Dấu Men Của Đội Bếp
Hàng quán chợ Nam Ngạn nép mình dưới bóng cầu Hàm Rồng rêu phong, nơi mùi thính gạo rang thơm lừng và lá chuối khô dẫn lối An tìm về dấu tích tuổi trẻ của bà Mùi.
Nắng sớm xứ Thanh rọi qua những nhịp dầm thép hoen gỉ của cây cầu lịch sử, đổ những vệt bóng dài ngoằng, đan chéo như một tấm lưới khổng lồ xuống triền đê sông Mã. Dòng sông mùa này đỏ quạch phù sa, gầm gào cuộn xiết dưới chân những trụ mố bê tông sứt sẹo vì bom đạn thời chiến. Chợ họp ngay dưới chân dốc đê, chộn rộn tiếng người mua kẻ bán, tiếng bát đũa khua lách cách trong những quán nước chè tươi, lẫn trong tiếng búa gõ đanh gọn từ một xưởng gò hàn thùng phuy ven bến bãi. Không khí ban mai nơi đây đặc quánh một phức cảm mùi vị rất riêng: mùi phù sa nồng ngái bốc lên từ mép nước, mùi khói củi ải của những hàng bánh đa quạt than, mùi rơm mục ủ ẩm dưới gầm sạp, và bao trùm lên tất cả là hương thính rang thơm ngậy, chua lựng quyện với vị chát the nồng của lá chuối tiêu vừa hơ lửa.
Khang đánh lái, đỗ chiếc xe Bếp Nhỏ vào khoảng đất trống rải đầy sỏi vụn cạnh chân một điếm canh đê cũ kỹ. Động cơ xe thở ra một tiếng khè dài mệt nhọc sau chặng đường dài vượt bụi gió từ Thái Bình vào đến cửa ngõ miền Trung. Khang nhảy xuống đất, chiếc áo cộc tay đã bết dính mồ hôi và bụi đường đỏ quạch. Anh xách hộp đồ nghề kim loại, ngồi thụp xuống bên hốc bánh sau, thuần thục kiểm tra lại chốt hãm thủy lực và độ rơ của trục láp. Đôi mắt anh liếc qua gương chiếu hậu, khẽ gật đầu trấn an An khi thấy cô vẫn ngồi lặng yên bên ghế phụ, hai bàn tay ôm chặt chiếc túi vải thô vào lòng.
Bên trong chiếc túi ấy là chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ sứt góc – vật bất ly thân lưu giữ xấp thẻ công thức món ăn của bà Mùi mà An đã mang theo qua gần chục chặng đường dọc dải đất phù sa đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi chiếc thẻ là một lát cắt cuộc đời, nhưng tấm thẻ số 10 nằm dưới đáy hộp dường như mang một sức nặng khác thường. Nó gắn với những năm tháng khói lửa ác liệt nhất của đời bà ngoại, gắn với cây cầu thép sừng sững bắc qua dòng sông Mã này, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết từng mong manh như sợi lạt giang.
An hít một hơi sâu, mở cửa xe bước xuống. Đôi giày vải của cô lún nhẹ trên lớp cát mịn pha bùn khô ven bờ đê. Đi men theo con dốc thoai thoải lát bằng những phiến đá hộc xô lệch, cô tiến sâu vào lòng chợ Nam Ngạn. Dưới bóng râm loang lổ của tấm bạt dù màu xanh bộ đội đã bạc phếch, căng chéo từ thân cây bàng cằn cỗi sang mép cột điện xi măng, một sạp quà quê chất đầy nong nia, rổ sảo hiện ra.
Ngồi giữa khoảng không gian ngập tràn sắc xanh thẫm của lá chuối và vàng ruộm của thính rang là một người đàn bà luống tuổi. Bà ngồi xếp bằng trên một chiếc bục xi măng trát tạm, lưng hơi còng nhưng đôi vai gầy vẫn giữ một dáng thẳng kiên cường. Đôi bàn tay gầy guộc, mu bàn tay chằng chịt những đường gân xanh nổi rõ dưới lớp da mồi đốm nâu, đang thoăn thoắt lướt trên từng phiến lá. Đầu ngón tay thô ráp, vàng ố vì nhựa chuối và nước vôi, miết phẳng từng đường gân lá, nhồi thịt, bẻ góc, rồi quấn sợi lạt giang mảnh dẻ quanh thân chiếc nem vuông vức với một tốc độ chuẩn xác đến kinh ngạc. Từng động tác nhịp nhàng, thuần thục như một phản xạ tự nhiên đã ăn sâu vào tủy tủy qua hàng vạn lần lặp lại, tưởng chừng như người đàn bà ấy có nhắm nghiền đôi mắt lại thì quả nem thành hình vẫn không hề lệch đi một góc cạnh nào.
An đứng lại bên mép bục xi măng, nén nhịp thở dồn dập trong lồng ngực:
— Cháu chào bà Mão ạ.
Bà cụ dừng tay. Sợi lạt giang mỏng như sợi cước ngưng bặt giữa không trung. Đôi mắt kèm nhem, đục mờ vì dấu vết thời gian sau cặp kính lão gọng đồi mồi dày cộp từ từ ngước lên. Ánh nhìn già nua nhưng sắc sảo quét qua gương mặt trẻ măng của An, dừng lại ở chiếc túi vải thô cô đang ôm chặt trước ngực, rồi lướt xuống lớp bụi đỏ sông Mã bám trên gấu quần và mũi giày của người vừa trải qua một chặng đường thiên lý.
— Ai đấy? Mua nem ăn cưới hay đem đi đường xa? — Giọng bà cụ khàn đục, mang âm sắc trầm nặng đặc trưng của phương ngữ vùng hạ lưu sông Mã — Nem nhà này ủ thính mộc, gói bằng lá chuối rừng với men tự nhiên, ba hôm nữa mới vừa độ chín tới. Muốn ăn ngay chiều nay thì chỉ có mẻ gói từ hôm kia, chua thanh vừa miệng, rước về là bóc ăn được liền.
— Dạ, cháu không đến để mua nem… — An ngập ngừng, lồng ngực khẽ nghẹn lại — Cháu là Hoài An, cháu ngoại bà Mùi ở bến sông Hồng…
Nói rồi, An run run mở nắp túi vải, thò tay rút tấm thẻ số 10 bằng giấy bồi đã ố vàng, mép giấy sờn rách vì năm tháng. Cô kính cẩn nâng tấm thẻ bằng cả hai tay, cúi mình trao sang phía người đàn bà già nua.
— Bà ngoại cháu mất rồi ạ. Trước khi nhắm mắt, bà có dặn cháu khi nào xe lăn bánh vào tới đất Thanh Hóa thì phải tìm về chợ Nam Ngạn, dưới chân cầu Hàm Rồng này để hỏi thăm bà…
Nghe ba chữ “bà ngoại cháu”, rồi cái tên “con Mùi ở bến sông Hồng” buông ra, cả thân hình gầy guộc của bà Mão bỗng chốc cứng đờ. Chiếc nem vừa gói dở cùng sợi lạt giang rơi tuột khỏi ngón tay, lăn lông lốc trên mẹt lá chuối xanh. Bàn tay thô ráp của bà giơ ra giữa không trung, run rẩy đón lấy tấm bìa bồi ố màu thời gian.
Khi những đầu ngón tay nứt nẻ chạm vào lớp mực tím viết tay quen thuộc, nét chữ thẳng tắp, góc cạnh và dứt khoát như được khắc bằng dao nhọn, hơi thở của bà Mão nghẹn ứ nơi cuống họng. Đôi mắt mờ đục mở to, nhìn chằm chằm vào dòng chữ tiêu đề được gạch dưới hai nét kép dứt khoát: *“Ủ men xứ Thanh — Kỹ thuật giữ thịt tuyến lửa”*.
— Đúng… đúng nét chữ của con Mùi rồi… — Giọng bà Mão vỡ ra, thì thào như nói với cõi vô hình, ngón tay cái run rẩy miết đi miết lại trên góc thẻ — Cái nét chữ sắc như dao cau, cứng nhắc đến ngạo ngược, chữ nào có dấu huyền hay gạch chân cũng phải kéo dài ngoằng quá một phân như muốn đâm thủng mặt giấy. Cả cái ký hiệu móc câu nhỏ xíu giấu kín ở góc phải này nữa… Nó còn giữ cái thẻ này thật à? Nó… nó chết rồi sao?
Bà Mão ngẩng phắt đầu lên, nhìn xoáy vào An. Cái nhìn già nua như muốn lột trần từng đường nét trên khuôn mặt người đối diện. Bà ngắm vầng trán cao bướng bỉnh, sống mũi thẳng tắp và khóe môi hơi mím lại của An, như thể đang cố chắp vá lại bóng hình người bạn đồng hành năm xưa từ từng mảnh vụn ký ức đã phủ bụi nửa thế kỷ. Một giọt nước mắt đùng đục từ từ rỉ ra nơi khóe mi đầy những nếp nhăn xếp tầng, lăn chầm chậm qua gò má hóp, rơi khẽ xuống mặt giấy bồi làm nhòe đi một vệt mực tím cổ xưa.
— Nó đi… có thanh thản không cháu? — Giọng bà chùng xuống, cay đắng và nghẹn ngào — Khổ thân, cái tính gàn dở, cố chấp, lòng tự ái cao hơn núi ngút trời. Ngày ấy giận nhau một trận long trời lở đất, nó dứt áo bỏ đơn vị, trốn chạy một mạch ra bãi cát bến sông Hồng dựng bếp, ngót bốn mươi năm trời biệt tích, chẳng thèm đánh tiếng lấy một lời gửi về đất này… Con người gì mà sắt đá, tàn nhẫn với chính bản thân mình đến thế…
— Bà ngoại cháu mất êm ái sau một đợt ốm nặng bà ạ, — An cúi đầu, mi mắt rưng rưng khi những ký ức về chuỗi ngày cuối cùng của bà Mùi ùa về — Trước khi mất, bà chỉ kịp để lại cho cháu chiếc hộp gỗ này và dặn cháu phải đi lần theo từng tấm thẻ, hiểu cho thấu ngọn ngành căn cốt của từng món ăn, từng kỹ thuật nuôi sống con người trong những năm hàn vi, thì mới được phép nhóm lại ngọn lửa trong gian bếp cũ.
Bà Mão buông một tiếng thở dài thườn thượt. Tiếng thở dài như trút ra hết những u uất, hờn giận và xót xa bị dồn nén suốt mấy mươi năm đằng đẵng. Bà đưa vạt áo bà ba bạc màu lau khô giọt nước mắt, rồi kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ sung đã mòn vẹt bốn góc ở xó sạp ra, vỗ vỗ xuống mặt ghế bảo An ngồi. Đoạn, bà với tay nhấc chiếc ấm tích bằng sành bọc trong giành mây lót rơm khô, rót ra một bát sành da lươn thứ nước chè xanh om đặc sánh, bốc khói nghi ngút, thơm nồng vị gừng cay đập giập.
— Muốn hiểu món nem này thì cháu cất cái thẻ vào hộp đi đã, — Bà Mão nói, giọng đã lấy lại vẻ bình thản trầm tĩnh của một người cả đời sống bên rìa lửa đạn — Chữ nghĩa nằm trên giấy chỉ là cái xác không hồn. Muốn biết người xưa sống sót qua bom đạn bằng cách nào, phải tự tay sờ vào miếng thịt còn ấm máu, phải ngửi thấy mùi thính ngô rang già cắn men nồng hắc, phải nhai thấy cái độ giòn sừn sựt của sợi bì ép chặt trong bóng tối. Bằng không, mọi thứ cháu học được cũng chỉ là mớ lý thuyết suông của mấy kẻ đứng ngoài nhìn vào.
Nói đoạn, bà Mão chống tay đứng dậy, dáng đi hơi khập khiễng vì vết thương cũ ở khớp gối. Bà bước tới chiếc chõng tre đặt giữa sạp, vén tấm vải màn tuyn màu trắng phủ bên trên chiếc nong lớn đan bằng cật nứa già.
Bên dưới tấm màn là từng phần nguyên liệu đã được bà chuẩn bị tươm tất từ lúc gà gáy sáng: một tảng thịt mông sấn tươi rói đỏ au, lớp nạc dày bản với những thớ thịt dài, săn chắc, tuyệt nhiên không dính lấy một mẩu mỡ thừa hay một màng gân trắng; cạnh đó là chiếc đĩa sành lớn chất đầy bì lợn đã được cạo sạch lông tơ, luộc chín tới, ngâm nước đá trong veo rồi lạng mỏng tang, thái chỉ mảnh như những sợi miến dong; và một âu sành miệng rộng đựng thính rang vàng sẫm, tỏa ra một mùi hương nồng đượm, ngai ngái, vừa có vị bùi béo của gạo tẻ, vừa có nét khét nhẹ đặc trưng của hạt ngô nương sấy khô.
— Cháu bước lại đây, nhìn cho thật kỹ, — Bà Mão chỉ ngón tay khẳng khiu vào tảng thịt mông đỏ tươi — Nem chua thời bình bây giờ người ta làm nhàn nhã lắm. Thịt lợn nguội ngắt mua ngoài chợ về tống vào máy xay công nghiệp nghiền nát nhừ, cho thêm bột nở, bột tạo dai, phẩm màu công nghiệp rồi đóng gói bằng màng bọc nilon, nhét tủ lạnh bảo quản cả tháng trời không hỏng. Nhưng thời chiến, mùa hè năm 1972 khốc liệt ấy, đất Hàm Rồng này mỗi ngày gánh hàng trăm tấn bom rải thảm của giặc Mỹ, bầu trời lúc nào cũng đỏ rực như lò nung, lấy đâu ra tủ lạnh? Lấy đâu ra đá cây mà ướp thịt? Điện còn chẳng có để thắp sáng cho trạm phẫu thuật hay căn hầm dã chiến khoét sâu vào lòng đồi.
Bà Mão cầm con dao bài sắc lẹm, nhẹ nhàng lướt lưỡi dao pha tảng thịt nạc thành từng thớ mỏng dính dọc theo sớ thịt, rồi chuyển toàn bộ sang chiếc thớt gỗ nghiến dày cộp, đen bóng vì ngấm mỡ qua năm tháng. Đôi bàn tay gầy gò của bà vung chiếc chày gỗ lim nặng trịch lên, giã dập từng nhát chắc nịch xuống mặt thớt. Âm thanh bình bịch vang lên đều đặn, mặt thớt rung lên bần bật nhưng thịt không hề bị nát vụn như giò sống mà dập tơi, kết quyện vào nhau thành một khối dẻo quánh.
— Thịt lợn quân nhu chi viện về theo xe tải từ hậu phương, chạy qua trọng điểm bom đạn pháo kích, nếu không biết cách xử lý ngay trong ngày thì sang ngày thứ hai dưới cái nóng bốn mươi độ của miền Trung, thịt sẽ thiu rữa, giòi bọ bò lúc nhúc. Muốn giữ được nguồn đạm quý giá cho thương binh, cho bộ đội pháo cao xạ và hàng nghìn dân công hỏa tuyến bám trụ quanh cầu, người nuôi quân bắt buộc phải tìm ra cách nương tựa vào quy luật sinh tồn của tự nhiên: dùng con men vi sinh hữu ích để áp chế vi khuẩn hoại tử!
Bà dừng chày, hất mớ thịt dẻo quánh vào chiếc chậu men Hải Phòng, rồi quay sang nhìn An:
— Tỷ lệ sống còn nằm ở chỗ này: bảy phần thịt nạc mông tươi giã quánh dẻo, ba phần bì lợn luộc vừa chín tới thái chỉ khô kiệt nước. Bì lợn không đơn thuần là để tạo độ giòn sừn sựt khi nhai cho vui miệng đâu cháu. Khi được nén chặt trong môi trường yếm khí, chất keo tự nhiên từ bì sẽ tiết ra, đóng vai trò như một chất keo sinh học gắn kết các thớ nạc lại thành một khối thống nhất, dẻo dai mà không cần bất kỳ một thứ hóa chất nào. Thịt mông phải tuyệt đối tươi nguyên, lợn vừa chọc tiết xong, thịt còn ấm ran bàn tay là phải lọc nạc giã ngay lập tức. Tuyệt đối không được để dính một giọt nước lã, cũng không được để lẫn một tia mỡ thừa. Dính một giọt nước lã hay một vệt mỡ thôi, men thối sẽ bùng lên lấn át men chua, mẻ nem lập tức biến thành chất độc, ăn vào là lính đau bụng đi tháo dạ, mất sức chiến đấu ngay trên mâm pháo!
Bà Mão với tay bốc từng vốc thính rang trong âu sành, rải đều lên bề mặt chậu thịt. An cúi sát xuống quan sát. Cô tinh ý nhận ra hạt thính ở đây không hề mịn mượt, trắng vàng như thính gạo nếp rang mà mẹ cô hay dùng để trộn nem chạo ở bến sông Hồng. Bột thính này có màu vàng nâu sậm, lấm tấm những hạt gãy góc cạnh, hơi thô ráp.
— Thính này… không phải chỉ rang bằng gạo nếp đúng không bà? — An khẽ hỏi.
— Con bé này tinh mắt đấy, — Bà Mão mỉm cười, những nếp nhăn nơi khóe mắt dãn ra đôi chút — Gạo thời chiến quý hơn ngọc, người ăn còn chẳng đủ no thì lấy đâu ra gạo nếp thơm tho dư thừa mà làm thính cho nem như thói trưởng giả phố huyện? Đội cấp dưỡng chúng tao ngày ấy phải thu gom từng mẩu ngô răng ngựa của đồng bào mường nương gửi xuống, đem ngâm nước cho mềm rồi phơi thật khô. Trộn một nửa gạo tẻ loại mục với một nửa ngô răng ngựa, rang trên chảo gang dày lòng bằng lửa củi tre cháy đượm. Phải rang cho đến khi hạt ngô cháy cạnh, ngả sang màu cánh gián đậm mới bắc xuống giã nhỏ. Ngô rang già lửa có chứa lượng tinh bột biến tính rất cao, nó giúp kích hoạt men chua bắt cực nhanh, lại để lại một hậu vị ngọt đậm, bùi ngậy đọng lại sâu nơi cuống họng sau cái vị chua gắt ban đầu.
Bà gõ nhẹ cán thìa vào thành chậu:
— Lượng thính chỉ được phép chiếm đúng một phần mười trọng lượng mẻ thịt. Không hơn, không kém. Cho nhiều thính quá, nem sẽ hút hết ẩm, trở nên bở bục, cắn vào vụn như mùn cưa; cho ít quá thì vi sinh vật yếm khí không đủ đường bột để ăn mà sinh sôi nảy nở, thịt sẽ thối rữa trước khi kịp chuyển sang vị chua thanh.
Bà Mão lùi lại một bước, chỉ vào chậu thịt đã phủ đầy thính ngô:
— Nào, xắn tay áo lên! Nhào thịt đi cháu!
An không ngần ngại xắn cao hai ống tay áo sơ mi. Cô rửa tay sạch bằng gáo nước lá ổi chát mà bà Mão đã chuẩn bị sẵn, dùng khăn sạch lau khô kiệt nước rồi quỳ gối xuống mép bục bệ xi măng. Đôi bàn tay trần của cô cắm sâu vào khối thịt nạc, bì và thính.
Bà Mão rắc vào lòng bàn tay cô một nhúm muối hột rang giã mịn, tiêu sọ trắng đập giập và tỏi tươi thái lát mỏng tang. Hơi ấm tự nhiên từ lòng bàn tay An truyền thẳng vào khối thịt lạnh. Cô dùng hết sức của mu bàn tay, các ngón tay bóp sâu, miết mạnh, đảo đều khối thịt từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong. Càng nhào, khối thịt càng trở nên quánh dẻo, sợi bì lợn quyện chặt vào thớ nạc hồng tươi, tiếng thịt dính lách nhách nghe thật vui tai. Mùi tỏi sống hăng nồng xộc thẳng lên sống mũi cay xè, quyện cùng mùi thơm ấm sực của hạt tiêu và hương ngô rang cháy cạnh, tạo nên một cảm giác vừa ngột ngạt vừa kích thích vị giác mãnh liệt.
Khi khối thịt đã dẻo quánh đến mức dốc ngược chậu men mà không hề rơi ra một mẩu, bà Mão kéo rổ lá chuối rừng và một bó lá đinh lăng tươi xanh mướt lại gần.
— Bây giờ đến công đoạn sống còn: gói và nén khí, — Bà Mão cầm một ngọn lá đinh lăng bánh tẻ đưa lên trước mặt An — Nhìn kỹ ngọn lá này. Đinh lăng mọc hoang dại khắp các triền đồi đất đỏ ven sông Mã. Chúng tao hái về, rửa sạch, hong ráo nước trong bóng râm. Đặt ba ngọn lá đinh lăng bánh tẻ úp mặt xuống phiến lá chuối, nắn một vắt thịt dài cỡ ngón tay cái ép thật chặt lên trên. Nhựa đinh lăng chứa các hợp chất saponin và tinh dầu đắng, vừa là vị thuốc giải độc đường ruột cực tốt, vừa cùng với chất chát tanin của lá chuối non tạo thành một lớp màng sinh học tự nhiên, phong tỏa mọi đường xâm nhập của nấm mốc và vi khuẩn hoại tử từ bên ngoài vào.
Bà Mão thoăn thoắt làm mẫu. Đôi tay bà gói lớp lá chuối tươi thứ nhất thật khít, rồi bọc thêm lớp thứ hai, lớp thứ ba:
— Ba lớp lá chuối tươi bên trong hơ qua lửa cho dai mềm để giữ ẩm và ép sát thịt; hai lớp lá chuối khô bên ngoài chống nóng, cách nhiệt với gió Lào và nắng lửa bỏng rát. Phải quấn thật chặt tay, dùng sợi lạt giang xiết căng tròn bốn góc. Ép càng chặt thì lượng không khí dư thừa bên trong càng cạn kiệt. Vi khuẩn kỵ khí ưa axit lactic sẽ vùng lên chiếm lĩnh toàn bộ khối thịt, biến đổi lượng đường trong thính ngô thành axit tự nhiên, làm chín miếng thịt sống từ trong lõi mà không cần đến một tia lửa nào!
Bà ngước nhìn lên vòm cầu Hàm Rồng, nơi tiếng còi tàu hỏa rúc lên từng hồi dài vang vọng:
— Cứ thế, trong những căn hầm chữ A ẩm thấp, nóng hầm hập ba mươi chín, bốn mươi độ giữa mùa hè năm ấy, những quả nem này được xếp vào sọt tre, phủ bao tải gai và rơm khô ủ kín. Đúng ba ngày hai đêm, không sớm một khắc, không muộn một giờ, nem chín ngấu. Bóc năm lớp lá chuối ra, quả nem hồng rực như một viên ngọc bích bọc ngọc đào, thớ thịt dẻo quánh, trong veo, đưa lên miệng cắn nghe sần sật, chua thanh lịm người, ngọt hậu sâu thẳm… Nuốt miếng nem vào bụng, người lính cảm thấy như vừa được tiếp thêm một nguồn sinh lực vô tận giữa chảo lửa bom đạn.
Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ của bà Mão, An cặm cụi gói từng quả nem. Ban đầu tay cô còn hơi lóng ngóng, sợi lạt giang siết chưa đủ lực làm mép lá bị phồng, góc nem hơi vẹo. Nhưng dưới ánh mắt nghiêm khắc của bà cụ, An kiên nhẫn tháo ra gói lại từng chiếc một. Cô dồn toàn bộ tâm trí vào từng ngón tay, cảm nhận từng thớ thịt ép chặt vào ngọn lá đinh lăng, tiếng lạt giang xiết rít lên lách tách trên bề mặt lá chuối nghe giòn giã.
Mười chiếc, hai mươi chiếc, rồi chiếc nem thứ năm mươi vuông vức, đanh chắc nằm gọn trong lòng bàn tay cô. An thở hắt ra một hơi, mồ hôi ướt đẫm hai bên thái dương. Cầm quả nem nằng nặng, ấm nóng trong tay, lần đầu tiên trong đời cô thực sự thấu hiểu thế nào là sức mạnh của ẩm thực sinh tồn: nó không phải là thứ nghệ thuật cầu kỳ xa hoa bày trên đĩa sứ tráng men nơi phố hội, mà là một phát minh thô ráp, mãnh liệt của bản năng sống sót giữa lằn ranh hủy diệt.
Khi nong nem đã được buộc thành từng chùm mười quả ngay ngắn, xếp gọn vào thúng tre phủ lá tươi, bà Mão bảo An múc nước mưa từ chiếc vò sành lớn sau sạp ra rửa sạch tay chân. Bà kéo cô trở lại chiếc bàn con bên gốc bàng, nơi bát nước chè xanh om gừng đã nguội bớt, chỉ còn lăn tăn những gợn váng màu hổ phách.
Bà Mão với tay lấy tấm thẻ số 10 nằm lẻ loi trên mặt bàn gỗ xẻ. Đôi mắt sau tròng kính lão nheo lại, bà chậm rãi đọc từng con chữ mực tím viết tay thẳng thớm:
*“Ủ men xứ Thanh — Kỹ thuật giữ thịt tuyến lửa. Sáng kiến dự trữ thực phẩm độc quyền của Trần Thị Mùi, Đội cấp dưỡng Hậu cần 1972.”*
Ngón tay trỏ của bà Mão dừng lại ở chữ *“độc quyền của Trần Thị Mùi”* được gạch chân hai nét kép bằng mực tím rất đậm. Bất thần, một tiếng cười khẩy khô khốc, chát chúa bật ra từ lồng ngực gầy guộc của người đàn bà già nua:
— Con Mùi… Đến tận lúc chết, nằm sâu dưới ba tấc đất lạnh rồi, mày vẫn không chịu buông bỏ cái thói hiếu thắng, cái tính độc chiếm ích kỷ ấy đi sao hử Mùi?
An giật thót người, tim đập thình thịch:
— Bà ơi… bà vừa nói gì cơ ạ? Dòng chữ ấy… có điều gì sai sót sao bà? Cháu tưởng… công thức này là do chính tay bà ngoại cháu ngày đêm mày mò, đúc kết từ kinh nghiệm làm giò chả gia truyền ở Hà Nội đem vào phục vụ chiến trường?
Bà Mão đập mạnh tấm thẻ bồi xuống mặt bàn gỗ. Chiếc bát sành nảy lên, nước chè xanh sóng sánh tràn ra mép bàn xi măng. Khuôn mặt bà cụ co rúm lại, đôi mắt ánh lên một tia phẫn uất, cay đắng và đau đớn tột cùng – một nỗi đau bị vùi chôn dưới lớp tro tàn ký ức suốt năm mươi năm bỗng chốc bùng cháy trở lại dữ dội.
— Sai! Sai từ gốc rễ! Sai một cách tàn nhẫn và trơ trẽn cháu ạ! — Tiếng bà cụ run lên bần bật, từng lời nhả ra như cứa vào không khí ngột ngạt của buổi trưa — Cái phương pháp ủ men thịt bằng lá đinh lăng và thính ngô rang già này tuyệt đối không phải là sáng kiến của riêng một mình bà ngoại cháu! Nó là máu, là mồ hôi, là nước mắt của cả ba người phụ nữ trong tổ cấp dưỡng hậu cần chốt giữ chân cầu Hàm Rồng vào mùa hè đỏ lửa năm 1972! Tổ cấp dưỡng ấy có tao — con Mão chuyên gùi nước sông Mã vượt đồi, có con Thao nhặt rau giã thịt, con Thược chuyên đi lùng lá thuốc trên đồi và thính ngô nương, và bà ngoại cháu — con Mùi, người đứng bếp trưởng quản lý định lượng khẩu phần!
An ngồi chết lặng. Từng lời của bà Mão rơi vào tai cô như những tiếng sét xé toạc bầu trời yên ả.
— Cháu có biết vì sao mẻ nem đầu tiên ra đời không? — Bà Mão nghẹn ngào, ánh mắt thất thần nhìn đăm đắm ra khoảng trời lồng lộng gió trên đỉnh cầu Hàm Rồng — Tháng 6 năm 1972, sau một trận bom tọa độ rải thảm của máy bay phản lực Mỹ xuống kho lương thực đầu cầu, ba con lợn giống của đơn vị bị sập hầm chết ngạt. Khi chúng tao đào bới đất đá lôi được xác lợn lên thì trời đã trưa, nắng chang chang đổ lửa, thịt bắt đầu chuyển màu thâm tím, bốc mùi ngai ngái. Ban chỉ huy trung đoàn ra lệnh phải đem chôn tiêu hủy toàn bộ vì sợ dịch bệnh, sợ lính ăn vào ngộ độc thì tê liệt trận địa. Nhưng giữa những ngày đói quay đói quắt, hạt gạo hạt muối cõng trên lưng chảy máu vai mới vào đến nơi, nhìn hàng tạ thịt tươi chuẩn bị thối rữa dưới hố vôi, cả tổ cấp dưỡng ôm nhau khóc nức nở. Bỏ thì có tội với đồng đội, có tội với trời đất!
Bà Mão quệt mạnh tay áo lên sống mũi, giọng khàn đặc:
— Chính con Thược — con bé người gầy nhẳng quê ở vùng bán sơn địa Hà Trung — là đứa đầu tiên nghĩ ra việc dùng thính ngô rang cháy cạnh để hút kiệt độ ẩm và kích men chua thật nhanh, vì nhà nó vốn có nghề ủ chua tép mương truyền đời! Chính con Thao — cô gái thanh niên xung phong mới mười chín tuổi — là đứa nửa đêm liều mình bò qua làn đạn pháo sáng trèo lên sườn đồi bom cày xới, hái từng nắm lá đinh lăng dại về thay cho lá ổi để diệt khuẩn, chống đau bụng cho anh em thương binh! Còn bà ngoại cháu, đúng, tao không phủ nhận con Mùi có hoa tay, khéo léo, nó mang kinh nghiệm làm giò chả phố cổ Hà Nội ra để định tỷ lệ nạc bì và dạy chúng tao cách gói ba lớp lá chuối nén yếm khí!
Bà cụ dừng lại, ngực phập phồng dữ dội:
— Ba người phụ nữ chúng tao thức trắng ba ngày ba đêm dưới căn hầm số 4 ngập mùi thuốc bom khét lẹt. Tay con Thao rớm máu vì nẹp lá chuối gai, mắt con Thược đỏ hoe vì khói củi tre cay xè, còn tao gùi từng thùng nước mưa từ đỉnh đồi về súc rửa dụng cụ. Hơn sáu trăm quả nem ủ thính ngô năm ấy đã cứu đói cho cả một trung đoàn pháo cao xạ bám trụ mặt cầu suốt một tuần lễ chia cắt, không một người lính nào bị đau bụng, không một ai ngã xuống vì kiệt sức! Món nem ấy được coi là kỳ tích của ngành nuôi quân mặt trận!
Một cơn gió mạnh từ sông Mã thốc lên, cuốn theo lớp bụi cát mù mịt thốc qua sạp chợ, làm những xấp lá chuối khô xào xạc như tiếng thở dài ai oán của đất trời.
— Thế rồi… chuyện gì đã xảy ra sau đó hở bà? — An run rẩy hỏi, giọng cô lạc hẳn đi.
— Chuyện gì xảy ra ư? — Bà Mão bật cười chua chát, khóe môi méo xệch — Sang tháng sau, một quả bom tạ đánh trúng nóc hầm số 4. Con Thược và con Thao… hy sinh ngay tại chỗ! Bom nổ xới tung căn hầm, đất đá vùi lấp tất cả, thi thể chúng nó không còn nguyên vẹn, chiếc tạp dề vải bạt dính chặt vào vách đất đá nhuộm đỏ máu… Tao may mắn thoát chết vì lúc đó đang gánh thùng nước đi dưới chân hào giao thông. Sau trận bom ấy, đơn vị làm lễ truy điệu và tổ chức hội nghị tổng kết sáng kiến hậu cần thời chiến để báo cáo lên Bộ tư lệnh Quân khu. Chẳng hiểu vì cớ gì, ma xui quỷ khiến thế nào, trong bản báo cáo thành tích gửi lên cấp trên, người ta chỉ thấy ghi độc một cái tên: *Đồng chí Trần Thị Mùi — Bếp trưởng, tác giả duy nhất của sáng kiến ủ men thịt tuyến lửa*!
Từng chữ bà Mão thốt ra như một tảng đá ngàn cân nện thẳng vào lồng ngực An.
— Tên của con Thược, tên của con Thao… biến mất hoàn toàn! — Giọng bà cụ gắt lên, hai hốc mắt đỏ ngầu — Như thể chúng nó chưa từng thức trắng đêm giã thịt! Như thể chúng nó chưa từng đổ máu, chưa từng nát thây dưới lòng đất này để bảo vệ từng hạt muối, cọng rau! Con Mùi được gắn huân chương, được tuyên dương gương mặt điển hình toàn quân. Ngày hôm đó, tao đã lao vào bếp, tao tát thẳng vào mặt con Mùi trước mặt bao nhiêu người! Tao gào lên: *‘Mày ăn cơm của bộ đội, mày đứng trên xác thịt của con Thược, con Thao mà nhận tấm bằng khen ấy một mình, mày nuốt có trôi không Mùi? Mày không thấy nghẹn đắng nơi cổ họng à?’*.
An bàng hoàng buông thõng hai tay. Toàn thân cô run rẩy, lạnh ngắt từ đỉnh đầu xuống đến tận gót chân. Chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ đặt trên bàn bỗng chốc trở nên nặng trịch, xa lạ và đáng sợ đến nghẹt thở.
Hình ảnh người bà ngoại kính yêu, người phụ nữ tài ba, đoan trang, nghiêm cẩn với từng đường kim mũi chỉ, từng hạt muối cọng hành, người mà An luôn tôn thờ như một biểu tượng của sự thanh cao và chuẩn mực đạo đức trong nghề bếp bỗng nhiên nứt toác ra một mảng lớn. Bà Mùi cả đời răn dạy An rằng nghề đầu bếp là nghề của lương tâm, người nấu nướng chân chính không bao giờ được phép dối lừa thực khách và tuyệt đối không bao giờ được nhận vơ công lao của người khác về mình. Vậy mà, chính trên tấm thẻ số 10 này, dưới nét mực tím kiêu hãnh và nét gạch chân đanh thép của bà, hai người đồng đội nuôi quân đã vĩnh viễn bị xóa tên, bị tước đoạt ký ức một cách lạnh lùng suốt nửa thế kỷ qua.
— Rồi bà ngoại cháu… nói gì ạ? — An thì thào, nước mắt đã ứa ra tràn mi.
— Nó không nói được một lời nào! — Bà Mão thở hắt ra, ánh mắt chùng xuống xót xa — Nó đứng trơ trơ ra giữa bếp như một pho tượng đá không hồn, mặt cắt không còn một giọt máu. Rồi ngay trong đêm hôm đó, nó lẳng lặng thu dọn ba lô, trốn khỏi đơn vị, biến mất khỏi đất Thanh Hóa. Tao cứ ngỡ nó bỏ chạy vì nhục nhã, tao cứ ngỡ cả đời này nó phải sống trong dằn vặt sám hối mà ôm nỗi ân hận xuống mồ… Ai ngờ đâu, bốn mươi năm sau, nó vẫn nắn nót chép lại hai chữ ‘độc quyền’ lên tấm thẻ này để truyền lại cho đời sau! Nó muốn biến sự dối trá thời chiến thành di sản vinh quang của dòng họ nó sao?
Không khí trong sạp hàng chìm vào một khoảng lặng đặc quánh, nặng nề đến nghẹt thở. Tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân mố cầu Hàm Rồng bên ngoài triền đê nghe như những tiếng gõ nhịp của thời gian đang đòi lại món nợ chưa trả.
An nhìn xuống tấm thẻ số 10. Từng nét mực tím kiêu hãnh bỗng trở nên nhức nhối như những vết chém vào lương tâm cô. Giờ thì cô đã hiểu vì sao mẹ cô — bà Hà — mỗi lần nhắc đến bà ngoại lại thường buông những tiếng thở dài đắng đót bên vệ đê sông Hồng. Cô nhớ lại phong bì thư đã ố vàng, chưa từng bóc tem gửi từ Đồng Hới năm 1972 mà cô vô tình nhìn thấy dưới đáy ngăn kéo tủ thờ. Và cô nhớ cả ánh mắt u uất, trĩu nặng day dứt của bà Mùi mỗi buổi chiều tà, khi bà ngồi lặng lẽ một mình trên bậu cửa nhìn ra dòng sông Hồng cuộn đỏ, miệng lẩm bẩm những điều vô nghĩa mà không ai hiểu được.
Đó không phải là sự tự hào của một nghệ nhân. Đó là gánh nặng của một tội lỗi không thể chuộc lại. Bà Mùi đã không đủ dũng khí để đối diện với sai lầm của chính mình khi còn sống, và bà đã đẩy món nợ ấy lại cho người kế thừa bước tiếp trên con đường ẩm thực.
An nhắm mắt lại. Lồng ngực cô thắt nghẹn, cay xè. Cô có thể chọn cách im lặng, có thể bào chữa rằng thời chiến tranh loạn lạc, việc báo cáo thành tích là do cấp trên ấn định, có thể cất tấm thẻ vào hộp và tiếp tục cuộc hành trình tôn vinh tài năng của dòng họ mình như một người thừa kế mù quáng. Nhưng nếu làm thế, cô khác gì một kẻ đồng lõa với sự lãng quên bất công? Nếu món ăn sinh tồn này được dựng xây trên sự dối trá và xương máu của những người vô danh bị tước đoạt tên tuổi, thì ngọn lửa mà cô sắp nhóm lại trong gian bếp cũ sẽ mãi mãi chỉ là một thứ lửa tăm tối, ô uế.
An mở mắt ra. Đôi mắt cô đã ráo hoảnh, ánh lên một tia kiên định khác thường.
Cô mở khóa chiếc túi vải thô, rút ra chiếc bút máy ngòi kim mạ vàng và lọ mực đen kháng nước dùng để ghi chép hành trình. An ngồi thẳng lưng, đặt tấm thẻ số 10 lên mặt chiếc thớt gỗ nghiến phẳng phiu.
Bằng một động tác dứt khoát, không một chút ngập ngừng, An đặt ngòi bút kim loại xuống mặt giấy bồi.
*Xoẹt. Xoẹt.*
Hai đường mực đen đậm đặc, dứt khoát rạch thẳng qua cụm từ *“độc quyền của Trần Thị Mùi”*. Mực đen ngấm sâu vào từng thớ giấy xốp, xóa sạch dấu vết của sự kiêu hãnh lầm lạc suốt nửa thế kỷ qua.
Phía dưới dòng chữ vừa xóa, An nắn nót, cẩn trọng viết thêm từng con chữ rành mạch, rõ ràng bằng mực đen:
*“Đồng sáng kiến sinh tồn thời chiến Hàm Rồng — 1972: Nữ chiến sĩ nuôi quân Nguyễn Thị Thược (đã hy sinh), Nữ chiến sĩ nuôi quân Lê Thị Thao (đã hy sinh), Cấp dưỡng Lê Thị Mão và Bếp trưởng Trần Thị Mùi.”*
Bà Mão nín thở. Đôi mắt kèm nhem trừng lớn nhìn từng nét mực đen đang khắc sâu vào trang giấy cũ. Từng nét bút hạ xuống như một nhát cuốc xới tung mảnh đất cằn cỗi đã bị vùi dập để những hạt mầm công lý bị chôn giấu được hít thở khí trời.
Khi giọt mực cuối cùng vừa kịp se lại, An không dừng lại ở đó. Cô mở cuốn sổ tay ghi chép hành trình bìa da của mình, rút ra một tờ giấy can chuyên dụng trong suốt. Đặt tờ giấy can lên mặt bàn gỗ, An cặm cụi, tỉ mỉ chép lại nguyên vẹn toàn bộ công thức làm nem chua thính ngô lá đinh lăng: từ tỷ lệ thịt mông nạc và bì, cách rang thính ngô già lửa, cách nén yếm khí ba lớp lá chuối, cho đến toàn bộ câu chuyện lịch sử bi tráng về ba con lợn chết ngạt và sự hy sinh của cô Thược, cô Thao trong căn hầm số 4.
Phía dưới bản ghi chép, An ký tên mình thật trang trọng: *Hoài An — Người sao chép và hiệu chỉnh, ngày 14 tháng 4, tại chợ Nam Ngạn, Thanh Hóa*.
An gấp đôi tờ giấy can lại một cách trân trọng. Cô đứng dậy, bước vòng qua bục bệ xi măng, quỳ một gối xuống trước mặt người đàn bà già nua, hai tay nâng cao tờ giấy đưa ra trước ngực bà Mão:
— Bà ơi… Cháu xin thay mặt người bà quá cố của cháu, xin cúi đầu tạ tội trước linh hồn cô Thược, cô Thao, và xin tạ tội trước bà. Bà ngoại cháu đã sai lầm khi im lặng và độc chiếm ký ức này quá lâu. Sự im lặng ấy là một tội lỗi với lịch sử và với tình đồng đội. Cháu xin phép trao lại bản ghi chép hiệu chỉnh đầy đủ này cho bà, kính nhờ bà chuyển lại cho Ban liên lạc Hội Cựu chiến binh và Đội cựu Thanh niên xung phong Hàm Rồng. Tên tuổi và công lao của các cô ấy phải được ghi danh ở nơi trang trọng và tôn nghiêm nhất. Không một ai, không một thế lực nào có quyền xóa bỏ hay biến nó thành sở hữu riêng của mình nữa!
Bà Mão run rẩy đưa đôi bàn tay gầy gò đón lấy tờ giấy can mỏng manh. Những ngón tay khô ráp của bà lướt chầm chậm qua từng nét chữ mực đen còn phảng phất mùi thơm mới: tên của Thược, tên của Thao, tên của chính bà nằm kề bên tên của Mùi, bình đẳng và thanh thản như những ngày họ cùng chia nhau bát cháo loãng dưới làn bom đạn.
Đôi môi móm mém của bà cụ run rẩy bần bật. Những giọt nước mắt già nua không còn kìm nén được nữa, tuôn trào giàn giụa qua những rãnh nhăn nheo trên gương mặt xám ngoét, rơi lã chã xuống mặt giấy can trong suốt:
— Thược ơi… Thao ơi… Chúng mày có linh thiêng thì ngậm cười nơi chín suối… Sau năm mươi năm ròng rã… rốt cuộc cũng có đứa nó trả lại tên tuổi cho chúng mày rồi… Chúng mày không phải chết vô danh nữa rồi…
Bà Mão ôm chặt tờ giấy vào lòng, ép sát vào ngực áo bạt bạc màu như đang ôm lấy thi thể hình hài của hai người đồng đội mười chín, đôi mươi năm nào vừa trở về từ lòng đất lạnh. Tiếng khóc nghẹn ngào của bà cụ hòa cùng tiếng gió rít qua những thanh dầm thép cầu Hàm Rồng, nghe bi tráng và thanh thản khôn cùng.
Khang đứng dựa lưng vào cột điện xi măng cách đó vài bước chân, lặng lẽ quan sát toàn bộ sự việc. Chiếc giẻ lau dính đầy dầu luyn đen ngòm buông thõng trên tay anh. Ánh mắt Khang nhìn An không còn đơn thuần là sự đồng cảm của một người bạn đồng hành, mà ánh lên sự kính phục sâu sắc trước bản lĩnh, lòng dũng cảm và sự trung thực tuyệt đối của cô gái trẻ trước những góc tối đau đớn của gia đình mình.
Phải mất một hồi lâu sau, bà Mão mới gạt khô nước mắt. Bà cẩn thận gấp tờ giấy can làm tư, lấy chiếc kim băng rỉ sét cài sâu vào mặt trong của túi áo ngực, nơi gần trái tim mình nhất. Bà ngồi lại xuống bục xi măng, với chiếc ấm tích, rót đầy bát nước chè xanh sóng sánh màu hổ phách trao cho An:
— Uống đi cháu. Nước chè xứ Thanh chát đắng lúc đầu, nhưng nuốt qua cổ họng là ngọt lịm. Cháu làm được việc này, con Mùi dưới suối vàng chắc cũng mới trút bỏ được tảng đá ngàn cân đè nặng trên ngực mà thanh thản nhắm mắt. Nhưng… chặng đường phía trước của cháu không êm ả đâu. Nó còn dài lắm, chông gai và cay đắng gấp vạn lần đất này…
Bà Mão hạ thấp giọng, ánh mắt già nua thoáng hiện lên một vẻ u tối, lo âu:
— Thời chiến tranh khốc liệt, bom đạn trên đầu, cái đói trước mặt, con người ta vì miếng ăn, vì sự sống còn mà có lúc lầm lạc, giành giật nhau từng chút hư danh. Ở trạm giao thông hỏa tuyến miền Trung tiếp theo cháu đến, cháu sẽ còn gặp những chuyện đau xót và tàn nhẫn hơn thế này nhiều.
An ngẩng lên, linh tính mách bảo cô điều chẳng lành:
— Ý bà là sao ạ? Có phải… bà ngoại cháu còn che giấu điều gì ở chiến trường miền Trung không bà?
— Cứ đi đi, bước chân vào đến dải cát lửa Quảng Bình, tìm về ngã ba phà sông Gianh mà hỏi một người đàn ông tên là Bùi Văn Tấn, — Bà Mão thở dài, giọng trầm đục như tiếng vọng từ đáy giếng sâu — Lão Tấn ngày ấy là trạm trưởng trạm kho lương thực của tuyến vận tải hậu cần chi viện cho đường mòn Hồ Chí Minh. Lão ấy là người duy nhất nắm giữ sự thật đằng sau vụ nổ kho bếp dã chiến năm đó… và lão cũng là người hiểu rõ nhất vì sao bà ngoại cháu lại mang nặng một vết thương lòng không bao giờ liền sẹo, để rồi hóa điên hóa dại mà dứt áo bỏ chạy khỏi đoàn bếp tập thể.
An lặng người, rút cây bút máy nhanh chóng ghi lại cái tên *Bùi Văn Tấn — Bến phà sông Gianh, Quảng Bình* vào lề cuốn sổ tay.
Đúng lúc đó, chiếc điện thoại di động nằm sâu trong túi quần An bỗng rung lên từng hồi dồn dập. Cô giật mình rút máy ra xem. Màn hình hiện lên thông báo tin nhắn mã hóa gửi đến từ nhà báo Phạm Quỳnh Lam.
An bấm mở tin nhắn. Từng dòng chữ của Quỳnh Lam hiện lên gấp gáp, căng thẳng như một hồi chuông báo động đỏ:
*“An ơi, cảnh báo khẩn cấp! Đỗ Thành Vinh vừa chính thức nộp hồ sơ lên Cục Sở hữu Trí tuệ xin cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu và bằng độc quyền sáng chế đối với hàng loạt quy trình chế biến món ăn truyền thống, bao gồm cả 'Mèn mén vùng cao', 'Bánh phu thê Đình Bảng' và đặc biệt là 'Nem chua hầm dã chiến', dựa trên toàn bộ các bản báo cáo khảo sát sơ bộ mà em đã nộp về công ty trước đây! Hắn đang cấu kết với các quỹ đầu tư để biến toàn bộ tri thức ẩm thực dân gian bản địa thành tài sản thương mại độc quyền của tập đoàn Vị Việt! Chị và luật sư Tạ Gia Bảo đang rà soát hồ sơ pháp lý để đệ đơn khiếu nại ngăn chặn. Em tuyệt đối phải bảo vệ các bản ghi chép gốc có chữ ký xác thực của nhân chứng địa phương, không được để lọt bất kỳ tài liệu nào!”*
Các ngón tay An siết chặt lấy thân máy điện thoại. Lực bóp mạnh đến mức những khớp ngón tay cô trắng bệch ra, lồng ngực phập phồng vì một cơn phẫn nộ tột cùng dâng trào nghẹn ứ nơi cổ họng.
Bàn tay bẩn thỉu của chủ nghĩa cơ hội và lòng tham trơ tráo của những kẻ khoác áo doanh nhân văn hóa đang lăm le vươn ra, muốn biến mồ hôi, nước mắt, xương máu và ký ức sinh tồn của những người nữ nuôi quân vô danh dưới chân cầu Hàm Rồng thành một món hàng đóng gói thương mại để trục lợi kiếm chác! Sự lặp lại trớ trêu của lịch sử khiến cô rùng mình ghê sợ: năm mươi năm trước là sự độc chiếm danh phận của một cá nhân trong cơn bấn loạn thời chiến, còn ngày hôm nay là sự chiếm đoạt trắng trợn, có tổ chức, có mưu mô của một cỗ máy truyền thông kền kền thời bình.
An từ từ gập nắp chiếc hộp mun lại. Đôi bàn tay cô miết nhẹ lên hoa văn hai chiếc lá đan chéo quanh chữ Hậu khảm xà cừ trên nắp hộp. Vết xà cừ ánh lên những vệt sáng xanh biếc dưới ánh nắng trưa rực rỡ của đất Thanh Hóa. Giờ đây, chiếc hộp không còn là nơi cất giữ những công thức nấu ăn bí truyền của một gia đình danh giá nữa; nó đã trở thành một chứng tích lịch sử, một vũ khí của sự thật mà cô có trách nhiệm phải bảo vệ đến cùng.
Bà Mão nhấp thêm một ngụm chè đắng, đôi mắt già nua sâu thẳm nhìn thẳng vào mắt An, giọng bà đanh lại, vang lên như một lời răn dạy muôn đời:
— Bà ngoại cháu tài ba, nhưng không có những người gánh củi, gánh nước thì chẳng có bữa ăn nào thành hình được đâu.