Nước Giếng Và Khói Phố
Ánh đèn lồng đỏ hắt bóng xuống mặt đường đá Hội An mờ hơi sương, nơi mùi tro củi Cù Lao Chàm ngâm gạo xộc vào cánh mũi An ngay từ đầu ngõ giếng Bá Lễ.
Thành phố thức giấc bằng những chuyển động thật khẽ, chầm chậm trôi qua các nếp ngói âm dương rêu phong như một nhịp thở quen thuộc đã tích tụ qua nhiều thế kỷ. Đó là tiếng kẽo kẹt đều đặn của đôi thùng thiếc gánh nước va vào nhau nhịp nhàng theo bước chân người phu nước, tiếng chổi tre sàn sạt quét trên lớp rêu ẩm bám nơi chân tường hoa văn cổ kính, và mùi ngai ngái nồng đượm của nước tro ngấm vào từng kẽ gạch nung sẫm màu. Nhưng khi An và Khang rẽ qua con hẻm hẹp sâu hun hút thông ra mạn sông Hoài để tìm đến xưởng làm mì sợi lâu đời của gia đình bà Cúc, gian chái quen thuộc vốn phải rực lửa bập bùng từ lúc ba giờ sáng lại chìm trong sự lặng lẽ bất thường.
Không có tiếng chày nện huỳnh huỵch vào cối bột. Không có làn khói trắng mang theo hương nồng ấm của gạo mới đồ chín bốc lên nghi ngút qua mái hiên thấp. Lò than đắp bằng đất sét trộn rơm và gạch vồ nằm trơ trọi giữa khoảng sân hẹp, tro xám nguội ngắt phủ một lớp mỏng tang, lạnh lẽo lên vỉ sắt hoen gỉ. Những chiếc nong tre lớn, đan dày và nhẵn thín màu cánh gián—vốn dùng để tản đều từng sợi mì vàng ươm sau lượt đồ thứ hai—đang xếp chồng gọn ghẽ ở góc tường, khô khốc và trống trơn.
Bà Cúc ngồi bất động trên chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ kiền kiền kê sát mép thềm. Hai bàn tay nhăn nheo, sần sùi với những vết nứt nẻ và lớp da vàng sậm vì ngâm nước tro qua hơn nửa thế kỷ đang chậm rãi, vô thức vỗ về chiếc cối đá xanh nguyên khối. Thấy bóng An và Khang bước qua bậu cửa gỗ lim nặng trịch, bà ngẩng lên. Khóe mắt trũng sâu vì những đêm dài mất ngủ hằn lên những nếp nhăn âu lo, như những vết nứt của đất phù sa gặp mùa hạn hán.
"Lò nguội rồi con ơi," giọng bà khàn đặc, lẫn trong tiếng nước sông vỗ nhẹ vào chân kè đá rêu phong. "Bữa nay xưởng không nổi lửa. Có làm ra thì cũng chẳng biết gánh đi đâu."
An bước lại gần chiếc bàn nhào bột bằng gỗ lim đen bóng đã mòn vẹt ở mép cạnh sau hàng vạn lần tì đè lực của người thợ. Cô khẽ chạm tay lên mặt gỗ mát lạnh, lòng trĩu xuống: "Các quán quen dưới phố không lấy mì nữa sao bà?"
Bà Cúc thở dài một hơi sườn sượt, ngón tay run rẩy chỉ về phía xấp giấy tờ ép nhựa bóng loáng đặt ngay ngắn bên cạnh bát nhang trên bàn thờ tổ nghề. Đó là bản thông báo mang tính pháp lý cứng nhắc từ một công ty nhượng quyền du lịch ẩm thực quy mô lớn vừa ký kết liên minh độc quyền với Công ty truyền thông Vị Việt. Dưới danh nghĩa hiện đại hóa và nâng tầm ẩm thực truyền thống, họ đã âm thầm hoàn tất thủ tục đăng ký sơ bộ chỉ dẫn thương mại và chuẩn hóa cái tên "Cao lầu phố cổ". Kèm theo đó là tối hậu thư gửi tới từng hộ làm mì thủ công ven sông: hoặc ký vào hợp đồng gia công khép kín, chấp nhận dùng gói phụ gia tạo độ dai công nghiệp và giao nộp toàn quyền kiểm soát thương hiệu, hoặc các quán ăn trong chuỗi liên kết tại khu phố cổ sẽ bị cấm tiệt việc nhập sợi mì từ các lò tư nhân không có chứng nhận độc quyền.
"Họ bảo lò than củi của tui không chuẩn nhiệt độ, tro than tràm củi khô là mất vệ sinh," bà Cúc cười chua chát, ngón tay run rẩy gõ nhẹ từng nhịp đắng đót lên thành cối đá xanh. "Họ đòi tui thay nước tro bằng dung dịch kiềm thực phẩm đóng can, thay nước giếng Bá Lễ bằng nước máy lọc công nghiệp để sợi mì ra lò trắng muốt, bóng bẩy, để được cả tuần không thiu mà đóng gói chở đi bán khắp cả nước. Tui không chịu ký, thế là sáng nay cả chục gánh cao lầu ngoài chợ bị người ta dạt hàng."
Khang khoanh tay đứng tựa lưng vào cánh cửa bức bàn khép hờ, ánh mắt anh lạnh đi khi nhìn thấy logo hoa sen cách điệu quen thuộc của Vị Việt in nổi sắc sảo trên góc bìa hợp đồng. Anh siết chặt quai túi đồ nghề cơ khí bằng vải bạt thô, không nói một lời nhưng các thớ cơ nơi quai hàm bạnh ra căng thẳng, phản chiếu mối căm phẫn âm ỉ đang dồn nén trong lồng ngực.
Bà Cúc chống tay lên đầu gối, khó nhọc đứng dậy. Bà khẽ vẫy tay gọi An vào gian buồng trong, nơi đặt dãy lu sành da lươn màu nâu thẫm xếp dọc bờ tường gạch ẩm bám đầy rêu xanh. Gian buồng thoang thoảng mùi ngai ngái của khoáng chất và hương nồng ấm của gỗ rừng. Bà mở nắp đậy bằng gỗ mít của một chiếc lu lớn, múc ra một gáo dừa đựng thứ nước màu vàng nhạt như nước trà hoa cúc sớm, sóng sánh ánh sáng mờ rọi qua khe ngói âm dương trên mái.
"Nếm thử đi con," bà đưa gáo dừa cho An, ánh mắt chan chứa điều gì thiêng liêng như trao gửi một bí mật sinh tử. "Cái hồn cốt của sợi cao lầu nằm cả ở đây, đời nào người nơi khác hiểu được."
An nâng chiếc gáo dừa lên mép môi, nhắm mắt lại và nhấp một ngụm nhỏ. Đầu lưỡi cô lập tức cảm nhận được một vị chát thanh đặc trưng, một chút nồng cay man mác của khoáng chất tự nhiên, đi kèm độ trơn tuột mềm mại nhưng lại để lại hậu vị ngọt đằm sâu thẳm nơi cổ họng. Không hề có mùi khét lẹt của than hóa học hay sự gắt gỏng của kiềm công nghiệp, chỉ có mùi thơm hăng hăng, khô ráo của củi gỗ rừng ngập mặn phơi sương gió.
"Gạo để làm mì phải là gạo mùa cũ giống Xiệc, khô cơm, không được dẻo quá," bà Cúc chậm rãi giải thích, ánh mắt rực lên niềm kiêu hãnh của người thợ thủ công suốt đời gắn bó với đất đai sông nước. "Nhưng gạo ấy phải đem ngâm với tro củi tràm lấy tận ngoài đảo Cù Lao Chàm. Cây tràm ngoài đảo cằn cỗi vì gió biển mặn, than của nó sạch và giàu kiềm tự nhiên. Đem thứ tro ấy lắng lấy nước trong, rồi phải hòa với đúng nước múc từ giếng Bá Lễ lên. Nước giếng Bá Lễ ngọt mát, phèn nhẹ, ngấm qua tầng địa chất cát mịn ngàn năm của phố cổ. Nếu thiếu thứ nước ngâm tro đặc hữu này, hạt gạo xay ra sẽ nhão nhoét. Nhào bột không thể kết khối, sợi mì đem thái ra sẽ vụn nát như cám nát, lúc hấp chín chỉ cần chạm đũa là đứt gãy, hoàn toàn mất đi cái độ dai giòn sần sật, cái sực sực đặc trưng mà người sành ăn chỉ cắn một miếng là nhận ra."
Bà Cúc lắc đầu, đưa mắt nhìn ra khoảng sân ngập nắng sớm le lói chiếu qua giàn hoa giấy: "Bọn họ muốn đóng gói mang đi, muốn sản xuất hàng vạn gói mì khô chuyển đến các siêu thị cao ốc. Nhưng đem thứ bột ấy đi khỏi cái giếng Bá Lễ, rời khỏi ngọn củi tràm Cù Lao Chàm, thì cái sợi bột vàng ấy chỉ còn là thứ bánh canh chết dí, lấy đâu ra cái danh cao lầu nghìn năm?"
Những lời của bà Cúc như chạm thẳng vào mối trăn trở bấy lâu của An về tính khả thi của việc bảo tồn ẩm thực khi bị tách rời khỏi cội nguồn thổ nhưỡng. Sự tiện lợi của dây chuyền hiện đại có thể tạo ra sản lượng khổng lồ, nhưng nó cũng sẵn sàng nghiền nát mối liên kết hữu cơ giữa con người, khí hậu và đất đai. Cô quay sang nhìn Khang, khẽ gật đầu: "Em muốn làm thử một mẻ bột ngay trên xe Bếp Nhỏ."
Chiếc xe tải lưu động đỗ nép mình dưới rặng liễu ven sông Hoài mở bung cánh bửng hông, để lộ gian bếp dã chiến gọn gàng với mặt bàn inox sáng loáng. Gió từ mặt nước phả lên mát rượi nhưng không xua đi được cảm giác bức bối trong lòng hai người. Khang nhanh chóng kiểm tra bình ắc quy và nguồn điện mặt trời, siết lại van bình gas và chuẩn bị hệ thống bếp, trong khi An mang bột gạo Xiệc đã xay mịn đặt lên mặt bàn thao tác. Cô quyết định làm một thử nghiệm đối chứng nghiêm ngặt để xác thực giới hạn của công nghệ trước quy luật tự nhiên.
Không dùng nước tro Cù Lao Chàm và nước giếng Bá Lễ của bà Cúc, An sử dụng nguồn nước tinh khiết đóng bình được lọc qua hệ thống thẩm thấu ngược trên xe, kết hợp với một lượng nhỏ nước kiềm thực phẩm chuẩn độ mà cô từng học được trong các giáo trình ẩm thực hiện đại. Bàn tay An thoăn thoắt nhồi bột. Cô dùng lực cổ tay ép chặt, miết mạnh khối bột trên mặt inox lấp loáng, căn chỉnh tỷ lệ ẩm từng chút một với hy vọng tính toán kỹ thuật chính xác có thể bù đắp phần nào sự thiếu hụt tự nhiên.
Nhưng ngay khi khối bột thành hình, An đã nhận thấy sự sai lệch rõ rệt. Khối bột thiếu hẳn độ kết dính dẻo dai tự nhiên; bề mặt nó xốp và khô một cách gượng gạo, không có được độ căng mịn màng như da thịt của khối bột ủ nước tro tràm. Khi An đặt khối bột lên bàn cắt, dùng con dao bản lớn sắc lẹm xắt thành từng sợi dày bản vuông vức, các sợi bột lập tức nứt toác ở mép, cạnh sợi lởm chởm như bị xé rách.
Cô đặt xửng hấp lên bếp than gấp dã chiến của Khang, canh đúng ngọn lửa vừa tầm nhiệt lượng. Ba mươi phút sau, khi nắp xửng được mở ra giữa làn khói trắng nghi ngút, cảnh tượng bên trong khiến lòng An chùng xuống. Những sợi mì không hề ánh lên sắc vàng ngà cổ kính và độ bóng mờ như mỡ màng của mẻ mì mẫu bà Cúc làm. Chúng nhợt nhạt, bở rục, và khi gắp thử một sợi bằng đũa tre, sợi mì lập tức gãy vụn làm ba đoạn rơi tõm xuống đáy nồi. Nếm thử một mẩu nhỏ, một vị chua lợ khó chịu bốc lên vòm họng do quá trình lên men không được ức chế chuẩn xác bởi độ kiềm tự nhiên của tro tràm.
An buông đũa, đứng lặng bên hông xe nhìn dòng nước lững lờ trôi. Cô rút cuốn sổ tay bọc da đã sờn mép, lật trang giấy trắng tinh và nắn nót viết từng dòng chữ dứt khoát: *“Sợi cao lầu là con đẻ của giếng Bá Lễ và tro củi Cù Lao Chàm. Tính chất kiềm khoáng đặc hữu của nguồn nước ngầm Hội An không thể tái tạo bằng các chất chuẩn công nghiệp. Sự biến dạng cấu trúc tinh bột khi thiếu hụt thổ nhưỡng bản địa chứng minh tính bất khả thi tuyệt đối của việc đóng gói công nghiệp hóa để mang đi xa. Cố tình tách rời món ăn khỏi nguồn cội sinh thái chỉ tạo ra một phiên bản giả mạo vô hồn.”*
Trong lúc An đang mải mê ghi chép, phía ngoài bờ sông, tiếng chuông điện thoại của Khang đột ngột reo vang từng hồi dồn dập, phá tan không gian tĩnh lặng của buổi sớm. Anh giật mình, liếc nhìn màn hình rồi bước nhanh ra mép nước, nép mình dưới bóng cây bàng biển để nghe máy.
Gió sông thổi ngược từng mảnh âm thanh vỡ vụn về phía An. Cô ngước nhìn, bắt gặp bóng lưng gầy gò của Khang đang căng cứng như một sợi dây đàn sắp đứt. Bàn tay anh nắm chặt ống nghe, những đường gân xanh nổi gồ ghề trên mu bàn tay dính muội than và vết xước kim loại.
"...Tôi đã bảo sẽ thu xếp trước cuối tháng... Người nhà tôi gây ra thì tôi chịu, các người đừng tìm về bến sông làm phiền người già nữa... Năm mươi triệu đợt này tôi sẽ chuyển thẳng vào tài khoản của bên các anh..."
Tiếng Khang gắt gỏng, nghẹn lại vì ức chế tột cùng rồi tắt ngấm. Anh đứng chết lặng nhìn dòng nước sông Hoài lững lờ trôi, bàn tay siết chặt đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, cả bả vai run lên bần bật dưới lớp áo sơ mi bạc màu. Khi Khang quay lại xe, vẻ mặt anh đã nhanh chóng lấy lại nét điềm tĩnh phẳng lặng như thường ngày, nhưng ánh mắt lẩn tránh của anh không giấu nổi sự kiệt quệ và nỗi âu lo sâu thẳm đang gặm nhấm từng ngày. An nhìn anh, lòng quặn thắt xót xa nhưng cô hiểu lòng tự trọng của Khang; cô chọn cách im lặng, không gặng hỏi nửa lời, cất cuốn sổ vào túi áo rồi bước xuống xe.
"Chúng ta không thể để bà Cúc và các lò mì ở đây chịu trói được, anh Khang," An nói dứt khoát, ánh mắt kiên định nhìn thẳng về phía con hẻm cổ. "Vị Việt muốn độc quyền cái tên cao lầu bằng tiêu chuẩn nhà máy của họ. Vậy thì chúng ta sẽ chứng minh cho cả phố cổ thấy thế nào mới là tiêu chuẩn thật sự."
Ngay trong buổi trưa hôm đó, An lập tức liên lạc với văn phòng đại diện của Hợp tác xã Đường Xa tại Quảng Nam thông qua mạng lưới kết nối của luật sư Tạ Gia Bảo. Từng dữ liệu thực nghiệm, từng thông số đối chứng về độ kiềm, cấu trúc sợi và tính chất thổ nhưỡng được truyền đi nhanh chóng. Chỉ sau vài giờ trao đổi khẩn trương, một kế hoạch hành động đã được vạch ra rõ ràng. Thay vì im lặng né tránh hoặc đối đầu trong vô vọng bằng đơn từ hành chính kéo dài, họ quyết định tổ chức một buổi trình diễn công khai quy trình làm mì thủ công minh bạch ngay tại sân nhà bà Cúc.
Tin tức nhanh chóng lan truyền qua các con ngõ nhỏ của phố cổ, từ bến đò An Hội sang tận chợ cá Cẩm Hà. Đến đầu giờ chiều, khoảng sân gạch rêu phong của nhà bà Cúc đã chật kín người. Không chỉ có những người thợ làm mì lâu năm từ các lò Cẩm Hà, An Hội kéo đến mang theo cối đá, chày gỗ và nong nia, mà hàng chục chủ gánh hàng rong, chủ quán cao lầu truyền thống cùng đông đảo người dân phố cổ cũng tò mò tụ họp. Những gương mặt phong trần, những đôi bàn tay cả đời nhuốm màu nước tro và bột gạo cùng hướng về phía gian chái bếp.
Ngọn lửa trong lò than đất sét của bà Cúc được khơi lại, than tràm đượm hồng tí tách nổ, tỏa ra mùi khói ấm nồng quen thuộc xua tan vẻ lạnh lẽo, ảm đạm ban sáng. Đại diện Hợp tác xã Đường Xa dựng một bảng thông tin minh bạch hóa quy trình ngay trước thềm: từ tọa độ lấy củi tràm ở Cù Lao Chàm, vị trí múc nước từ giếng cổ Bá Lễ, cho đến tỷ lệ ngâm gạo không phụ gia, không chất bảo quản, đối chiếu thẳng thắn với các mẫu mì công nghiệp dùng kiềm hóa chất.
An cùng hai người thợ trẻ thay nhau xay gạo trên cối đá xanh. Từng dòng bột trắng ngà sánh đặc chảy chầm chậm xuống máng gỗ, mịn màng và thơm ngát hương gạo Xiệc quyện lẫn vị khoáng tro tràm. Bà Cúc trực tiếp đứng nhào bột trong chiếc chậu đồng lớn, đôi tay thoăn thoắt nhịp nhàng ép khối bột thành những tảng dẹp, dùng con dao dài xắt đều tăm tắp từng sợi vuông vức rồi đặt cẩn thận lên vỉ tre đưa vào nồi hấp cách thủy.
Mùi thơm ngào ngạt của bột gạo chín quyện cùng hương khói tràm bốc lên ngùn ngụt, lan tỏa khắp ngõ nhỏ, kéo cả những vị khách bộ hành và du khách phương xa dừng chân đứng kín hàng rào dâm bụt ven đường. Sợi mì sau ba lần hấp lộ ra sắc vàng sẫm tự nhiên, dai chắc, khô ráo nhưng vẫn mềm mại đàn hồi dưới ngón tay người thợ. Khi bẻ thử, sợi mì bật nảy dẻo dai; khi đưa vào miệng, độ sực sực giòn dai và vị ngọt đượm của nước giếng Bá Lễ lập tức chinh phục mọi vị giác khắt khe nhất của các bậc cao niên trong vùng.
Trước sự chứng kiến của toàn thể cộng đồng thợ mì và người dân, bản cam kết bảo vệ di sản ẩm thực thủ công do Hợp tác xã Đường Xa bảo trợ pháp lý đã được long trọng công bố. Từng chủ lò mì, từng người gánh hàng rong lần lượt bước lên, đặt bút ký tên và điểm chỉ mực đỏ, xác lập một khối liên minh tự quản, công khai tuyên bố từ chối bất kỳ thỏa thuận nhượng quyền độc quyền mang tính triệt hạ sinh kế nào của các doanh nghiệp thâu tóm. Tiếng vỗ tay rộ lên vang động cả khúc sông Hoài.
Ánh hoàng hôn buông xuống, nhuộm đỏ rực mặt sông Hoài và dát một lớp vàng cổ tích lên mái ngói rêu phong của căn nhà cổ. Những tia nắng cuối ngày len lỏi qua kẽ lá, rọi sáng từng nét cười rạng rỡ trên những gương mặt lam lũ. Người dân lục tục ra về trong niềm phấn khởi và sự vững tâm mới mẻ, mang theo niềm tin rằng ngọn lửa của lò mì ven sông sẽ không bao giờ bị dập tắt bởi những toan tính con buôn.
Bà Cúc đứng bên bậc thềm đá, nhìn theo bóng những người thợ mì mang gánh trở về ngõ xóm trong ráng chiều thanh bình. Bà quay sang nhìn An, đôi mắt ướt lệ nhưng ánh lên sự thanh thản vô bờ sau chuỗi ngày nơm nớp lo âu. Bà với tay lấy chiếc hộp gỗ nhỏ bọc nhung sờn trên bàn thờ tổ, chậm rãi rút ra một mảnh giấy bản ố vàng, mép giấy đã mục mòn nhưng vẫn phủ đầy nét chữ nho ngay ngắn pha lẫn chữ quốc ngữ thời xưa—đó chính là công thức gia truyền ba đời về tỷ lệ ngâm tro tràm và thời gian đồ sợi ba lượt lửa của dòng họ.
"Con xứng đáng giữ cái này," bà Cúc đặt mảnh giấy vào tay An, giọng run run đầy xúc động. "Thẻ số mười lăm của ngoại con... tui xin trả trọn vẹn lại cho con."
An xúc động đón nhận kỷ vật thiêng liêng, hai bàn tay run rẩy ép chặt mảnh giấy vào lòng trước khi cẩn thận đặt nó vào chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ mang theo từ Hà Nội. Cô rút tấm thẻ số 15 ra, dưới ánh đèn dầu le lói vừa được thắp lên trong gian chái cổ, cô nắn nót ghi dòng chữ mực đen sắc sảo: *Cao lầu giếng cổ và khói củi tràm — Di sản của đất đai và phẩm giá người thợ gánh.*
Nhưng khoảnh khắc bình yên ngắn ngủi chưa kịp trọn vẹn thì một tiếng vỗ tay chậm rãi, khô khốc vang lên từ phía hiên ngoài, phá vỡ bầu không khí trang nghiêm.
Dưới bóng tối lờ mờ của chiếc đèn lồng đỏ treo nơi góc mái hiên nhà cổ, một bóng người cao ráo, lịch lãm chậm rãi bước ra từ góc khuất rặng liễu. Đỗ Thành Vinh mặc bộ âu phục màu xám tro cắt may hoàn hảo, caravat chỉnh tề, nụ cười nửa miệng quen thuộc điểm trên gương mặt điển trai nhưng ánh mắt sắc lạnh như một lưỡi dao cạo giấu sau lớp vỏ bọc trí thức.
Khang lập tức bước xốc tới chắn ngang trước mặt An, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm, cơ thể căng lên sẵn sàng lao vào đối thủ. Nhưng Vinh chỉ khẽ nhếch mép khinh khỉnh, lịch thiệp giơ hai tay lên làm dấu hòa hoãn rồi thong thả bước vòng qua chiếc cối đá xanh còn vương bột trắng.
"Màn trình diễn rất xúc động, Hoài An," Vinh lên tiếng, giọng nói trầm ấm đầy vẻ kẻ cả vang lên mỉa mai trong không gian tĩnh mịch. "Em liên kết được thợ thủ công, em làm được truyền thông cộng đồng, anh thực sự khâm phục cái tài khuấy động lòng người của em."
An ngẩng cao đầu, kéo Khang lùi lại nửa bước để tự mình đối diện. Ánh mắt cô không hề chớp, nhìn thẳng vào kẻ đối diện với tất cả sự khinh miệt đanh thép: "Hội An không cần thứ tiêu chuẩn đóng gói dối trá của các anh. Hợp tác xã đã vào cuộc, anh không độc quyền nổi mảnh đất này đâu."
Vinh bật cười khe khẽ, một nụ cười không có chút hơi ấm, chỉ rặt vẻ tàn nhẫn lạnh lùng. Anh ta tiến lại gần hiên nhà, từng bước giày da gõ nhịp đanh gọn trên nền gạch tàu ẩm ướt. Dừng lại cách An chỉ hai bước chân, Vinh cúi người, nghiêng đầu thì thầm, từng chữ nhả ra mang theo nọc độc lạnh buốt như băng giá:
"Em nghĩ mấy tờ giấy cam kết của đám thợ nghèo này cứu được em sao? Anh có hồ sơ đầy đủ về vụ bê bối nguyên liệu bẩn năm xưa ở nhà hàng năm sao tại Hà Nội. Hồ sơ sa thải của em, tên tuổi của em, chữ ký nhận trách nhiệm của em... tất cả vẫn nằm nguyên trong ngăn kéo bàn làm việc của anh."
Vinh đứng tựa vào cột nhà cổ Hội An, nghiêng đầu thì thầm với An: "Em giữ cái danh thợ thủ công cho họ, nhưng ai sẽ giữ danh dự cho một đứa từng bị đuổi việc vì nguyên liệu bẩn như em?"