổi lửa nấu một nồi cháo sườn heo ấm nóng. Cô tận dụng những dải sườn non tươi rói vừa mua vội ở sạp thịt ven bến chợ cạn, chặt miếng vuông vức rồi trần qua nước sôi gừng để khử sạch mùi hoi. Gạo tẻ thơm pha lẫn một nắm gạo nếp dẻo được rang sơ cho hơi ngả vàng thơm lừng trước khi trút vào nồi ninh nhừ cùng nước hầm sườn ngọt lịm. An thả thêm vào nồi một nắm củ cải trắng thái hạt lựu cho ngọt nước và một nhánh gừng già đập dập cay nồng. Chỉ mươi lăm phút sau, mùi cháo sườn thơm ấm, mộc mạc và lành thấu ruột gan bốc lên ngùn ngụt, lan tỏa khắp mép bến cát hoang vắng.

An và Khang cùng nhau múc từng tô cháo nghi ngút khói, rải thêm chút hành hoa xắt nhỏ cùng nhúm tiêu đen giã dập, mang chia sẻ tận tay cho từng người phu khuân vác đang đói lả. Những người đàn ông lam lũ ngồi quây quần trên những khúc gỗ dừa mục bên triền sông phù sa, vừa thổi vừa húp xì xụp từng muỗng cháo nóng, tiếng trò chuyện râm ran rộn rã át cả tiếng sóng vỗ bờ.

Giữa khoảnh khắc bình dị và ấm cắp ấy, chiếc điện thoại đặt trong túi áo khoác của An khẽ rung lên liên hồi. Một bức thư điện tử từ nhà báo Phạm Quỳnh Lam được gửi tới qua hộp thư công việc: Ban biên tập Tạp chí Dọc Đường đã chính thức phê duyệt bản đề cương chi tiết cho số báo đặc biệt dành trọn vẹn dung lượng cho hành trình văn hóa của Bếp Nhỏ. Họ chấp thuận vô điều kiện việc đăng tải toàn bộ các dị bản ký ức ẩm thực do chính cộng đồng bản địa cùng đồng thuận ghi nhận, tuyệt đối không biên tập cắt xén hay bóp méo ngữ cảnh để phục vụ mục đích thương mại hay quảng bá du lịch hời hợt. Kèm theo bức thư là lời nhắn ngắn gọn của Quỳnh Lam, báo tin cô sẽ sớm đáp chuyến bay xuống Cần Thơ trong vài ngày tới để cùng nhóm của An tiến hành thử nghiệm hệ thống lưu trữ dữ liệu phân quyền dành riêng cho Mạng lưới Người Giữ Bếp.

An khẽ thở phào nhẹ nhõm, một niềm xúc động âm thầm dâng lên nơi lồng ngực. Cô bước lên thùng xe, mở chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ đặt ngay ngắn trên chiếc bàn xếp dã chiến. Rút ra tấm thẻ thứ hai mươi bảy bằng chất liệu giấy bìa cứng màu ngà mộc mạc, An cẩn thận chấm ngòi bút máy mực đen, nắn nót viết từng dòng chữ chân thực chắt lọc từ chính gan ruột và những gì mắt thấy tai nghe suốt buổi sáng nay:

*“Thẻ số 27: Hủ tiếu ghe Cái Bè — Vị ngọt rễ mía lau, khô mực nướng và sự trôi chảy của sinh kế sông nước.*

*Nước dùng trên ghe cây chắt chiu từ rễ mía lau lót đáy nồi, khô mực xẻ nướng đập dập xả sạch bụi than và củ cải trắng miệt cồn, giữ ngọn lửa liu riu bằng chiếc bếp than tổ ong lọt thỏm trong lòng thùng phuy sắt lót cát sông giữa khoang hẹp chòng chành, là sáng tạo thích ứng tuyệt vời của người thương hồ qua bốn mươi năm bám mặt nước Tiền Giang. Nhưng sự biến mất dần của chợ nổi Cái Bè không phải là một bi kịch văn hóa cần phải lãng mạn hóa để than khóc, hay cố công níu kéo bằng những lễ hội nhân tạo vụng về chỉ nhằm mục đích phục vụ thị hiếu của khách du lịch ghé qua vài giờ đồng hồ. Đó là quy luật chuyển dịch tự nhiên và tất yếu của sinh kế qua từng thời kỳ: đường bộ mở ra phẳng phiu, xe tải lăn bánh xuyên đêm, hàng hóa cần phải đi nhanh hơn để tránh hư hao dập nát, và đời sống của người lao động chân lấm tay bùn cần những điểm tựa an toàn, ổn định hơn trên mặt đất khô ráo. Quyết định rời mạn thuyền bước lên bờ của con cháu bà Năm để làm công nhân xưởng may, để đêm về có một tấm nệm êm trong căn phòng trọ không dột ướt và cầm trên tay cuốn sổ bảo hiểm y tế phòng thân, là một sự lựa chọn cần được tôn trọng trọn vẹn, thay vì nhân danh sự bảo tồn hoài niệm mà ép họ phải tiếp tục kiếp sống lênh đênh bấp bênh làm cảnh tượng trình diễn cho những ống kính máy ảnh của người ngoài.”*

An cẩn thận thổi nhẹ cho nét mực mau khô rồi xếp tấm thẻ vào chiếc hộp gỗ mun, đặt nằm cạnh những tấm thẻ ghi chép ký ức ẩm thực của chặng đường dài đã đi qua. Cô bước ra phía sau thùng xe, tựa hai tay vào thanh lan can sắt mát lạnh, phóng tầm mắt nhìn xuống mặt sông Tiền đang lấp loáng dát vàng dưới ánh nắng ban mai rực rỡ.

Phía ngoài luồng lạch chính giữa dòng sông, một chiếc tàu cao tốc chở đầy những du khách mặc áo phao đỏ chói xé toạc mặt nước lao vun vút ngang qua, tạo nên những đợt sóng bạc đầu cuồn cuộn xô mạnh vào mép bờ. Chiếc ghe cây mục vỏ đã nhuốm màu thời gian của bà Năm chao đảo, lắc lư dữ dội giữa những lượn sóng cuộn trào bọt trắng xóa.

Nhìn chiếc ghe hủ tiếu lắc lư giữa lượn sóng xô của tàu cao tốc, bà Năm buông nụ cười móm mém: 'Nước chảy xuôi thì thuyền phải theo, tụi nhỏ lên bờ có công việc ổn định là tui mừng trút được cái nợ sông nước.'

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories