Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtCh.12 / 32
Chapter 12

Tro Cát Tuyến Lửa

Gió Lào thốc từng luồng cát bỏng rát táp vào thành tôn của chiếc xe tải Bếp Nhỏ khi đôi bánh sau trượt dài một vệt sâu hoắm rồi lún ngập nửa vành sắt trên một triền cồn trắng phao thuộc địa phận Lệ Thủy, Quảng Bình.

Tiếng khối động cơ gầm lên một chuỗi âm thanh khô khốc, tuyệt vọng. Bánh xe quay tít tại chỗ, xới tung lớp bụi mịn màu tro nhạt. Khói đen kịt phì ra từ cổ ống xả dưới gầm, cuốn theo mùi khét lẹt đặc trưng của cao su sống ma sát dữ dội với cát nung bỏng rẫy. Khang lập tức nghiêng người vặn chìa khóa, dập tắt hẳn hệ thống điện.

Không gian chung quanh cabin rơi tõm vào một sự nung nấu ngột ngạt đến nghẹt thở. Cả một vạt cồn cát mênh mông, nhấp nhô trải dài tít tắp đang rung rinh dưới hiện tượng khúc xạ nhiệt bỏng rát của buổi ban trưa. Không có lấy một gợn mây trắng trên nền trời xanh ngắt đến khô khốc; gió từ các hẻm núi đá vôi của dãy Trường Sơn dội ngược về phía đồng bằng duyên hải, cuộn theo lớp bụi li ti xoáy tròn, táp buốt rát vào da thịt tựa như hàng triệu mũi kim châm vô hình.

Khang không chần chừ một giây. Anh đẩy tung cánh cửa ca bin rít lên kin kít vì sạn cát ken vào bản lề, nhảy phịch xuống nền đất. Đôi ủng bảo hộ dày cộp vừa tiếp đất đã lún ngập qua mắt cá chân. Hơi nóng hầm hập tích tụ dưới tầng cát lập tức truyền thẳng qua lớp đế cao su đúc, hun nóng lòng bàn chân anh như thể đang giẫm lên than hồng ủ kín. Khang bước thoăn thoắt về phía đuôi xe, khuôn mặt đanh lại dưới vành mũ lưỡi trai đã ngả màu muối ố. Anh mở toang nắp thùng đồ nghề bằng thép dập phía hông xe, kéo phăng bộ tời xích đôi nặng trịch ra ngoài cùng hai thanh ván gỗ lim dày bản vốn dùng làm chèn kê hàng dã chiến.

“An, xuống phụ một tay!” Khang quát lớn, giọng anh khản đặc, vỡ vụn giữa tiếng gió rú rít qua những triền cát lượn sóng. Bụi cát khô khốc đã bám một lớp mỏng lạo xạo trên môi và vòm họng anh.

An vội vã đạp cửa buồng lái phụ tụt xuống. Chân cô vừa chạm đất, cái nóng ran rát lập tức thấm qua đôi giày vải bộ đội mỏng manh. Cô chạy vòng ra sau, hai tay đón lấy đầu móc xích sắt nặng trịch theo khẩu lệnh cộc lốc của Khang.

Khang quỳ rạp cả người xuống nền cát nóng giãy dưới gầm xe, bất chấp từng luồng gió cuốn cát mịn phả thẳng vào mắt, vào mũi. Cầm chiếc xẻng bộ binh dã chiến cán ngắn, anh nghiến răng khoét sâu từng hốc cát quanh hai vành bánh sau. Từng mảng cát chảy tuột xuống theo mỗi nhát xẻng ngoạm sâu, nhưng đôi tay gân guốc của người thợ máy vẫn thoăn thoắt dọn sạch lòng hố. Những giọt mồ hôi túa ra đầm đìa trên vầng trán vuông vức, đọng thành dòng chảy ròng ròng qua thái dương, lăn xuống cằm rồi rớt lộp bộp xuống mặt cát rực lửa, bốc hơi gần như ngay tức khắc chỉ để lại những chấm tròn màu sẫm.

Sau mười phút gồng mình xúc cát, Khang lót hai tấm ván gỗ lim xuống sát mép lốp xe, tạo thành một đoạn đường dốc tạm thời. Anh cầm đầu cáp tời xích, chạy thốc về phía một gốc phi lao cằn cỗi mọc trơ trọi bên mép vạt đường đất đá sỏi cứng cách đó khoảng mười lăm mét. Khang vòng sợi xích bọc thép quanh thân cây phi lao già cỗi, gài chặt chốt khóa an toàn rồi quay trở lại vị trí bánh tời.

“Nắm chặt cán lắc! Kéo xích!”

Tiếng bánh cóc cơ khí kêu lách cách từng nấc khô khốc, đanh gọn giữa hoang mạc cát. Bắp tay Khang cuồn cuộn những thớ cơ căng cứng, mạch máu nổi phồng dưới cái nắng chói chang bốn mươi độ C. An tỳ toàn bộ trọng lượng cơ thể nhỏ nhắn vào thanh đòn bẩy, hai hàm răng nghiến chặt, từng khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực hết cỡ. Mỗi centimet chiếc xe trườn lên là một cuộc vật lộn cơ học tàn khốc giữa sức người thô ráp và lực níu bám dính của cồn cát lún. Mất gần một tiếng đồng hồ giằng co với dây cáp, ván gỗ và sức cản của nền đất mềm, bốn chiếc lốp của Bếp Nhỏ mới chồm được lên mặt ván, trượt bánh cóc thêm một đoạn dài để rồi bò hẳn lên vạt đất sỏi cằn cỗi dưới rặng phi lao.

Nhưng ngay khi chiếc xe tải thoát khỏi hố cát, nắp ca-pô đã bắt đầu xì ra những dải khói trắng nghi ngút. Qua khe kính chắn gió, chiếc kim đồng hồ báo nhiệt độ nước làm mát đã vọt kịch kim vào tận cùng của vạch đỏ rực.

Khang nhảy tót lên mũi xe, vớ lấy mảnh giẻ lau dính dầu mỡ thấm một chút nước thừa từ bình tông, áp chặt tay vào nắp két nước rồi vặn he hé một góc nhỏ để xả bớt áp suất. Một luồng hơi nước sôi sùng sục phụt thẳng lên trời kèm theo tiếng rít rát tai như tiếng còi tàu hỏa dã chiến. Động cơ đốt trong đã quá nhiệt nghiêm trọng sau chuỗi gầm rú ép ga trên cát lún; mặt gioăng quy-lát có thể cong vênh hoặc nứt toác nếu ai đó dại dột nổ máy chạy thêm một đoạn ngắn ngủi nào nữa.

“Xe phải nằm đây nghỉ nguội ít nhất ba tiếng đồng hồ, két nước cạn trơ đáy rồi,” Khang dùng mu bàn tay quệt ngang vệt dầu nhớt lem luốc ngang sống mũi, vừa thở dốc vừa nói, lồng ngực anh phập phồng sau lớp áo thợ nhuốm bụi đường. “Mày rảo quanh đây tìm xem có giếng khơi hay nhà dân nào thì xin lấy vài can nước lã mang về. Tao phải ở lại đây xả van, tháo kiểm tra bơm nước và xúc két làm mát.”

An khẽ gật đầu. Cô bước vào buồng lái, với tay lấy chiếc ba lô bạt và ôm chặt chiếc hộp gỗ mun cẩn xà cừ vào lòng, rồi rảo bước băng qua rặng phi lao xơ xác đang rên xiết dưới gió Lào.

Cách triền cát bỏng chừng ba trăm mét, nép mình khiêm nhường dưới một rặng tràm hoa vàng cằn cỗi cong queo vì bão gió, là một nếp nhà nhỏ lợp ngói liệt rêu phong. Đó là loại ngói đất nung phẳng lì, mỏng mảnh nhưng được người dân bản địa xếp chồng khít lên nhau thành năm bảy lớp dày dặn, tạo nên một tấm áo giáp bằng đất nung kiên cố để che chắn cho gian nhà trước sức tàn phá của những cơn bão cát mùa hạ và những đợt gió Lào hun đốt đặc thù của dải đất tuyến lửa này.

Trước hiên nhà lát gạch tàu đã nứt nẻ, một người đàn ông lớn tuổi với dáng hình gầy guộc, khắc khổ đang ngồi cặm cụi mài chiếc lưỡi rựa cùn trên một phiến đá ráp màu xám tro. Ông mặc chiếc áo cối bộ đội bạc phếch đã rách toạc một bên cầu vai, để lộ làn da sạm đen, nhăn nheo như vỏ cây rừng khô kiệt. Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên lớp cát bồi ngoài cổng giậu, người cựu binh chậm rãi ngẩng đầu lên. Ánh mắt ông sắc lẻm, quắc thước nhưng ẩn sâu bên trong lại đùng đục bóng mây ký ức của những năm tháng đạn bom dữ dội. Bàn tay phải giữ chặt cán gỗ của chiếc rựa chỉ còn lại nửa ngón trỏ—một vết sẹo bom phạt nham nhở, co rút lại thành khối thịt chai sần đã lành miệng từ nhiều thập kỷ trước.

“Cháu chào bác... Cho cháu hỏi, bác có phải là bác Bùi Văn Tấn không ạ?” An cất tiếng, cổ họng nghẹn ứ bụi đường và cơn khát cháy.

Người đàn ông sững lại. Cử động mài dao dừng bặt giữa chừng. Ánh mắt già nua của ông trượt từ khuôn mặt lấm lem mồ hôi, đỏ gay vì nắng của cô gái trẻ xuống vật thể cô đang ôm ghì trước ngực: chiếc hộp gỗ mun xà cừ với đường nét góc cạnh quen thuộc. Đôi bàn tay chai sạn bỗng chốc run rẩy dữ dội, khiến chiếc lưỡi rựa bằng thép nhíp rơi đánh “xoảng” xuống nền đất cát.

“Chiếc hộp này...” Giọng người đàn ông khàn đặc, trầm đục và khô khốc tựa như tiếng những hòn sỏi va đập dưới đáy một chiếc giếng cạn. “Ký hiệu hai chiếc lá chéo viền quanh chữ Hậu chạm chìm... Con bé nhà ai mà lại mang kỷ vật sống còn của cô Mùi trôi dạt về tận cái cồn cát ma ám xứ Lệ Thủy này?”

***

Gian nhà lợp ngói liệt mát hơn cái lò lửa ngoài trời đôi chút, nhưng không khí bên trong vẫn oi nồng, ngột ngạt bởi mùi trấu mục, tro bếp và khói củi phi lao khô ám vào từng thớ gỗ xà nhà.

Ông Tấn run rẩy đặt đầu ngón tay trỏ cụt ngủn của mình miết nhẹ lên vệt mộc khắc chìm dưới đáy hộp gỗ. Từng đường gân xanh ngoằn ngoèo trên mu bàn tay ông khẽ giật lên từng chặp, tựa hồ đang lần tìm lại từng nhịp đập của quá khứ xa xăm.

“Tôi là Bùi Văn Tấn, trạm trưởng kho lương thực dã chiến bên bến phà sông Gianh hồi năm 1971,” ông nói chậm rãi, ánh nhìn thăm thẳm găm vào khoảng không vô định phía bên kia ô cửa sổ hẹp nhìn ra triền cồn cát trắng xóa. “Hồi cháu ghé Con Cuông hay tạt qua Thanh Hóa, người ta nói những gì về cô Mùi? Có phải bà Mão bảo rằng cô ấy tham công tiếc việc, rồi vì uất ức chuyện danh lợi hay hèn nhát mà bỏ trốn sau đợt hội thao thi đua làm nem chua bên cầu Hàm Rồng năm ấy không?”

An khẽ giật mình, cô lặng thinh, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên đầu gối, chờ đợi từng lời của người lính già.

Ông Tấn cười gượng gạo, một nụ cười cay đắng đến nhói lòng khiến những nếp nhăn nơi khóe môi giật giật: “Bà Mão cả đời chỉ nhìn thấy cái vỏ bề ngoài của những bằng khen và đợt thi đua rầm rộ ấy thôi. Còn nguồn cơn thực sự khiến cô Mùi của các người hóa điên hóa dại, rồi nửa đêm vứt bỏ cả quân hàm lẫn đơn vị chạy thục mạng ra mép nước sông Hồng... là bắt đầu từ chính cái kho gạo dã chiến ngầm bên bờ sông Gianh này, vào mùa khô khốc liệt năm 1971.”

Ngừng lại một nhịp để nén tiếng thở dài nặng nhọc, ông Tấn kể tiếp. Năm đó, toàn bộ chiến trường phía Nam khát cháy lương khô và các loại thực phẩm bảo quản chịu được nhiệt độ khắc nghiệt của công sự. Kho hơi dã chiến thử nghiệm kỹ thuật bảo quản lương thực của trạm hậu cần do bà Mùi trực tiếp phụ trách kỹ thuật sấy nén ép chân không, sử dụng một hệ thống nồi hơi quân nhu được gia cố, cải tiến từ vỏ bom và thùng chứa máy bay rỗng. Áp lực từ mặt trận phía trong thúc ép từng ngày từng giờ; hàng trăm tấn gạo dự trữ và thịt sấy đưa vào liên tục bị ẩm mốc, hư hỏng bởi hơi muối biển mặn chát của dải bờ biển miền Trung quyện với luồng gió Lào khô cháy.

“Đêm hôm ấy, vì quá sốt ruột muốn đẩy nhanh tiến độ hoàn thành mẻ lương khô dự trữ cho chiến dịch lớn sắp nổ ra, cô Mùi đã tự ý lấy một then sắt ngắn chèn chặt van xả an toàn của nồi hơi cao áp để tăng áp suất nhiệt lên gấp bội. Cô ấy ngây thơ nghĩ rằng làm thế thì hơi ẩm trong bột sấy sẽ bị rút kiệt nhanh hơn phân nửa thời gian. Nhưng cái vỏ nồi hơi chắp vá giữa chiến trường làm sao chịu thấu áp lực nén vượt ngưỡng gấp đôi? Nồi hơi phát nổ dữ dội ngay trong căn hầm số ba kho dự trữ.”

Giọng ông Tấn bỗng chùng hẳn xuống, run rẩy và nghẹn ứ: “Kho lương thực trọng yếu của cả một trung đoàn hậu cần bốc cháy ngùn ngụt, cháy rụi thành than chỉ trong chớp mắt. Ba đồng chí bảo vệ kho bị bỏng nặng toàn thân, một cậu lính trẻ mới mười chín tuổi quê Vĩnh Phú hy sinh tại chỗ vì ngạt khói độc và sập hầm. Đó là tội phá hoại trang bị quân sự nghiêm trọng trong thời chiến, cháu hiểu không? Nhẹ thì bị tước quân tịch đưa ra tòa án binh xử tù mọt gông, nặng thì xử bắn ngay trước hàng quân để làm gương.”

“Nhưng... theo những dòng hồ sơ lưu trữ mà cháu đọc được ở các trạm trước, người bị kỷ luật tước quân hàm và chịu án cảnh cáo năm ấy lại là bác kia mà?” An thảng thốt ngắt lời, tim cô đập thắt lại trong lồng ngực.

“Phải, là tôi,” ông Tấn ngước lên, nhìn thẳng vào mắt An, ánh mắt thăm thẳm nỗi đau đớn dồn nén suốt hơn nửa thế kỷ trôi qua. “Tôi là trạm trưởng trạm kho. Đêm hôm xảy ra tai nạn, giữa đống đổ nát còn nghi ngút khói đen và thi thể đồng đội, tôi đã lén xé nát tờ nhật ký ca trực kỹ thuật có chữ ký xác nhận của Mùi. Tôi đứng ra trước hội đồng điều tra, nhận toàn bộ trách nhiệm về việc chèn chốt sắt vào van an toàn. Tôi khai rằng chính mình đã thao tác sai quy chuẩn kỹ thuật trong lúc kiểm tra áp suất, dẫn đến vụ nổ thảm khốc ấy. Tôi bị lột quân hàm, bị tước mọi danh dự quân nhân, bị điều chuyển sang đội phu bốc vác tải đạn cho đến ngày giải ngũ, rồi phục viên trở về quê hương trong danh phận một kẻ có tì vết kỷ luật thời chiến. Tôi làm tất cả những điều đó chỉ để cứu Mùi thoát khỏi họng súng của bản án tử hình. Nhưng tôi đâu có ngờ... chính cái án cứu mạng mù quáng ấy lại trở thành sợi dây thừng xiết nghẹt linh hồn cô ấy cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay.”

Bà Mùi không phải ra trước tòa án binh, nhưng cú sốc tinh thần quá đỗi khủng khiếp từ cái chết của người chiến sĩ trẻ cùng sự hy sinh danh dự của ông Tấn đã đánh sụp hoàn toàn tâm trí bà. Bà phát điên trong những cơn mê sảng triền miên, không còn đủ minh mẫn để cầm chảo nuôi quân, bàn tay bà cứ chạm vào lửa hay nồi hơi là co quắp, run rẩy như bị điện giật. Cuối cùng, đơn vị đành làm thủ tục cho bà xuất ngũ sớm vì lý do suy sụp sức khỏe tâm thần. Kể từ ngày đó, bà lầm lũi ôm chiếc hộp gỗ dạt về bến sông Hồng, sống một cuộc đời ẩn dật, câm lặng và đày đọa bản thân trong bóng tối.

“Cô ấy mang nỗi mặc cảm tội lỗi tày trời ấy suốt cả một kiếp người,” ông Tấn thì thầm, bàn tay cụt ngón run run vốc một nhúm không khí khô khốc trước mặt. “Và tôi cũng vậy. Nửa đời người tôi ngỡ rằng mình gánh tội thay là hành động vĩ đại nhất để che chở cho người phụ nữ mình thương xót, nhưng thực chất... tôi đã tước đoạt đi của cô ấy quyền được đứng thẳng lưng đối diện với sự thật, tước đi cơ hội được sám hối một cách đàng hoàng.”

***

Không để An chìm quá lâu trong nỗi bàng hoàng đang bóp nghẹt lồng ngực, ông Tấn chống tay lên gối đứng dậy. Dáng người còng còng của ông bước chầm chậm xuống gian bếp trần lợp ngói liệt thấp tè phía sau. Trong một góc bếp tối om, một đống tro bếp dày dặn, mịn màng như bột phấn vẫn đang âm ỉ tỏa ra luồng hơi ấm dịu nhẹ từ mẻ củi cành phi lao khô được ủ từ sáng sớm.

“Đi theo tôi. Muốn hiểu thấu người lính nuôi quân đã làm thế nào để giúp đồng đội sống sót qua những chuỗi ngày bom cày cát xới dưới đáy chiến hào, thì cháu phải học lấy món này. Đây là món ăn bí truyền cuối cùng mà cô Mùi đã run rẩy dạy lại cho tôi trước cái đêm cô ấy lặng lẽ thu dọn ba lô rời trạm.”

Ông Tấn khom lưng, nhấc ra từ chiếc chạn tre một chiếc niêu đất nung dày đáy, thân niêu đã bám một lớp muội khói đen bóng, nhẵn thín qua năm tháng. Bên trong niêu là những khúc cá nục chuối tươi rói, da óng ánh vảy bạc, được ướp đặc quánh một lớp nước sốt màu nâu hổ phách sẫm. Đó là sự hòa quyện tuyệt đối của mật mía đậm đặc vùng sông Gianh, muối hột thô giã dập, ớt chỉ thiên phơi khô để nguyên cuống và một nắm lá chè xanh tươi được vò nát cho tứa nhựa chát.

“Cá kho khô vùi tro nóng,” ông Tấn nói, tay cầm thanh tre cật gạt một khoảng trống sâu hoắm ngay giữa lòng đống tro bếp đang ủ nhiệt. “Ở cái xứ cát này, gió Lào thổi rộc người làm khô quắt mọi thứ trên mặt đất, nhưng hễ chui xuống hầm công sự hay địa đạo thì ẩm thấp, nấm mốc vô cùng. Bếp Hoàng Cầm thì tuyệt đối không được phép để lộ khói vào ban ngày máy bay trinh sát quần đảo. Muốn cá giữ được ròng rã hàng tháng trời nơi chiến hào không bị ôi thiu mà không cần đến một giọt dầu mỡ hay thùng đá bảo quản, người lính nuôi quân chỉ có duy nhất một cách: dùng sức nóng âm ỉ của tro bếp để rút kiệt từng giọt nước cuối cùng trong thớ thịt con cá.”

Ông cẩn thận đặt chiếc niêu đất có nắp đậy khít khao vào giữa lòng hố, rồi dùng que tre gạt đều lớp tro nóng dày phủ kín lên tận vung niêu, chỉ chừa lại một khe hở thông khí mỏng manh bằng đầu que nứa.

“Tro này giữ nhiệt cực kỳ ổn định, âm ỉ ở mức tám mươi đến chín mươi độ C suốt một ngày một đêm không bao giờ tắt. Mật mía gặp muối mặn và chất chát đậm đặc của lá chè xanh sẽ từ từ thẩm thấu sâu vào tận tủy xương cá, ép nước trong thịt tứa ra rồi bay hơi dần qua kẽ nắp. Thịt cá nục sẽ săn chắc lại, dẻo quánh như thỏi sáp ong, xương cá mềm rục như bột, khi ăn nhai được cả xương bùi ngậy, nồng nặc vị cay xé lưỡi của ớt khô để chống lại cái lạnh thấu xương của lòng đất. Người lính chỉ cần lót một nắm cá khô này dưới đáy ba lô, lội qua dòng sông Gianh mùa nước lũ, nằm hầm công sự ròng rã ba tuần lễ thì miếng cá bẻ ra vẫn thơm ngậy, không hề vướng một chút mùi ẩm mốc.”

An đứng lặng, chăm chú dõi theo từng động tác chuẩn xác, thành kính của người cựu binh già. Bàn tay cụt ngón của ông bới tro, vùi than với sự thuần thục tuyệt đối của một bản năng sinh tồn thời chiến đã khắc sâu vào từng tế bào thần kinh.

Khi lớp tro mịn đã phủ kín chiếc niêu đất, ông Tấn quay người bước lại chiếc rương gỗ mục kê ở góc nhà. Đôi tay run rẩy lần mở từng lớp bọc bằng vải dù bộ đội đã mủn mép, ông rút ra một phong bì thư bằng giấy bưu điện ngả màu vàng ố vì thời gian. Mép dán của phong bì vẫn còn nguyên vẹn lớp hồ khô khốc, chưa từng một lần bị rạch mở; ở góc trên bên phải, dòng chữ viết tay bằng mực tím nắn nót, run rẩy vẫn còn hằn rõ địa chỉ người nhận: gửi về một con ngõ nhỏ ven bến sông Hồng năm 1980.

“Lá thư này cô Mùi viết gửi cho con gái—chính là mẹ Hà của cháu đấy—nhờ tôi tìm cách chuyển tận tay khi tôi có dịp ra Bắc chữa bệnh năm ấy,” ông Tấn nhìn phong bì thư, giọng nghẹn lại. “Nhưng cái năm ấy, mẹ cháu vừa mới sinh cháu xong, gia cảnh túng bấn bế tắc, cuộc sống cơ cực trăm bề. Khi bà Hà nhìn thấy chiếc áo lính bạc phếch và bộ dạng thương tật của tôi bước vào cửa, bà ấy nhìn tôi bằng ánh mắt căm hờn, coi tôi như hiện thân của thứ chiến tranh tàn nhẫn đã cướp mất tuổi trẻ và làm mẹ mình hóa điên dại. Bà ấy ném trả đồ đạc rồi đuổi thẳng tôi ra khỏi con ngõ. Suốt bốn mươi năm nay, tôi cất giữ bức thư này trong đáy rương, chưa từng một lần dám bóc ra xem.”

Ông Tấn chậm rãi đặt phong bì thư đã ố vàng vào lòng bàn tay An. Những ngón tay khô ráp của ông khẽ chạm vào tấm thẻ bài số 32 đang để trống tên món ăn bên trong chiếc hộp mun xà cừ mở hé. Đôi mắt người cựu binh già bỗng chốc đục ngầu, những giọt nước mắt muộn màng rỉ ra từ khóe mắt nhăn nheo:

“Dòng chữ ‘Nấu cho người con đã bỏ đi’ này... cháu đừng lầm tưởng rằng nó chỉ dành riêng cho mẹ Hà của cháu. Mùa khô năm 1971, trạm hậu cần của chúng tôi có cưu mang một đứa trẻ sơ sinh mồ côi vì bom đạn, người ta nhặt được nó thoi thóp bên mép sậy sông Gianh. Cả đơn vị nhường từng thìa nước cơm, chắt chiu từng miếng cháo nấu từ cá nục kho vùi tro này để nuôi nấng nó suốt hai năm trời ròng rã. Đến ngày đơn vị nhận lệnh hành quân thần tốc tiến sâu vào miền Nam giải phóng, trong cơn loạn lạc của chiến dịch, đứa bé ấy bị thất lạc rồi trôi dạt biền biệt về tận miệt rừng ngập mặn Cà Mau... Cô Mùi trước lúc xuôi tay nhắm mắt, chắc chắn vẫn ôm trọn nỗi đau đáu và món nợ ân tình chưa trả nổi với đứa con nuôi vô danh ấy.”

An run rẩy ôm chặt bức thư năm 1980 vào ngực. Bàn tay cô khẽ lật tấm thẻ gỗ số 12, nắn nót ghi lại đầy đủ những dòng chữ thiêng liêng vừa được hé mở: “Cá kho khô vùi tro nóng — Kỹ thuật bảo quản hầm công sự”, rồi xếp ngay ngắn vào hàng lối trong lòng hộp mun. Những góc khuất của lịch sử đang dần lộ diện qua từng chặng đường cô đi qua, nhưng cái giá phải trả cho sự thật luôn là những vết thương lòng rỉ máu âm ỉ của cả hai thế hệ.

***

Đầu giờ chiều, bầu trời Quảng Bình vẫn hầm hập như một chiếc lò nung khổng lồ. Khang xách hai chiếc can nhựa loại hai mươi lít chứa đầy nước giếng khơi mát lạnh bước từng bước nặng nề trở lại triền cát nơi xe đang đỗ. Nhiệt độ của khối động cơ Bếp Nhỏ đã hạ xuống mức an toàn sau vài tiếng mở toang nắp ca-pô, nhưng nét mặt của Khang thì lạnh tanh, đanh thép như một tảng đá hoa cương đóng băng.

Khi An ôm chiếc hộp gỗ mun vừa bước chân ra tới gần cửa thùng xe, Khang không hề cất tiếng hỏi han xem cô có gặp được người cựu binh hay không, cũng chẳng buồn mở nắp can đón lấy một ngụm nước làm mát cổ họng. Anh bước thẳng lên bậc thang sắt, trèo vào thùng xe dã chiến, giật mạnh tấm bạt bọc lớp mút cách âm che kín một góc bàn làm việc kỹ thuật bên cạnh bếp nấu.

“Xoạch!”

Một tập tài liệu dày cộp, in chi chít các bảng mã nhị phân, tọa độ địa lý, cùng các biểu đồ dạng xung sóng điện tử được Khang ném dằn mạnh xuống mặt bàn chế biến bằng inox sáng loáng.

“Mày nhìn cho kỹ đi,” Khang lên tiếng, giọng trầm đục, nghẹn ứ một cơn thịnh nộ đã bị đè nén đến mức cực hạn trong suốt hành trình dài.

An bước lên thùng xe, ngơ ngác nhìn tập giấy tờ lộn xộn trước mặt: “Cái gì thế này anh Khang?”

“Nhật ký truyền tín hiệu của cái cục định vị Vị Việt chết tiệt đó!” Khang gằn từng tiếng qua kẽ răng, ngón tay trỏ to bè của anh dằn mạnh xuống từng cột mốc thời gian in đậm trên mặt giấy. “Mày tưởng tao là thằng ngốc, tháo vứt nó đi từ cái đợt xe còn nằm ở bãi đỗ Gia Lâm à? Tao là thợ cơ khí, An ạ! Tao chưa bao giờ vứt bỏ một thiết bị điện tử nào ra khỏi xe khi tao chưa giải mã được nguyên lý hoạt động thực sự của nó! Tao đã âm thầm đấu tắt một bo mạch vi xử lý nối tiếp vào hệ thống ắc-quy phụ để giải mã ngược toàn bộ những gói dữ liệu mà cái sim 4G gắn ngầm bên trong đó phát tán đi, từ chặng xuất phát ở Hà Nội cho đến tận huyện Con Cuông vừa rồi!”

Mắt An mở to, nhịp tim cô đập thình thịch liên hồi sau lồng ngực.

Trên từng trang giấy in, từng tọa độ GPS chuẩn xác tới từng mét, từng mốc thời gian xe dừng đỗ, vận tốc di chuyển trên từng cung đường đèo, và kinh hoàng hơn cả là các tệp nén ghi âm giọng nói môi trường xung quanh khoang lái của chiếc Bếp Nhỏ đều hiển thị rõ ràng ngày giờ được đồng bộ hóa tự động theo thời gian thực về một địa chỉ IP máy chủ cố định. Địa chỉ đó đặt ngay tại trung tâm điều hành của Tập đoàn Vị Việt ở Hà Nội.

“Cái của nợ này không đơn thuần chỉ là một thiết bị định vị hành trình nhằm quản lý tài sản!” Khang bước dồn tới một bước, đôi mắt vằn tia đỏ rực lửa giận dữ xoáy thẳng vào mặt An. “Nó là một trạm thu thập tình báo và khai thác dữ liệu số tự động! Cứ hễ chiếc xe này dừng lại ở bất kỳ tọa độ nào quá ba mươi phút, thuật toán của nó sẽ tự kích hoạt chế độ quét sóng wifi và quét trạm phát sóng di động trong khu vực, rồi gửi định vị chuẩn xác về cho thằng Đỗ Thành Vinh. Thảo nào hồi ở Ba Bể, lão ta biết trước đường đi nước bước để điều quân lên đón đầu chèn ép! Thảo nào ở Con Cuông, xe mình vừa bò tới chân bản thì cái đoàn làm phim truyền thông với xe màu mè của lão đã chực sẵn ở trước cửa nhà bà Hờ! Bọn nó đang biến cái hành trình tìm kiếm ký ức của mày thành một cái kịch bản thực tế bẩn thỉu, khai thác đường đi nước bước của tao với mày như thể đang chăn dắt một đàn chuột thí nghiệm trong lồng kính!”

Khang chống cả hai bàn tay gân guốc xuống mép bàn inox, rướn người cúi sát mặt An, giọng anh run lên vì cảm giác bị phản bội đến nghẹt thở: “Bây giờ thì mày nói thật cho tao nghe đi! Bản hợp đồng trị giá năm mươi triệu đồng tiền mặt mà mày đã lén lút ký sau lưng tao với thằng Đỗ Thành Vinh rốt cuộc có những điều khoản bán rẻ danh dự nào trong đó? Có phải mày đã nhẫn tâm bán đứt toàn bộ quyền khai thác dữ liệu hành trình theo thời gian thực của chiếc xe này cho tập đoàn của nó để đổi lấy một cọc tiền sửa chữa động cơ không?!”

Không gian bên trong căn bếp lưu động rơi tõm vào một sự im lặng chết chóc. Hơi nóng nung nấu từ mặt sàn kim loại của thùng xe bốc lên hầm hập, ngột ngạt đến run rẩy. An đứng chôn chân tại chỗ, toàn thân lạnh ngắt dẫu mồ hôi vẫn túa ra đầm đìa bên thái dương. Cô bàng hoàng không chỉ vì sự thật ghê tởm, tàn nhẫn đằng sau chiếc bẫy công nghệ tinh vi mà Đỗ Thành Vinh đã cài cắm vào xe Bếp Nhỏ, mà còn vì một sự thật cay đắng đang hiển hiện ngay trước mắt: Khang—người đồng đội thô mộc, trung thực mà cô đặt trọn vẹn niềm tin tưởng trên từng cung đường—hóa ra đã âm thầm theo dõi ngược lại thiết bị ấy, tỉ mỉ thu thập từng bằng chứng kỹ thuật và giấu kín hoàn toàn với cô suốt hàng nghìn cây số đèo dốc hiểm trở mà không hề hé răng nửa lời.

Khang giơ tay gõ mạnh lên bản nhật ký truyền tín hiệu của cục định vị đang nằm chỏng chơ trên bàn bếp, đôi mắt thợ máy sắc lạnh nhìn thẳng vào sâu trong đáy mắt An:

“Tao giấu mày theo dõi ngược lại nó, còn mày thì giấu cả đoàn bán dữ liệu hành trình cho lão Vinh. Giờ ai trong cái xe này đáng tin hơn ai?”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories