Bùn Lắng Đầm Ô Loan
Chiếc xe Bếp Nhỏ dừng lại bên mép đầm Ô Loan khi gió chiều bắt đầu quất rát rạt qua rặng phi lao ven bờ. Những nhánh lá kim khô xác va vào nhau phát ra chuỗi âm thanh xào xạc, khô khốc và buốt lạnh, mang theo mùi bùn lợ ngai ngái nồng nặc xộc thẳng vào buồng phổi, quyện lẫn với tiếng cãi vã chói tai chát chúa giữa các chủ chòi nuôi sò huyết.
Mặt nước đầm mênh mông trải dài tít tắp, phẳng lặng như một tấm gương lớn đúc bằng xám chì dưới ráng chiều nhập nhoạng đang dần sụp xuống từ phía rặng đèo Quán Cau. Nhưng vẻ tĩnh lặng của mặt nước chỉ là sự lừa dối thị giác, bởi bầu không khí quẩn quanh mép bờ lại đặc quánh sự căng thẳng và ngột ngạt. Ngay sát mí nước, dăm ba chiếc thuyền nan chao lắc dữ dội quanh những cọc tiêu cắm xiêu vẹo trên nền đất nhão. Tiếng sắt thép va vào nhau loảng xoảng, chát chúa át cả tiếng sóng vỗ ì ọp vào bờ cát. An vừa bước xuống xe, mũi giày vải chưa kịp quen với độ lún trơn trượt của lớp cát pha bùn đáy đầm thì một giọng đàn ông khàn đặc, hằn học đã gắt lên thất thanh giữa luồng gió thốc:
— Cứ cào đi! Mấy người đứng đó nói hay lắm! Đợi tới lúc nó lớn bằng đầu ngón chân cái thì đại lý ngoài thị trấn họ xiết nợ từ tháng trước rồi! Mấy chục triệu tiền thức ăn tôm, tiền con giống vụ rồi còn treo lơ lửng trên đầu, mấy người có trả thay cho nhà tui không mà đứng đó cản? Có giỏi thì móc tiền túi ra đền cho tui đi!
— Anh cào bằng cái thứ răng dày đó thì một hột cát cũng không lọt qua nổi, huống hồ là con giống! Anh cào hết mầm non, bới sạch cả bãi đẻ thì năm sau lấy cái gì đổ vào mồm? Đáy đầm này là của chung cả làng, đâu phải cái bồ lúa riêng nhà anh mà muốn vét sạch sành sanh là vét!
Khang vòng vội ra sau thùng xe, xách theo hai chiếc ủng cao su dã chiến chuyên dụng lội nước, bước nhanh đến bên cạnh rồi khẽ chạm vào khuỷu tay An, giọng anh trầm xuống đầy vẻ cảnh giác:
— Có biến lớn rồi. Đằng kia là bến đổ sò của thôn. Nhìn mớ cào sắt họ vác dưới lườn thuyền lên kìa, răng khít rịt như lược bí chải chí vậy.
An nheo mắt nhìn theo hướng ngón tay Khang chỉ. Dưới bóng chiều chập choạng đang đổ dài trên mặt đầm, từng chiếc cào sắt đúc thủ công với hàng răng nhọn hoắt, khoảng cách giữa các kẽ răng chưa đầy nửa đốt ngón tay, đang được ba người đàn ông lực lưỡng kéo rê nặng nề trên lớp bùn đen quánh. Đầm Ô Loan vốn nổi danh cả nước bởi thứ sò huyết mang dòng máu đỏ tươi rực rỡ, thịt dày, ngọt đậm đà nhờ nguồn nước lợ trù phú kỳ diệu được giao thoa hoàn hảo giữa ngọn triều lạch biển An Hải và các dòng suối ngọt mát lành từ rặng núi đá đèo Quán Cau đổ về. Nhưng thứ đang được trút ầm ào xuống những chiếc sọt nhựa xanh đỏ cáu bẩn trước mặt An lúc này tuyệt nhiên không phải là những con sò béo mẫm danh bất hư truyền từng làm rạng danh sản vật xứ đầm. Đó chỉ là một đống hỗn tạp nhầy nhụa bùn non, lẫn lộn trong đó là hàng vạn sinh linh bé tí xíu, chỉ nhỉnh hơn hạt ngô bắp non hoặc hạt đậu đen, vỏ còn mỏng tang, trong suốt và mềm oặt.
Một người phụ nữ trung niên, trạc ngoài bốn mươi tuổi, dáng người gầy guộc nhưng gân guốc và săn chắc như một nhánh đước già cắm sâu nơi đầu sóng, đang dang cả hai cánh tay trần đen nhẻm chặn đứng trước mũi một chiếc thuyền gỗ nhỏ. Chị mặc bộ đồ bà ba may bằng vải thô bạc phếch bám đầy những ngấn bùn khô trắng vôi, trên đầu chít chiếc khăn rằn Nam Bộ đã sờn rách mép tua rua. Đó là chị Diệp. Đôi mắt chị trũng sâu vì thiếu ngủ, quầng thâm lộ rõ nhưng rực lên ngọn lửa giận dữ tột cùng khi chị nhìn thẳng vào lòng sọt nhựa của nhóm thợ cào vừa kéo lên:
— Mấy người bán mớ này cho đầu nậu được bao nhiêu? Mười lăm ngàn một ký sò cám này hả? Mười lăm ngàn bạc để họ đem về xay nhuyễn ra làm thức ăn gia súc, hay chở đi bán tháo cho mấy đầm nuôi tôm hùm lồng ngoài vịnh Xuân Đài? Mấy người có tính được không? Một ký sò non lít nhít này nếu ráng để thêm ba tháng nữa dưới tầng bùn tự nhiên, nó ngậm nước lợ mà lớn lên sẽ nở ra thành mười ký sò thịt, nuôi sống đàng hoàng cả chục hộ gia đình trong xóm! Tận diệt kiểu này là bức tử cái đầm, là tự bẻ gãy chén cơm của chính mình!
Gã đàn ông cầm cán cào sắt, mặt mày xám ngoét vì ngâm nước lạnh lâu giờ và hằn lên vẻ cay cú cùng quẫn, quăng mạnh khúc cán gỗ mun xuống bùn đánh toẹt một tiếng nghe lạnh buốt sống lưng:
— Bức tử đầm hay bức tử tui? Đại lý ngoài thị trấn chiều nay cho hai thằng xăm trổ vô tận ngõ đòi tiền cám công nghiệp rồi đó! Không gom đủ sò giao cho xe tải trước bảy giờ tối nay để họ cấn trừ nợ lãi, ngày mai họ dỡ luôn cái chòi canh tôm lẫn mái nhà của tui! Chị Diệp, chị nói đạo lý nghe dễ lắm, vì chị đâu có mang nợ ngân hàng ngập đầu như tụi tui! Chị có giỏi thì đứng ra gánh nợ giùm đi rồi tui buông cào!
Không khí bỗng chùng hẳn xuống, quánh đặc và tê tái. Xung quanh chỉ còn tiếng gió chướng lùa qua ngọn phi lao nghe rười rượi như một tiếng thở dài thảng thốt kéo dài trên mặt nước. Nỗi khốn cùng cùng cực của những con nợ bị trói chặt vào chuỗi cung ứng thức ăn thủy sản nhân tạo và phân bón hóa chất đã biến lòng tham sinh tồn thành lưỡi hái sắc lẹm, tàn nhẫn quét sạch tầng đáy của đầm nước mặn mòi. Người đàn ông không thèm ngoái đầu lại, lầm lũi cúi xuống bưng sọt sò non lít nhít đi vội vã về phía chiếc xe tải đông lạnh đang nổ máy xình xịch, phả khói đen mù mịt chờ sẵn trên đường liên thôn.
Chị Diệp đứng trơ trọi giữa doi bùn lợ, hai vai gầy rung lên bần bật, lồng ngực phập phồng sau cơn cãi vã đến hụt hơi. Nhác thấy An và Khang đang từ từ bước lại gần mé bờ đá, chị đưa bàn tay lem luốc bùn non quệt ngang mồ hôi trên trán, ánh mắt thoáng chút sắc lẹm và cảnh giác cao độ:
— Hai cô cậu từ đâu tới? Đừng nói là lại mấy đứa đi làm chương trình ẩm thực trên mạng đấy nhé? Mấy hôm nay ngày nào cũng có mấy tốp vác máy ảnh bự chảng, gắn micro dài ngoằng tới đây đòi lùng tìm sò huyết khổng lồ để quay phim đăng mạng cho khách du lịch chảy nước miếng thèm thuồng. Ở cái đầm nát này, đào đâu ra thứ đó nữa mà tìm! Muốn quay cảnh giả tạo thì đi chỗ khác!
An dừng bước, nhẹ nhàng đưa tay tháo chiếc máy ảnh đang đeo lủng lẳng trước ngực đặt sang bên hông xe, rồi cúi đầu cất lời chào chị bằng chất giọng trầm tĩnh, mộc mạc và chân thành:
— Dạ thưa chị, tụi em đi xe Bếp Nhỏ từ mạn Sa Kỳ vào đây. Em không tìm sò khổng lồ để quay phim câu view đâu chị. Em đi tìm hiểu xem một bữa ăn thực sự của người dân đầm Ô Loan hôm nay đang sống, đang thở và đang chống chọi như thế nào. Em từng nghe các cụ già ở mạn Tuy An kể lại, ngày xưa người làng mình chỉ bắt sò huyết bằng tay không hoặc dùng cào ba răng thưa, con nước ròng lội xuống, bắt con nào là chắc nịch con nấy, vỏ bóng láng như bôi dầu.
Ánh mắt sắc lẹm của chị Diệp chùng xuống đôi chút khi nghe An nhắc đến lối bắt sò truyền thống bằng tay trần từ thời trước. Chị đưa mắt nhìn sang chiếc xe tải hoán cải giản dị của hai người đỗ nép mình khiêm nhường dưới gốc phi lao cổ thụ, rồi nhìn xuống đôi ủng dã chiến lấm lem cát của Khang. Chị thở hắt ra một hơi dài, giọng dịu đi nhưng vẫn trĩu nặng:
— Muốn biết nó thở ra sao thì xắn quần lội xuống đây với tôi. Đứng trên bờ cao ngửi mùi gió thì thấy biển đẹp nước êm, sóng sánh lãng mạn lắm, chứ có thọc tay xuống bùn sâu mới thấu đáy đầm này đang ứa máu cỡ nào.
An không một chút chần chừ hay e ngại. Cô cởi ngay đôi giày vải đã lấm bụi đường, thay bằng đôi ủng cao su mỏng rồi bước thẳng xuống bãi bồi sền sệt. Ngay khoảnh khắc chạm chân xuống mí nước, lớp bùn lợ lập tức mút chặt lấy bàn chân cô như muốn kéo thụt xuống. Mùi bùn đầm Ô Loan xộc lên mũi rất đặc trưng: nó vừa có vị mặn mòi, chát chúa của biển cả xa xôi, vừa có mùi ngai ngái nồng đậm của lớp phù sa mùn mục thối rữa, lẫn chút mùi hăng hắc của rong rêu lợ đang phân hủy dưới cái nắng oi nồng còn sót lại của ban ngày. Chị Diệp cúi xuống, nhặt một chiếc rổ tre đan thưa mắt trao cho An. Mép rổ được cạp cẩn thận bằng những nan mây rừng dẻo dai, bóng nước.
— Đi theo tôi. Tôi không bao giờ xài cào sắt. Con nước ròng kiệt này chỉ cần dùng tay không mò mẫm và mang theo chiếc cào ba răng thưa bằng tre cật này thôi. Con nào nhỏ lọt qua kẽ tre là con đó chưa tới số phải chết, việc của nó là ở lại đáy đầm mà lớn, mà đẻ trứng cho mùa sau.
Chị Diệp cúi rạp người xuống mặt nước xám ngắt, hai bàn tay thô ráp với những đầu móng tay bị nước lợ ăn mòn khuyết sâu thành từng ngấn sục thoăn thoắt vào lớp bùn lầy ngập tới quá bắp chân. An cẩn thận làm theo từng động tác của chị. Bùn lạnh buốt luồn qua từng kẽ ngón tay, ram ráp và buốt nhói bởi những mảnh vỏ hàu, vỏ điệp vỡ sắc như dao cạo ẩn sâu dưới đáy. Mỗi lần kéo tay lên, trong lòng bàn tay An chỉ là những mẩu đá cuội vụn vặt, vỏ ốc chết đã đóng rêu đen hoặc những chú còng gió bé bằng chiếc cúc áo giật mình chạy tán loạn. Phải mất gần nửa giờ đồng hồ ngâm mình dưới làn nước lợ buốt giá, hai bàn tay An đỏ ửng lên rồi chuyển dần sang tê dại vì lạnh và mỏi, cô mới chạm phải một vật cộm tròn, vỏ nhám thô ráp với những đường gân sâu hoắm nằm im lìm dưới lớp bùn sâu gần một gang tay.
An nín thở, cẩn trọng nhấc vật thể ấy lên khỏi mặt nước. Đó là một con sò huyết trưởng thành thực thụ, to bằng miệng chiếc chén nước chấm, hai mảnh vỏ khép chặt khít rịt màu nâu sẫm vương đầy bùn đen óng ánh. Trên sống lưng khum tròn của nó hằn rõ gần hai mươi đường rãnh tia dọc sâu hoắm, sắc nét như những vết khắc tinh xảo của thời gian.
— Được một con rồi nè cô bé! — Chị Diệp ngoái lại nhìn, trên môi nở một nụ cười hiếm hoi làm giãn bớt những nếp nhăn khắc khổ quanh khóe mắt. — Con sò này phải sống sót qua ít nhất hai mùa mưa bão lớn dưới tầng bùn sâu này mới đạt tới kích cỡ này đó. Giống này thịt dày cơm, ngọt lịm tận chân răng. Cả buổi chiều nay hai chị em mình lội rạc cẳng, sục nát mấy vạt bùn chắc cũng chỉ gom được chừng mươi con cỡ này là cùng đường.
Chị Diệp xách chiếc rổ tre với thành quả lèo tèo — chừng chục con sò trưởng thành nằm lẻ loi, dăm ba con tôm đất nhỏ nhảy tanh tách và một nắm rau câu lợ xanh thẫm — dẫn An và Khang quay trở lên mép bờ đá râm mát dưới chân một gò đất nhô ra đầm. Chị ngồi thụp xuống, nhanh tay nhặt những nhánh phi lao khô rụng đầy quanh các gốc cây, bẻ gãy lách tách rồi nhóm lên một bếp lửa nhỏ ngay trên nền cát. Khang nhanh nhẹn bước tới phụ chị một tay, anh kê mấy hòn đá cuội phẳng làm kiềng ba chân vững chãi, rồi lấy chiếc quạt nan bạt gió thổi bùng những đốm than hồng rực. Than củi phi lao cháy đượm nồng nàn, nổ tí tách vui tai và tỏa ra một mùi thơm hăng hắc, cay nồng đặc trưng của tinh dầu gỗ rừng biển.
Chị Diệp đặt trực tiếp những con sò huyết còn ướt sũng bùn tươi lên chiếc vỉ sắt mộc đặt ngang qua bếp than. Ngọn lửa than đỏ rực liếm láp vào lớp vỏ vôi dày sần sùi. Chỉ vài ba phút sau, sức nóng khủng khiếp của than phi lao bắt đầu xuyên thấu qua lớp vỏ dày, nước lợ tự nhiên giấu kín bên trong bụng sò bắt đầu sôi lên xèo xèo. Con sò khẽ rung rinh rồi he hé miệng mở ra một khe nhỏ. Một dòng nước sánh màu đỏ thắm như máu tươi rỉ ra, nhỏ tí tách xuống than hồng bốc lên một làn khói thơm ngào ngạt, quyện chặt giữa mùi khoáng chất thanh khiết của đất bùn và vị béo ngậy đặc trưng của loài nhuyễn thể hai mảnh nước lợ.
— Nướng sò huyết Ô Loan là tuyệt đối không được tham lửa, mà cũng không được để nó há hốc mồm ra hết cỡ, — chị Diệp vừa dùng đôi đũa bếp gắp con sò xuống chiếc đĩa sành sứt mẻ vừa chậm rãi giảng giải. — Nó chỉ vừa he hé miệng ra một chút, phần ruột thịt bên trong vừa chín tới độ mềm mại nhất, huyết hãy còn tươi dong dỏng đỏ au thì ăn mới ngọt, mới tẩm bổ vào người. Để nướng khô queo, thịt co rút lại đen thui là coi như vứt đi hết tinh túy ngàn đời của cái đầm này.
Chị cẩn thận dùng tay tách đôi vỏ một con sò còn nghi ngút khói, đưa sang cho An. Thịt sò bên trong đỏ au, mọng nước, căng tròn đẫm huyết như một múi bưởi đào chín mọng. An nhận lấy, khẽ cắn nhẹ một miếng nhỏ. Vị ngọt đậm đà, sâu thẳm bùng nổ ngay tức khắc nơi đầu lưỡi. Đó là một vị ngọt đằm thắm, không vương chút tanh nồng khó chịu nào mà thanh khiết, tròn trịa đến kỳ lạ, mang theo cả vị mặn mòi nguyên thủy của biển khơi và sự béo bùi, bùi bùi của tầng phù sa tích tụ qua bao mùa lũ lớn. Đây chính là hương vị đích thực từng làm say lòng biết bao thế hệ thực khách gần xa, thứ phong vị thiêng liêng mà bà Mùi từng nắn nót nhắc đến trong những dòng hồi ức ngắn ngủi đầy trăn trở của mình. Nhưng để có được dăm ba miếng ngọt ngào đẫm máu đỏ này trên đĩa sành, đáy đầm Ô Loan ngoài kia đã phải trả giá bằng sự kiệt quệ, xơ xác đến nhói lòng.
Đúng lúc đó, một chiếc xuồng tam bản chạy máy đuôi tôm xé nước ghé sát vào bờ đá bên cạnh. Hai người đàn ông trên xuồng nhảy phóc lên bờ cát, trên tay vác theo hai chiếc rổ nhựa lớn đầy ắp sò huyết non vừa cào trộm được từ bãi rạn phía tây. Thấy chiếc máy ảnh chuyên nghiệp của An đặt trên nắp thùng gỗ và chiếc xe Bếp Nhỏ sang trang bị lạ mắt đỗ gần đó, một người đàn ông tiến lại gần, cười hề hề gạ gẫm:
— Này cô bé chụp hình! Có mua sò tươi không? Rổ này chừng bốn ký, toàn sò non tươi rói rói vừa kéo đáy lên xong, tui lấy rẻ năm chục ngàn trọn gói thôi. Mua đi, tui bày ra cái mẹt tre lớn, đổ tràn trề vun ngọn ra đó cho cô tha hồ chụp hình, quay video khoe đặc sản đầm Ô Loan trứ danh cho rực rỡ lộng lẫy lên mạng! Chứ ăn dăm ba con của bà Diệp kia thì lên hình trông nghèo nàn, thảm hại lắm, ai thèm coi cái đĩa có mấy hột sò!
An nhìn sâu vào rổ sò non trước mặt. Hàng ngàn sinh linh bé bỏng chỉ bằng hạt bắp bám dính lấy nhau trong lớp bùn nhầy nhụa, xám xịt. Nhiều con non đã vỡ nát vỏ, thịt nát bấy dưới sức đè của chiếc cào sắt vô tình và bàn tay thu gom thô bạo. Đó là một cảnh tượng hủy diệt trần trụi, đau xót được khoác lên tấm áo giá rẻ mạt của sự vội vã.
An đứng thẳng người dậy, ánh mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt sạm đen của người bán hàng rong, giọng cô dứt khoát, bình thản nhưng đanh thép:
— Cảm ơn chú, nhưng cháu không mua. Cháu làm tư liệu về món ăn truyền thống, và nguyên tắc của cháu là không bao giờ dùng nguyên liệu non tơ bị khai thác tận diệt để dàn dựng hình ảnh. Đầm này không nghèo nàn, chỉ có sự nôn nóng của con người đang làm nó nghèo đi thôi chú à.
Người đàn ông ngẩn người ra trước câu trả lời thẳng thừng của cô gái trẻ. Gã gãi đầu gãi tai, lẩm bẩm chửi thề một tiếng trong miệng rồi hậm hực quẩy gánh sò non đi thẳng lên con dốc dẫn ra đường lớn, nơi đám đầu nậu gom hàng đang bấm còi giục giã. Chị Diệp nhìn theo bóng gã, rồi quay sang nhìn An, khóe mắt chị ánh lên một niềm xúc động sâu sắc:
— Cô bé có cái bụng dạ sáng lắm. Người thành phố về đây ăn uống, họ chỉ thích đĩa sò phải vun đầy ngập ngụa, béo múp míp, giá lại phải rẻ mạt, chứ mấy ai chịu hỏi con sò đó được cào lên bằng cách nào, bằng cái cào gì dưới đáy nước. Họ vô tư ăn cạn cả tương lai của cái đầm này mà không hề hay biết.
Đến chập tối, mặt đầm bắt đầu dềnh nước lớn. Triều biển từ cửa An Hải đẩy con nước mặn tràn vào lòng đầm, dâng ngập những bãi bồi cát non. Tiếng còi xe tải từ bến đỗ và tiếng hò hét thu mua của nhóm đầu nậu ngoài mé đường liên thôn rộ lên gay gắt, chát chúa giữa màn sương chiều muộn. Từ phía đầu xóm chài, một nhóm thanh niên trai tráng, dẫn đầu là một cậu thanh niên vạm vỡ tên Thuận, cầm theo một bó cọc tre lớn đã vót nhọn đầu và những cuộn lưới cước dài bước thoăn thoắt xuống bến thuyền.
— Chị Diệp ơi! — Thuận cất tiếng gọi lớn qua luồng gió chướng. — Nước bắt đầu đứng rồi, tranh thủ ra cắm mốc khoanh vùng bãi đẻ đi chị! Nhóm đầu nậu ngoài quốc lộ đang cho người kéo cào đêm ra khu vực bãi cạn rạn Gió đó! Tụi nó tính vét mẻ cuối trước khi con nước rút ròng!
Chị Diệp lập tức buông chiếc quạt nan, đứng phắt dậy và vơ lấy đôi găng tay bạt đã rách ngón:
— Đi! Đêm nay dứt khoát phải cắm cho xong hàng cọc tre mốc ranh, không thể để tụi nó lùa cào sắt vô bãi sinh sản tự nhiên được nữa! Mất rạn Gió là mất sạch giống mùa sau!
Khang bước tới bên cạnh, không nói một lời thừa thãi. Anh xắn cao tay áo, cúi người nhấc bổng bó cọc tre nặng trịch vác lên vai một cách dứt khoát:
— Chị Diệp, để tôi chèo thuyền và đóng cọc phụ cho. Tay nghề cơ khí của tôi cắm cọc luồn dây bao chắc chắn, sóng đầm lớn cỡ nào cũng không xô ngã nổi đâu.
An cũng lập tức bước theo Khang xuống chiếc thuyền gỗ nan đang lắc lư trên sóng nước:
— Em chèo phụ và giữ cuộn lưới cho mọi người.
Chiếc thuyền gỗ chở nặng cọc tre xé màn đêm rẽ sóng nước lợ bơi thẳng ra giữa lòng đầm Ô Loan. Đêm tối đen kịt như mực đổ, gió lộng từ biển thổi thốc vào mặt rát rạt, mang theo hơi sương lạnh ngắt bám đầy da thịt. Cách chiếc thuyền của nhóm chị Diệp không xa, những ánh đèn pin le lói, vàng vọt từ những chiếc thuyền cào trộm của nhóm đầu nậu rọi quét loang loáng trên mặt nước đen ngòm. Những ánh mắt hằn học, giận dữ từ phía họ gườm gườm nhìn theo từng nhịp chèo dứt khoát của chị Diệp, kèm theo đó là những tiếng chửi đổng cay độc ném vào không gian đêm tĩnh mịch. Nhưng không một ai trên thuyền nao núng hay lùi bước.
Giữa mênh mông sông nước lồng lộng gió, Khang đứng vững chãi trên mạn thuyền, hai tay vung chiếc búa gỗ nặng giáng từng nhát chan chát, dứt khoát xuống đầu từng cây cọc tre, đóng chúng ngập sâu cả mét vào tầng bùn lỏng lẻo ở đáy đầm. Tiếng búa nện gỗ dõng dạc, chắc nịch vang xa xé toang không gian u uất của màn đêm. An ngồi ở mũi thuyền, đôi tay thoăn thoắt cẩn thận gỡ từng gút lưới cước, cùng Thuận giăng sợi lưới thẳng tắp nối giữa các thân cọc tre vững chãi, tạo thành một vành đai bảo vệ kiên cố quanh bãi đẻ tự nhiên — nơi hàng triệu con sò giống bé nhỏ có thể an tâm vùi mình sâu dưới lớp bùn lợ mà lớn lên từng ngày, không còn phải nơm nớp lo sợ những chiếc răng cào sắt nhọn hoắt bừa xới mỗi đêm.
Công việc nặng nhọc kéo dài liên tục đến tận đêm khuya. Khi chiếc cọc tre cuối cùng được cắm xuống kiên cố và tấm biển gỗ tạm thời ghi những dòng chữ sơn trắng nguệch ngoạc nhưng rõ ràng: “Khu vực bảo tồn giống tự nhiên — Cấm cào sắt” được dựng đứng hiên ngang trên mặt nước, lưng áo của cả Khang và An đều đã sũng ướt mồ hôi hòa lẫn với những giọt nước đầm mằn mặn, lạnh ngắt.
Trở lại căn chòi lá ven bờ của chị Diệp, gió khuya thổi se sắt qua từng khe liếp nứa kẽo kẹt. Khang bước ra bể nước mưa sau chòi, rửa sạch lớp bùn đất bám chặt trên đôi bàn tay thô ráp. Anh khẽ liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay cũ kỹ, rồi bước lại gần thì thầm vào tai An rằng anh cần ra xưởng cơ khí ngoài ngã ba quốc lộ để kiểm tra một số phụ tùng thay thế cho chiếc xe Bếp Nhỏ. An nhìn thấy vệt dầu mỡ máy móc đen nhánh còn dính sâu bên khóe móng tay Khang và nét mệt mỏi hằn sâu trong khóe mắt thâm quầng của anh. Cô hiểu tất cả mà không cần anh phải giải thích. Cô biết Khang đang âm thầm nhận sửa xe tải thuê suốt những đêm dài dọc đường gió bụi để chắt chiu từng đồng bạc lẻ trả dần món nợ năm mươi triệu đồng mà người anh trai đã bỏ lại. An không hề gặng hỏi hay vặn vẹo, cô chỉ lẳng lặng đưa cho anh chiếc khăn bông lau khô ráo và siết nhẹ bàn tay chai sạn, ấm áp của người bạn đồng hành:
— Anh đi nhớ cẩn thận đường đêm. Nhớ về trước khi sương xuống quá dày nhé.
Khang nhìn cô, khẽ mỉm cười gật đầu, rồi quay lưng bước đi. Bóng dáng cao lớn của anh khuất dần sau rặng phi lao đang mù mịt gió đêm.
Bên chiếc ấm nhôm cũ kỹ đun nước chè xanh nghi ngút khói trên kiềng than, chị Diệp ngồi tựa lưng vào cây cột chòi nứa, đôi bàn tay gầy gò mân mê chiếc chén sành bốc khói ấm áp. Chị nhìn An đang ngồi đối diện, giọng chùng xuống đầy vẻ tâm sự và trải lòng:
— Nhìn hai cô chú, tôi lại nhớ tới mấy đứa nhỏ hôm trước ghé qua cái chòi này. Đó là một nhóm bạn trẻ người gốc Tây Nguyên, họ đang lặn lội làm một cái dự án kết nối nông sản sạch từ tít trên miệt rừng Đắk Lắk xuống mạn duyên hải Nam Trung Bộ này. Mấy đứa nhỏ bảo với tôi, tụi nó muốn dựng nên một cái chuỗi cung ứng bền vững thực sự, gom nông sản vườn rừng trồng tự nhiên trên núi cao đem xuống đổi lấy hải sản đánh bắt đúng kích cỡ, đúng mùa của tụi tôi dưới đầm này, rồi chở thẳng tới tận tay những người tiêu dùng hiểu biết ngoài phố thị. Tụi nó bảo chỉ có cách đó mới giúp bà con mình thoát khỏi cảnh bị các đại lý thức ăn công nghiệp với mấy tay đầu nậu ép giá, siết nợ triền miên. Nghe tụi nhỏ nói say sưa mà tôi thấy sáng cái bụng ra nhiều lắm cô à. Làm nông nghiệp trên ngàn hay làm nghề biển nghề đầm cũng y chang nhau thôi, nếu người trực tiếp làm ra hạt gạo, con sò không thể sống nổi bằng chính cái tâm lương thiện và sự tử tế của mình, thì sớm muộn gì người ta cũng hóa liều mà đi tận diệt thiên nhiên để trừ nợ thôi.
An ngồi im lìm lắng nghe từng lời ruột gan của chị Diệp, lòng cô trĩu nặng những nỗi suy tư sâu kín. Những sợi dây liên kết vô hình nhưng bền bỉ giữa những con người tử tế, những mảnh đời cùng chung khát vọng bảo vệ sự sống đang dần dần hiện hình rõ nét dọc theo hành trình vạn dặm mà cô đang đi qua.
An đứng dậy bước ra thùng xe Bếp Nhỏ, mang chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ cũ kỹ vào đặt giữa lòng chòi lá. Dưới ánh sáng vàng vọt, ấm áp của ngọn đèn bão leo lét trong gió, cô trân trọng mở nắp hộp, rút tấm thẻ số 17 bằng giấy bồi hãy còn trắng tinh đặt ngay ngắn ra mặt bàn gỗ tạp mộc mạc.
Bằng ngòi bút mực đen trầm tĩnh và kiên định, An không hề phác họa nên một bữa đại tiệc hải sản ê hề, bóng bẩy hay những con sò nướng mỡ hành rực rỡ bốc khói ngút ngàn như người ta vẫn thường thấy trong những cuốn cẩm nang du lịch thương mại hào nhoáng. Cô nắn nót ghi lại toàn bộ sự thật trần trụi, đau đớn nhưng đầy kiên cường của vùng đầm nước lợ này:
*Thẻ số 17: Sò huyết đầm Ô Loan — Vị ngọt của bùn lợ và cái giá của sự nôn nóng.* *Kỹ thuật khai thác và chế biến: Chỉ thu hoạch bằng tay không mò mẫm hoặc cào tre ba răng thưa mắt lớn khi con sò đạt kích cỡ trưởng thành tự nhiên (trên 18 đường rãnh vỏ sâu); nướng chín tới trên than củi phi lao liu riu để giữ trọn dòng huyết đỏ thắm tự nhiên bên trong ruột thịt, tuyệt đối không dùng các loại gia vị nồng gắt át đi hương vị bùn lợ nguyên bản của vùng nước giao thoa.* *Ghi chép sinh thái: Bữa ăn hôm nay hoàn toàn thiếu vắng những con sò kích cỡ lớn trứ danh từng đi vào sử sách ẩm thực. Đầm Ô Loan đang kiệt quệ từng ngày bởi sự thúc ép tàn nhẫn của nợ nần vật tư và lối cào non tận diệt không chừa đường sống cho mầm giống. Một món ăn ngon thực sự không bao giờ có thể được xây dựng trên sự bức tử giống nòi và hủy hoại môi trường sống. Cái giá của việc giữ lại nguồn giống cho tương lai mai sau chính là sự dũng cảm chấp nhận những chiếc rổ thưa thớt, ít ỏi hôm nay và kiên quyết nói không với sự dư thừa giả tạo.*
Gần sáng, sương mù từ biển bắt đầu tràn vào bao phủ một màu trắng đục mờ ảo, bồng bềnh lên khắp mặt đầm Ô Loan. Gió chướng đã ngừng thổi, chỉ còn lại sự tĩnh mịch bao la của đất trời lúc hừng đông. Chị Diệp và An lặng lẽ bước ra mép nước. Trong chiếc rổ tre của chị, vẫn còn sót lại một nắm sò non lít nhít dính đầy bùn mà nhóm thanh niên của Thuận nhặt nhạnh được từ một chiếc thuyền cào trộm bị bỏ rơi lại bên bến nước đêm qua.
Chị Diệp quỳ gối xuống bên mép nước rười rượi hơi sương sớm. Đôi bàn tay gầy guộc, chai sạn của người đàn bà cả đời gắn bó với mặt nước nhẹ nhàng vốc lấy từng nắm bùn đen chứa những sinh linh bé xíu chỉ bằng hạt bắp non nớt.
Thả nắm sò con bám đầy bùn đen trở lại làn nước lợ, chị Diệp bảo: 'Ăn một miếng lúc này là cướp mất một nồi cơm của con cháu mười năm nữa.'